Ông truyền lệnh đoàn người dừng lại chờ ông đi cùng, với hy vọng trước mặt mọi người ông sẽ dùng lý luận của mình bẻ gãy lý luận của Phật giáo, buộc tôn giả Kumāra Kassapa và mọi người c
Trang 1GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐẠI CƯƠNG - KHÓA 15 (2020-2024)
Pháp danh: THÍCH BỔN PHÁP Thế danh: VÕ NGỌC DƯ MSSV: 2050000022
PHÊ BÌNH QUAN ĐIỂM CARVAKA TRONG KINH PAYASI (D 23)
Tiểu Luận Giữa Kì IV Môn: DẪN NHẬP TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ
Thành phố Hồ Chí Minh, 04-2022
Trang 2GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐẠI CƯƠNG - KHÓA 15 (2020-2024)
Pháp danh: THÍCH BỔN PHÁP Thế danh: VÕ NGỌC DƯ MSSV: 2050000022
PHÊ BÌNH QUAN ĐIỂM CARVAKA TRONG KINH PAYASI (D 23)
Tiểu Luận Giữa Kì I Môn: DẪN NHẬP TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ
GVHD: NS.TS.TN HUYỀN TÂM
Thành phố Hồ Chí Minh, 04-2022
2
Trang 3ĐIỂM NHẬN XÉT CỦA GIÁO THỌ
….………
…….………
……….………
………….………
……….………
……….………
……….………
…….………
…….………
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG 3 PHÊ BÌNH QUAN ĐIỂM DUY VẬT CỦA CĀRVĀKA THEO
4
Trang 5PHẦN A DẪN NHẬP
Ấn Độ vào khoảng hơn 2.500 năm trước là thời điểm phát triển đỉnh cao về triết học Nhiều trường phái triết học phát triển trên nền tảng kinh Veda như phái Số Luận (Sāṃkhya), Du Già Luận (Yoga), Chánh Lý Luận (Nyāya), Thắng Luận Phái (Vaiśeṣika) Tiền Di Mạn Sai (Pūrva Mīmāṃsā), Phệ Đàn Đa (Vedānta) Nhưng cũng có những trường phái không chấp nhận thẩm quyền của kinh điển Veda, không chấp nhận có Đấng Sáng Thế, trong đó nổi bật là Thuận Thế Phái (hay còn gọi là Duy Vật Khoái Lạc – Cārvāka), Kỳ Na Giáo (Jaina) và Phật Giáo
Phái chủ nghĩa Duy vật Ấn Độ dường như xuất hiện từ xa xưa Các dấu tích của trường phái này được tìm thấy trong các Sử thi và kinh sách Phật giáo Nó không mảy may tin một chút gì về tâm linh hay nhân quả Con người chỉ là sự cấu tạo của vật chất, nên chết là hết Tuy là trường phái chủ trương về duy vật, một phạm trù của vật chất, cách hưởng thụ niềm vui của tinh thần và xác thịt, cũng như cổ xưa như bản thân của nhân loại và hiển nhiên tồn tại với nhân loại, nhưng Chủ nghĩa duy vật là một thứ siêu hình học chưa bao giờ gợi cảm hứng cho các nhà triết gia Ấn Độ Kỳ na giáo và Phật giáo xuất hiện đã ngay lập tức đưa ra nền tảng đạo lý và tinh thần để bác bỏ chủ nghĩa duy vật Quan điểm này được thể hiện rõ qua bài kinh Pāyāsi (kinh Tệ-túc) thuộc Trường
Bộ Kinh (D 23) Tại sao đức Phật bác bỏ quan điểm nhận thức của Cārvāka? Phật giáo
đã phê phán quan điểm của Cārvāka như thế nào? Cũng chính vì lý do này mà người viết
