ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT GIỮA KỲ MÔN LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM Họ và tên sinh viên MSSV Lớp Giảng viên PGS TS Nguyễn Minh Hương Hà Nội, 2022 NỘI DUNG Tính đến năm 2020, Việt Nam có khoảng 6,2 triệu NKT, chiếm 7 06% dân số từ 2 tuổi trở lên Là một trong những nhóm dễ bị tổn thương bởi tình trạng khuyết tật khiến họ dễ phải chịu nhiều thiệt thòi, do đó, Nhà nước Việt Nam luôn đảm bảo quyền của nhóm dễ bị.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
- -GIỮA KỲ MÔN LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT &
ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên:
MSSV:
Lớp:
Giảng viên: PGS.TS Nguyễn Minh Hương
Hà Nội, 2022
Trang 2NỘI DUNG
Tính đến năm 2020, Việt Nam có khoảng 6,2 triệu NKT, chiếm 7.06% dân số từ
2 tuổi trở lên Là một trong những nhóm dễ bị tổn thương bởi tình trạng khuyết tật khiến họ dễ phải chịu nhiều thiệt thòi, do đó, Nhà nước Việt Nam luôn đảm bảo quyền của nhóm dễ bị tổn thương này
Quyền của NKT được thể hiện trên nét chính:
Thứ nhất, NKT có tất cả các quyền như tất cả mọi người như quyền sống, quyền
được giáo dục, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền về lao động và việc làm, quyền bình đẳng trước pháp luật và được bảo vệ một cách bình đẳng …
Thứ hai, xuất phát từ những đặc điểm về thể chất, tâm lý, sức khỏe, pháp luật
quy định thêm những quyền đặc thù chỉ áp dụng riêng đối với NKT như quyền được hòa nhập và hỗ trợ để hòa nhập vào cộng đồng; Quyền được hỗ trợ trong việc
đi lại, Quyền được hỗ trợ để phục hồi chức năng)
Đảm bảo quyền của người khuyết tật
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được nhiều những thành công trong việc đảm bảo quyền của NKT như ký và phê chuẩn công ước quốc tế về người khuyết tật (CRPD), xây dựng và ban hành Luật người khuyết tật 2010, và các văn bản hướng dẫn, tiến hành nhiều đề án, chương trình hành động quốc gia, hội thảo,
… về NKT, xây dựng dữ liệu về NKT, …
Song bên cạnh đó, công tác đảm bảo quyền của người khuyết tật vẫn tồn tại nhiều những bất cập, điều này gây ảnh hưởng lớn đến quyền của NKT
Thứ nhất, bất cập về pháp luật và thực tiễn Như quyền tiếp cận thông tin của
NKT gặp nhiều khó khăn do chưa có nhiều nguồn tài liệu; hay quyền ứng cử bầu
cử của NKT do yêu cầu về năng lực và sức khỏe; …
Trang 3Việc gia nhập Công ước CRPD đánh dấu thành công lớn trong công tác đảm bảo quyền con người, song Việt Nam cũng cần nghiên cứu việc gia nhập Nghị định thư thứ nhất nhằm nâng cao hơn nữa việc đảm bảo quyền con người
Thứ hai, về nhận thức của xã hội đối với NKT Một bộ phận cán bộ và người dân
chưa có sự nhận thức đầy đủ và chính xác về NKT, coi NKT là gánh nặng cho xã hội mà chưa nhận thấy đóng góp của NKT với xã hội, coi công tác NKT thuộc về trách nhiệm của ngành LĐ-TB&XH, …
Thứ ba, về cơ sở vật chất-kỹ thuật hạ tầng và nguồn nhân lực Còn nhiều tỉnh,
thành phố chưa có trung tâm, trường chuyên biệt dành cho học sinh khuyết tật Hầu hết các trường phổ thông chưa bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy
và học cho học sinh khuyết tật tham gia giáo dục hòa nhập Phần lớn cán bộ quản
lý, giáo viên dạy học sinh khuyết tật chưa được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ chuyên môn về giáo dục hòa nhập đối với học sinh khuyết tật
Thứ tư, ngân sách nhà nước còn hạn chê, chưa có sự huy động được sức mạnh của xã hội trong việc thực hiện công tác NKT Nhà nước thực hiện nhiều
chính sách và nâng cao chất lượng NKT, tuy nhiên, nguồn lực hiện vẫn đang tập chung chủ yếu vào nguồn ngân sách nhà nước Chất lượng hỗ trợ còn hạn chế (hỗ trợ về tài chính), chưa nhận được nhiều sự đóng góp của doanh nghiệp, cộng đồng,
xã hội
Đặc biệt, trong những năm gần đây do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác NKT
Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác người khuyết tật tại Việt Nam