chọn đề tài: “PHÊ BÌNH QUAN ĐIỂM CARVAKA TRONG KINH PAYASI (D 23)”
để mà nghiên cứu
Kết cấu của đề tài, bài tiểu luận được chia làm ba phần chính bao gồm Dẫn Nhập, Nội Dung và Kết Luận Phần Nội Dung chia làm ba chương như sau:
Chương 1 Tóm tắt kinh pāyāsi
Chương 2 Quan điểm duy vật của cārvāka
Chương 3 Phê bình quan điểm duy vật của cārvāka theo pāyāsi
Trang 6PHẦN B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TÓM TẮT KINH PĀYĀSI
Bài kinh là cuộc đối thoại giữa tôn giả Kumāra Kassapa (Cưu-ma-la Ca-diếp) và vương tử Pāyāsi tại rừng Simsapā (Thi-xá-bà) phía Bắc thành Setavyā (Tư-ba-ê), một đô thị của nước Kosala
Vương tử Pāyāsi là một người theo tư tưởng vật Ông quan niệm rằng:
“itipi natthi paro loko, natthi sattā opapātikā, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ p halaṁ vipāko”ti 1 “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo” Lần đó thấy các vị Bà-la-môn, trưởng giả ở trong địa phân ông quản
lý lũ lượt ra khỏi thành vào rừng Simsapā để viếng thăm tôn giả Kumāra Kassapa và năm trăm vị Tỷ-kheo vừa mới du hành đến Ông cảm thấy khó chịu vì những Bà-la-môn, gia chủ ở trong tịnh ấp của ông tin vào giáo lý của Phật Ông truyền lệnh đoàn người dừng lại chờ ông đi cùng, với hy vọng trước mặt mọi người ông sẽ dùng lý luận của mình bẻ gãy
lý luận của Phật giáo, buộc tôn giả Kumāra Kassapa và mọi người có mặt phải tin luận thuyết của mình
Vua Pāyāsi nêu chủ trương rằng: “Không có đời sau, không có các loài hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo” Ông có mười bốn lấn khẳng định quan điểm lập trường của mình bằng các ví dụ minh họa xảy ra trong cuộc sống Tuy nhiên những ví dụ ông đưa ra đều bị tôn giả Kumāra Kassapa đánh bại bằng mười bốn ví dụ vô cùng thuyết phục
Đầu tiên, tôn giả Kumāra Kassapa đặt câu hỏi mặt trời và mặt trăng thuộc thế giới này hay thế giới khác Ông chấp nhận chúng thuộc thế giới khác, nhưng không chấp nhận có tái sinh hay nhân quả nghiệp báo Tôn giả Kumāra Kassapa bảo ông đưa ra ví dụ Ông đưa ra ví dụ rằng bạn ông có những người làm các bất thiện pháp và chết; trước khi những người bạn đó chết, ông đến thăm và bảo họ sau khi sanh vào đọa xứ hãy đến tin cho ông biết; khi đó, ông sẽ tin có luân hồi, nhân quả nghiệp báo; nhưng không ai đến báo cho ông biết; như vậy ông kết luận không có luân hồi, không có nhân quả nghiệp báo Để bác bỏ tà thuyết này, tôn giả Kumāra Kassapa đưa ra ví dụ như người ăn trộm trước khi bị xử tử hình xin về nhà thăm bà con quyến thuộc là điều không thể được
1 https://suttacentral.net/dn23/en/sujato?layout=sidebyside&reference=none¬es=none&highlight=true&script=lat
in Truy cập ngày: 13-4-2022.
2
Trang 7Cũng tương tự ví dụ trên, tiếp theo, vua Pāyāsi nói rằng những người giữ giới, làm các thiện pháp cũng không ai về báo với ông là người đó đã sanh về thiên giới Để phá vỡ lý luận này, tôn giả Kumāra ví dụ như người bị té vào hầm phân, được đưa ra và tắm gội sạch sẽ, cho ở lâu đài và hưởng năm món dục thì sẽ không bao giờ muốn trở lại hầm phân nữa
Vua Pāyāsi tiếp theo lại lặp lại ví dụ trên, những người có giới đức sau khi chết không ai về báo cho ông biết chỗ thác sanh Ngài Kumāra Kassapa giải thích về tuổi thọ của chư Thiên Tam Thập Tam: một trăm năm ở nhân gian bằng một ngày một đêm ở cõi Trời 33 Sau khi nghỉ ngơi một hai ngày, xuống thăm bạn cũ thì đã chẳng còn ai nữa
Vua Pāyāsi lần này dùng lý luận của tôn giả Kumāra để phản công Ông hỏi vặn lại làm sao Ngài biết có chư Thiên ở cõi Tam Thập Tam, làm sao biết tuổi thọ ở cõi đó như vậy Ngài Kumāra đưa ra ví dụ như có người mù bẩm sinh không thể thấy được trăng sao hay cảnh vật mà bảo rằng những vật đó không tồn tại là không đúng Ngài giải thích thêm rằng đời sau phải được nhìn thấy bằng thiên nhãn thanh tịnh nhờ công phu tu hành, chứ không thể thấy bằng mắt trần
Lần này, vua Pāyāsi phản công trực tiếp vào Tăng đoàn Ông lý luận rằng có những Sa-môn, Bà-la-môn được dạy rằng nếu họ trì giới nghiêm mật, làm các thiện pháp thì sau khi chết sẽ được quả báo tốt đẹp hơn Nhưng họ lại tham sống, sợ chết, không dám tự sát để kiếp sau được cuộc sống an lạc hơn Điều này chứng tỏ ngay bản thân họ cũng không tin chắc rằng có kiếp sau Để bác bỏ luận điệu sai trái này, tôn giả Kumāra đưa ra ví dụ người phụ nữ đang mang thai, vì muốn biết cái thai là con trai hay con gái nên đã tự mổ bụng mình, như vậy đã hại chết con và bản thân Không thể tìm đời sau một cách vô trí như vậy
Lần thứ bảy, thứ tám, thứ chín, thứ 10, vua Pāyāsi đưa ra những ví dụ ông chứng kiến những người từ sống chuyển sang chết để tìm linh hồn nhưng không thấy Tôn giả Kumāru Kassapa lại năm lần bảy lượt đưa ra những ví dụ để cho thấy đó là những cách
ấu trĩ ngây thơ để tìm linh hồn Ngài khuyên vua nên từ bỏ ác tà kiến ấy, nhưng vua không từ bỏ vì sợ những người duy vật khác chê cười Tôn giả Kumāra lại tiếp tục đưa ra
ví dụ về sự nguy hiểm của việc chấp chặt tà kiến: nghe theo người hướng dẫn sai lầm để rồi phải bỏ mạng trên sa mạc, hoặc như người lượm phân khô đem về nhà nhưng giữa đường bị mưa ướt lấm lem cả người Nhưng vua vẫn khăng khăng chấp tà kiến của mình
vì sợ bị chê cười Tôn giả Kumāra lại ví ông như người đàn ông ngu si, đi tìm của cải
Trang 8nhưng cứ ôm khư khư cái túi gai đã nhặt ban đầu không chịu bỏ xuống để nhặt những thứ đắt giá hơn mang về cho vợ con Đến đây thì vua hoàn toàn bị thuyết phục và xin quy y Tam Bảo
CHƯƠNG 2 QUAN ĐIỂM DUY VẬT CỦA CĀRVĀKA
2.1 VẤN ĐỀ NHẬN THỨC LUẬN CỦA CĀRVĀKA
Học thuyết nhận thức của trường phái Cārvāka cho rằng nhận thức (pratyaksa) chỉ là phương tiện của tri thức bền vững Giá trị của suy luận bị bác bỏ Suy luận có thể xem chỉ là hành động mạo hiểm liều lĩnh
2.2 VẤN ĐỀ SIÊU HÌNH HỌC CỦA CĀRVĀKA