Trên cơ sở phát huy những thành công và hạn chế những thiếu xót trong những năm qua về công tác NKT, tác giả xin đề xuất một vài khuyến nghị nhằm nâng chất lượng NKT
Trang 4Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến quyền của người khuyết tật
Thứ hai, tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân
Thứ ba, tập trung phát triển kinh tế, đồng thời, huy động các nguồn hỗ trợ ngoài nhà nước nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng cuộc sống NKT
Thứ tư, tăng cường hoàn thiện các hệ thống cơ sở vật chất- kỹ thuật hạ tầng trong đào tạo và chăm sóc sức khỏe và đào tạo việc làm cho NKT
Trang 5Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới WHO, trên thế giới có tổng khoảng 650 triệu người khuyết tật, chiếm 10% dân số của nhân loại Người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày Đầu tiên, người khuyết tật cũng là con người, vì vậy họ được hưởng những lợi ích về quyền con người một cách bình đẳng mà không có sự phân biệt đối xử nào dựa trên cơ sở như tôn giáo, văn hóa, xã hội, giới tính, hoặc “tình trạng khác” Công ước về quyền của những người khuyết tật được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào tháng 3 năm 2007, đây được xem là điều ước quốc tế về quyền con người của Liên hợp quốc trong thế kỉ XXI, đánh dấu một bước ngoặt trong đấu tranh cho quyền con người của những người khuyết tật trên thế giới
Theo Điều 4 Luật người khuyết tật năm 2010 số 51/2010/QH12 có quy định về các quyền mà người khuyết tật được đảm bảo: (i) Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội; (ii) sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; (iii) được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; (iiii) Được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật; (iiiii) Các quyền khác theo quy định của pháp luật người khuyết tật thực hiện các nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật (các nghĩa vụ khác như công dân bình thường, được quy định ở tất cả các văn bản quy phạm pháp luật từ hiến pháp đến luật và các văn bản dưới luật: ví dụ nghĩa vụ bảo vệ môi trường, nghĩa vụ kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ, )
Trang 6Việt Nam hiện nay cũng đã và đang áp dụng những chương trình khuyến khích người khuyết tật Song, cũng có những mặt tối cần phải thay đổi để đảm bảo về quyền và lợi ích Ví dụ như anh Vương Văn Triều ở Xuân Giang, Sóc Sơn là một người khuyết tật bẩm sinh, anh cho biết đã tích cực tham gia đăng kí vào những chương trình lao động dành cho người khuyết tật nhưng để kiếm được việc làm nuôi bản thân và gia đình vẫn là rất khó khăn do những lời từ chối mang “lí do sức khỏe’
Vấn đề lớn nhất vẫn nằm ở tâm lý và cái nhìn của mọi người về người khuyết tật Nhà nước cần chủ động tạo nhiều môi trường học tâoj cho người khuyết tật, đào tạo học vấn, đào tạo nghề, Cần có cách truyền tải kiến thức một cách linh hoạt, phù hợp với tình trạng và khả năng của mỗi người Bên cạnh đó, cần phát triển thêm những chương trình văn hóa xã hội để thay đổi cái nhìn của người bình thường đối với những người mà họ cho là “đặc biệt” kia Nhà nước cần khôi phục lại cơ chế bắt buộc doanh nghiệp tiếp nhận người khuyết tật vào làm việc theo một tỉ lệ nhất định nào đó, nếu không nhận đủ thì doanh nghiệp phải đóng một khoản tương ướng và quỹ việc làm cho người khuyết tật
Trên đây là bài làm của em về một số quyền của người khuyết tật em xin cảm ơn cô đã dành thời gian đọc và đánh giá bài làm của em Bài làm vẫn còn nhiều thiếu sót, em mong nhận được lời góp ý từ cô để em có thể tiếp thu và hoàn thiện hơn trong các bài tập sau này Em xin cảm ơn !
Bài làm
- Theo điều 4 Luật người khuyết tật, người khuyết tật được bảo đảm thực hiện các quyền sau đây:
+ Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội
+ Sống độc lập, hòa nhập cộng đồng
Trang 7+ Được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội.