Chủ nghĩa Duy vật chỉ chấp nhận cái biết qua giác quan Họ cho rằng những gì thấy được, nghe được, cảm nhận được bằng các giác quan mới tồn tại Những giáo lý chủ trương có linh hồn, nghiệp báo, nhân quả, luân hồi đều là tà thuyết, mị dân, lừa bịp quần chúng để trục lợi Suy luận đối với họ là không chắc chắn, vì họ nghi ngờ cả tiền đề.2
Những nhà triết gia Cārvāka chỉ cấp nhận sự tồn tại của bốn thành tố: đất, nước, lửa và không khí Họ bác bỏ thành tố thứ năm: ether, bởi nó không thể nhận thức được
mà chỉ do suy luận Tương tự vậy họ cũng bác bỏ sự tồn tại của linh hồn, Thượng đế và kiếp sau Trong kinh Pāyāsi diễn tả vua Pāyāsi đã làm nhiều cách khác nhau để quan sát một người từ lúc sống đến lúc chết, nhưng không thể thấy được linh hồn thoát xác Vì vậy, vua kết luận không có linh hồn trong cơ thể con người Chết là hết
Vì cho rằng chết là sự chấm dứt mãi mãi một kiếp sống, nên họ không tin có nhân quả nghiệp báo luân hồi Vua Pāyāsi cũng đã thử nghiệm trước khi đưa ra chủ thuyết của mình Ông yêu cầu những người tốt, người xấu mà quen biết với ông lúc họ sắp chết rằng nếu có tái sinh, hãy về báo cho ông hay Nhưng không một ai về báo, vì thế ông quả quyết rằng không hề có nghiệp báo luân hồi
2.3 VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC CỦA CĀRVĀKA
Những người theo triết lý của Cārvāka xem khoái lạc, nhục dục là đỉnh cao của cuộc sống Hãy cứ ăn, uống và vui vẻ, bởi vì một khi thân xác biến thành tro bụi, sẽ không có hy vọng để trở lại đây nữa Không có thế giới bên kia, không có chuyện linh hồn tồn tại sau khi chết
2 An Introduction to Indian Philosophy, p.65-66.
4
Trang 9Đạo đức theo Cārvāka là chủ nghĩa khoái lạc cá nhân thô thiển, khoái lạc trong cuộc sống, đồng thời là mục đích duy nhất của cá nhân Trong bốn giá trị nhân bản: Dharma, Artha, Kāma và Moksa, chỉ có Kāma hay khoái cảm được xem là mục đích cuối cùng Artha hay giàu có là phương tiện để thục hiện mục đích trên Trong khi đó, cả Dharma và Moksa đều bị phủ nhận
Đối với vấn đề thoát khổ, Thuận Thế Phái cho rằng không thể có sự thoát khổ hoàn toàn, vì vậy hãy hưởng thụ vui chơi cho thỏa thích Cārvāka phê phán gay gắt lối tu khổ hạnh để trả nghiệp và đạt được tâm thanh khiết của đạo Jain Chính vì những quan điểm đi ngược lại hoàn toàn kinh Veda và đạo đức xã hội đương thời, Cārvāka được xếp vào loại “phi chánh thống”, là “tà đạo”
CHƯƠNG 3 PHÊ BÌNH QUAN ĐIỂM DUY VẬT CỦA CĀRVĀKA THEO PĀYĀSI
Có thể nói cuộc tranh luận giữa vua Pāyāsi và tôn giả Kumāra Kassapa là một cuộc đối thoại không cân sức giữa một bên là tà kiến và một bên chánh kiến, giữa sai lầm
và chân lý Vua Pāyāsi nói lên quan kiến của mình như sau: “Tôn giả Kassapa, tôi có thủ
thuyết và tri kiến như sau: ‘Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện
ác không có quả báo’” Còn tôn giả Kumāra Kassapa thì khẳng định “có đời sau, tin có loài hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo” Vào đầu cuộc đối thoại, tôn giả Kumāra
Kassapa đã đưa ra một câu hỏi đánh vào yếu điểm của đối phương nhằm hạ đo ván đối
thủ ngay hiệp đầu tiên Câu hỏi đó là “Mặt trăng và mặt trời thuộc thế giới này hay thế
giới khác” Câu hỏi này buộc vua Pāyāsi phải trả lời chúng thuộc thế giới khác, tức là
buộc vua gián tiếp thừa nhận có chúng sanh ở đó dù không thể thấy được họ bằng mắt trần Tức là vua Pāyāsi đã bị hạ đo ván ngay trong câu hỏi đầu tiên Nhưng vua vẫn cố gượng dùng những lí lẽ để bảo vệ lập trường của mình Từ đây bắt đầu một cuộc đối thoại thú vị và những ví dụ của tôn giả Kumāra Kassapa càng làm rõ hơn tính chất sai lầm trong luận thuyết của Cārvāka
Trước tiên, Thuận Thế Phái, mà đại diện là vua Pāyāsi ở trong kinh này, cho rằng không hề có kiếp sau, không có địa ngục, không có thiên đường Cho nên làm các ác pháp không bị đọa địa ngục, làm các thiện pháp không được sanh lên thiên đường Để minh chứng cho luận thuyết này, vua đưa ra các ví dụ những người xấu mà vua quen biết khi chết không có ai về báo cho ông biết chỗ thác sanh, những người tốt mà vua quen biết
Trang 10khi chết cũng không có người nào trở về báo tin cho ông chỗ tái sinh Tà thuyết này có quá nhiều sơ hở và tôn giả Kumāra đã khai thị cho vua bằng các ví dụ vô cùng thuyết phục: làm sao một người bị xử trảm lại có thể được về nhà thăm người thân để dụ cho người bị đọa ba đường ác không thể nào tiếp xúc được với người thế gian; làm sao một người đã ra khỏi hầm phân hôi thối dơ bẩn lại muốn quay trở lại hầm phân để dụ cho người đã lên cõi Trời thù thắng thì không muốn trở lại nhân gian dơ bẩn; và tuổi thọ của
cư dân cõi Trời dài hơn nhiều so với nhân gian, khi họ muốn nghỉ ngơi vài ba ngày ở Thiên Đàng rồi xuống thăm lại người thân thì ở thế gian đã trải qua vài ba trăm năm nên không thể gặp nhau được
Quan điểm “không có kiếp sau” là hoàn toàn sai lầm Nếu một người có trí, người ta sẽ đặt câu hỏi: Tại sao con người lại khác nhau nhiều đến như vậy? Nhất là trong
xã hội phân biệt giai cấp quá rạch ròi như Ấn Độ Tại sao lại có người sang, kẻ hèn, người giàu, kẻ nghèo, người đẹp, kẻ xấu, người thông minh, kẻ tối dạ ? Nó phải có một nguyên nhân, cũng giống như bất cứ vật gì trên thế gian này cũng đều có nguyên nhân Chẳng hạn nguyên nhân của việc học giỏi là chăm học, nguyên nhân của việc không hạnh phúc là do làm tổn thương người khác, nguyên nhân của giàu có là chăm làm và tiết kiệm, nguyên nhân của cây xoài là hột xoài cùng các điều kiện cần thiết, Đó là những
sự việc ta có thể nhìn thấy dễ dàng Tuy nhiên, tại sao có những người sinh ra đã giàu có, tướng mạo khả ái, giai cấp cao sang? Tại sao có những người cố gắng học nhưng không thể nhớ được dữ liệu như người khác dù khỏe mạnh từ nhỏ, bố mẹ thông minh? Vậy thì phải có một nguyên nhân trước khi người đó có mặt trên thế gian Tức là phải có những hành động trước kiếp này để định hình nên kiếp sống hiện tại Điều đó có nghĩa là phải
có kiếp sống quá khứ Ở phương Tây, người ta đã dùng đến thuật thôi miên để khiến cho người trị liệu nhớ về kiếp quá khứ gần nhất, và các dữ liệu thu thập được xác minh là đúng, và nhờ đó phá được nhiều vụ án giết người mà khoa học không thể giúp ích Và những hành động của kiếp này lại làm nguyên nhân định hình cho kiếp sống tương lai Cho nên, dù ta chưa có Thiên Nhãn Thông, nhưng bằng sự suy luận hợp lý, ta vẫn biết rằng kiếp sau là một điều chắc chắn cho đến khi nào ta chưa đạt tâm giải thoát và tuệ giải thoát
Quan điểm không có địa ngục, không có thiên đường cũng là vô lý Vũ trụ này là một vũ trụ công bằng, vận hành bằng luật nhân quả bù trừ Người ta hưởng những gì
6
Trang 11xứng đáng với hành động và tâm của họ Ví dụ như ở thế gian, một người phạm pháp tùy mức độ nặng nhẹ sẽ bị xử lý theo luật thế gian, hoặc là bồi thường thiệt hại hoặc là ở tù, hoặc là tử hình Nhưng nếu một người vi phạm tội quá nghiêm trọng, giết quá nhiều người, hoặc giết người có ân lớn với cuộc đời, thì một cái mạng của người đó không thể
bù lại hành động của họ Vậy phải có một chỗ để cho họ trả nghiệp cho tương xứng, tức
là địa ngục, để họ phải bị hành hạ chết đi sống lại trăm nghìn vạn kiếp Tương tự đối với một người làm thiện nghiệp Nếu vật chất thế gian không thể tương xứng với công sức của họ bỏ ra, thì phải có một cõi tốt đẹp hơn tương ứng để họ sinh vào và hưởng thành quả của mình, đó là các cõi trời Một người làm thập thiện nghiệp sẽ được sinh vào cõi Trời thuộc Dục Giới Nhưng một người hành thiện và tu thiền định, ly dục thì sinh vào cõi trời Sắc Giới, cao hơn là cõi trời Vô Sắc Giới Vì tâm họ đã ly dục, nên không tương ứng với cõi Trời Dục Giới Nếu họ không còn chấp thủ điều gì nữa, họ sẽ vượt ra ngoài
ba cõi, an trú Niết Bàn, không còn tái sinh nữa Cũng ví như ở thế gian, những người có khả năng tài chính, sở thích và cá tính giống nhau thường tụ hội với nhau Một người không có thói quen nói tục chửi thề sẽ không thể sống ở khu có nhiều người nói tục chửi thề Một người cao sang giàu có không sống được trong khu ổ chuột bẩn thỉu
Niềm tin không có kiếp sau, không có địa ngục, không có thiên đường là một tà kiến hết sức nguy hiểm Nếu một người không tin có địa ngục, không sợ nhân quả, họ sẽ không ngại làm điều xấu ác đối với súc sinh, người thân, bạn bè, đồng nghiệp, đối với đất nước khác, gây oan trái đau khổ cho tha nhân, làm rối loạn trật tự xã hội Nếu không tin
có thiên đường, người ta sẽ không tích cực giúp đỡ tha nhân, người ta ngó lơ trước sự đau khổ của kẻ khác, xã hội sẽ không có sự tương thân tương ái, cuộc sống sẽ kém ý nghĩa, thế giới loài người sẽ không thể tiến bộ Nếu một thế giới mà tất cả mọi người trong đó đều sống vì sự lợi ích của bản thân bất chấp sự đau khổ của kẻ khác, luôn đấu tranh giành giật chém giết đẫm máu, thế giới sẽ sớm đi vào bờ diệt vong Đó là chưa kể những quả báo xấu người ta phải gánh chịu trong những kiếp sau trong vòng luân hồi
Quan điểm không có kiếp sau, chết là hết, thiện ác không có quả báo này không phải ngày xưa mới có, mà ngày nay cũng rất phổ biến Nó phổ biến trong những người theo chủ nghĩa vô thần, chạy theo vật chất, tôn sùng khoa học trên khắp thế giới Đó có thể là những người xung quanh chúng ta Do không tin thiện ác có quả báo và chạy theo việc hưởng thụ dục lạc vật chất nên cái xấu ác đang ngày càng lan tràn, chiêu cảm ngày