+ Được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật
và mức độ khuyết tật
+ Các quyền khác theo quy định của pháp luật người khuyết tật thực hiện các nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật (các nghĩa vụ khác như công dân bình thường, được quy định ở tất cả các văn bản quy phạm pháp luật từ hiến pháp đến luật và các văn bản dưới luật)
- Để đảm bảo quyền của người khuyết tật ở Việt Nam, Nhà nước cần:
+ Bố trí ngân sách để thực hiện chính sách về người khuyết tật; phòng ngừa, giảm thiểu khuyết tật bẩm sinh, khuyết tật do tai nạn thương tích, bệnh tật và nguy cơ khác dẫn đến khuyết tật
+ Bảo trợ xã hội, trợ giúp người khuyết tật trong chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dạy nghề, việc làm, văn hóa, thể thao, giải trí, tham gia giao thông…
+ Tạo điều kiện để người khuyết tật được chỉnh hình, phục hồi chức năng; khắc phục khó khăn, sống độc lập và hòa nhập cộng đồng, để tổ chức của họ, tổ chức vì
họ hoạt động có hiệu quả
+ Khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích, đóng góp trong việc trợ giúp người khuyết tật đồng thời xử lý nghiêm minh cơ quan, tổ chức, cá nhân nếu
có hành vi vi phạm Luật này và các luật liên quan
Trang 8Tính đến năm 2020, Việt Nam có khoảng 6,2 triệu NKT, chiếm 7.06% dân số từ 2 tuổi trở lên Là một trong những nhóm dễ bị tổn thương bởi tình trạng khuyết tật khiến họ dễ phải chịu nhiều thiệt thòi, do đó, Nhà nước Việt Nam luôn đảm bảo quyền của nhóm dễ bị tổn thương này
Quyền của NKT được thể hiện trên nét chính:
Thứ nhất, NKT có tất cả các quyền như tất cả mọi người như quyền sống, quyền được giáo dục, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền về lao động và việc làm, quyền bình đẳng trước pháp luật và được bảo vệ một cách bình đẳng …
Thứ hai, xuất phát từ những đặc điểm về thể chất, tâm lý, sức khỏe, pháp luật quy định thêm những quyền đặc thù chỉ áp dụng riêng đối với NKT như quyền được hòa nhập và hỗ trợ để hòa nhập vào cộng đồng; Quyền được hỗ trợ trong việc đi lại, Quyền được hỗ trợ để phục hồi chức năng)
• Đảm bảo quyền của người khuyết tật
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được nhiều những thành công trong việc đảm bảo quyền của NKT như ký và phê chuẩn công ước quốc tế về người khuyết tật (CRPD), xây dựng và ban hành Luật người khuyết tật 2010, và các văn bản hướng dẫn, tiến hành nhiều đề án, chương trình hành động quốc gia, hội thảo,
… về NKT, xây dựng dữ liệu về NKT, …
Song bên cạnh đó, công tác đảm bảo quyền của người khuyết tật vẫn tồn tại nhiều những bất cập, điều này gây ảnh hưởng lớn đến quyền của NKT
Thứ nhất, bất cập về pháp luật và thực tiễn Như quyền tiếp cận thông tin của NKT gặp nhiều khó khăn do chưa có nhiều nguồn tài liệu; hay quyền ứng cử bầu cử của NKT do yêu cầu về năng lực và sức khỏe; …
Việc gia nhập Công ước CRPD đánh dấu thành công lớn trong công tác đảm bảo quyền con người, song Việt Nam cũng cần nghiên cứu việc gia nhập Nghị định thư thứ nhất nhằm nâng cao hơn nữa việc đảm bảo quyền con người
Trang 9Thứ hai, về nhận thức của xã hội đối với NKT Một bộ phận cán bộ và người dân chưa có sự nhận thức đầy đủ và chính xác về NKT, coi NKT là gánh nặng cho xã hội mà chưa nhận thấy đóng góp của NKT với xã hội, coi công tác NKT thuộc về trách nhiệm của ngành LĐ-TB&XH, …
Thứ ba, về cơ sở vật chất-kỹ thuật hạ tầng và nguồn nhân lực Còn nhiều tỉnh, thành phố chưa có trung tâm, trường chuyên biệt dành cho học sinh khuyết tật Hầu hết các trường phổ thông chưa bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy
và học cho học sinh khuyết tật tham gia giáo dục hòa nhập Phần lớn cán bộ quản
lý, giáo viên dạy học sinh khuyết tật chưa được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ chuyên môn về giáo dục hòa nhập đối với học sinh khuyết tật Thứ tư, ngân sách nhà nước còn hạn chê, chưa có sự huy động được sức mạnh của
xã hội trong việc thực hiện công tác NKT Nhà nước thực hiện nhiều chính sách và nâng cao chất lượng NKT, tuy nhiên, nguồn lực hiện vẫn đang tập chung chủ yếu vào nguồn ngân sách nhà nước Chất lượng hỗ trợ còn hạn chế (hỗ trợ về tài chính), chưa nhận được nhiều sự đóng góp của doanh nghiệp, cộng đồng, xã hội Đặc biệt, trong những năm gần đây do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác NKT
• Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác người khuyết tật tại Việt Nam
Trên cơ sở phát huy những thành công và hạn chế những thiếu xót trong những năm qua về công tác NKT, tác giả xin đề xuất một vài khuyến nghị nhằm nâng chất lượng NKT
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến quyền của người khuyết tật
Thứ hai, tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân
Trang 10Thứ ba, tập trung phát triển kinh tế, đồng thời, huy động các nguồn hỗ trợ ngoài nhà nước nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng cuộc sống NKT
Thứ tư, tăng cường hoàn thiện các hệ thống cơ sở vật chất- kỹ thuật hạ tầng trong đào tạo và chăm sóc sức khỏe và đào tạo việc làm cho NKT
Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới WHO, trên thế giới có tổng khoảng 650 triệu người khuyết tật, chiếm 10% dân số của nhân loại Người khuyết tật là người
có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày Đầu tiên, người khuyết tật cũng là con người, vì vậy họ được hưởng những lợi ích về quyền con người một cách bình đẳng mà không có sự phân biệt đối xử nào dựa trên cơ sở như tôn giáo, văn hóa, xã hội, giới tính, hoặc “tình trạng khác” Công ước về quyền của những người khuyết tật được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào tháng 3 năm 2007, đây được xem là điều ước quốc tế về quyền con người của Liên hợp quốc trong thế kỉ XXI, đánh dấu một bước ngoặt trong đấu tranh cho quyền con người của những người khuyết tật trên thế giới
Theo Điều 4 Luật người khuyết tật năm 2010 số 51/2010/QH12 có quy định về các quyền mà người khuyết tật được đảm bảo: (i) Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội; (ii) sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; (iii) được miễn hoặc giảm một
số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; (iiii) Được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật; (iiiii) Các quyền khác theo quy định của pháp luật người khuyết tật thực hiện các nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật (các nghĩa vụ khác như công dân bình thường, được quy định ở tất cả các văn bản quy phạm pháp luật từ hiến pháp đến
Trang 11luật và các văn bản dưới luật: ví dụ nghĩa vụ bảo vệ môi trường, nghĩa vụ kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ, )
Việt Nam hiện nay cũng đã và đang áp dụng những chương trình khuyến khích người khuyết tật Song, cũng có những mặt tối cần phải thay đổi để đảm bảo về quyền và lợi ích Ví dụ như anh Vương Văn Triều ở Xuân Giang, Sóc Sơn là một người khuyết tật bẩm sinh, anh cho biết đã tích cực tham gia đăng kí vào những chương trình lao động dành cho người khuyết tật nhưng để kiếm được việc làm nuôi bản thân và gia đình vẫn là rất khó khăn do những lời từ chối mang “lí do sức khỏe’
Vấn đề lớn nhất vẫn nằm ở tâm lý và cái nhìn của mọi người về người khuyết tật Nhà nước cần chủ động tạo nhiều môi trường học tâoj cho người khuyết tật, đào tạo học vấn, đào tạo nghề, Cần có cách truyền tải kiến thức một cách linh hoạt, phù hợp với tình trạng và khả năng của mỗi người Bên cạnh đó, cần phát triển thêm những chương trình văn hóa xã hội để thay đổi cái nhìn của người bình thường đối với những người mà họ cho là “đặc biệt” kia Nhà nước cần khôi phục lại cơ chế bắt buộc doanh nghiệp tiếp nhận người khuyết tật vào làm việc theo một
tỉ lệ nhất định nào đó, nếu không nhận đủ thì doanh nghiệp phải đóng một khoản tương ướng và quỹ việc làm cho người khuyết tật
Trên đây là bài làm của em về một số quyền của người khuyết tật em xin cảm ơn
cô đã dành thời gian đọc và đánh giá bài làm của em Bài làm vẫn còn nhiều thiếu sót, em mong nhận được lời góp ý từ cô để em có thể tiếp thu và hoàn thiện hơn trong các bài tập sau này Em xin cảm ơn !
Bài làm
- Theo điều 4 Luật người khuyết tật, người khuyết tật được bảo đảm thực hiện các quyền sau đây:
+ Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội