Để giải quyết những vấn đề đó, ngoài việc ápdụng khung pháp lý của Bộ luật dân sự 2015 thì những điều khoản, những thỏa thuậnkèm theo trong hợp đồng là điều không thể thiếu trong một hợp
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CÁN BỘ
BÀI THU HOẠCH HỌC PHẦN 2
Tên đề tài:
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN
ANH/CHỊ HÃY XÂY DỰNG QUY TRÌNH CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN LÀ ĐỘNG SẢN
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Trong đời sống xã hội, hợp đồng là một hình thức thiết lập quan hệ; là một sựthỏa thuận, sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể, nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặcchấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của hợp đồng đãchứng minh đó là một hình thức pháp lý thích hợp và hiệu quả trong việc đảm bảo sựvận động của nền kinh tế Vì thế, việc điều chỉnh quan hệ hợp đồng bằng pháp luậtngày càng được coi trọng
Hợp đồng mua bán tài sản (HĐMBTS) được biết đến là loại hợp đồng thôngdụng nhất, phổ biến nhất và có số lượng giao dịch nhiều nhất khi các chủ thể tham giavào lĩnh vực này Hợp đồng mua bán tài sản nhằm đáp ứng các điều kiện về vật chất,tinh thần cho các chủ thể, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển Tuy nhiên, trongquá trình thực hiện, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, một số chủ thểtham gia quan hệ mua bán lại không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng những quyđịnh của pháp luật về hợp đồng mua bán tài sản dẫn đến nhiều tranh chấp xảy ra Bêncạnh đó, các quy định của pháp luật về vấn đề trên còn nhiều bất cập, việc vận dụngcủa các cơ quan có thẩm quyền còn chưa thống nhất dẫn đến hợp đồng mua bán tài sảnkhông được thực hiện đúng quy định Để giải quyết những vấn đề đó, ngoài việc ápdụng khung pháp lý của Bộ luật dân sự 2015 thì những điều khoản, những thỏa thuậnkèm theo trong hợp đồng là điều không thể thiếu trong một hợp đồng mua bán tài sản
Xuất phát từ yêu cầu đó, tôi chọn đề tài: “Quy định của pháp luật về Hợp đồng
mua bán tài sản” để nghiên cứu và làm chuyên đề tốt nghiệp cho mình với mong
muốn được tìm hiểu sâu hơn và để tích lũy thêm nhiều kiến thức, kinh nghiệm cho bảnthân và cho công việc sau này
Trang 4CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN
Trong chương này, người viết sẽ trình bày và làm rõ một số khái niệm có liênquan đến hợp đồng mua bán tài sản, đặc điểm pháp lý của hợp đồng mua bán tài sảncũng như ý nghĩa của hợp đồng mua bán tài sản
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Khái niệm tài sản
Tài sản được coi là một điều kiện vật chất để duy trì các hoạt động trong lĩnhvực kinh tế và đời sống xã hội Khái niệm về tài sản có nhiều cách hiểu, về cơ bản cóthể hiểu khái niệm tài sản theo hai cách: Theo ngôn ngữ thông dụng hàng ngày và theophương diện pháp lý
Theo ngôn ngữ thông dụng hằng ngày: Tài sản là một vật cụ thể được con người
sử dụng và nhận biết bằng các giác quan
Theo phương diện pháp lý: Tài sản là của cải được con người sử dụng Theo
nghĩa này thì tài sản luôn biến đổi và hoàn thiện cùng với sự phát triển của xã hội và sựnhận thức của con người về tài sản ở mỗi thời kỳ cũng khác nhau
Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 thì:
“Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”
1.1.2 Khái niệm hợp đồng
Trong cuộc sống hàng ngày, để thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của mình, conngười phải tham gia vào các giao dịch dân sự Việc bày tỏ ý chí và thống nhất ý chí củacác bên được gọi là hợp đồng Hợp đồng là kết quả của sự gặp gỡ ý chí, bình đẳng,thỏa thuận, tự nguyện ký kết và ràng buộc nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết Hợpđồng là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự, đồng thời, hợpđồng cũng là cơ sở pháp lý quan trọng đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ
thể trong xã hội “Hợp đồng là một trong những chế định quan trọng, có tần suất áp
dụng rất cao trên thực tế và có khả năng ảnh hưởng đến sự vận hành của phần lớn các giao dịch dân sự” 1
Điều 385 Bộ luật dân sự năm 2015 đưa ra khái niệm về hợp đồng dân sự: “Hợp
đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Trang 5Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận của các bên: Hợp đồng dân sự là một giao
dịch có thể có nhiều chủ thể cùng tham gia thương lượng, bàn bạc và thống nhất ý chítạo nên giá trị ràng buộc các bên Trong hợp đồng dân sự yếu tố thỏa thuận là yếu tố cơbản là cơ sở nền tảng tạo nên hợp đồng Khi giao kết hợp đồng các bên phải tham giabàn bạc, trao đổi để đi đến sự thống nhất chung về sự chấp nhận giao kết hợp đồngthông qua những nội dung cụ thể của hợp đồng và mục đích giao kết phải rõ ràng Cácbên tham gia giao kết hợp đồng có quyền tự do, bình đẳng, thỏa thuận những nội dungcủa hợp đồng Tuy nhiên, sự tự do, thỏa thuận phải tuân thủ những nguyên tắc chung
về giao kết hợp đồng, nội dung và mục đích thỏa thuận không vi phạm điều cấm củapháp luật và không trái đạo đức xã hội
Nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng: Hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý và có
giá trị ràng buộc đối với các bên tham gia giao kết hợp đồng, hợp đồng cũng là căn cứlàm xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ ấy Tuy nhiên, không phải sựthỏa thuận nào cũng làm phát sinh giá trị pháp lý trong hợp đồng Một sự thỏa thuậntrong xã hội, một thỏa thuận mang tính chất xã giao, mang tính chất là một lời hứakhông thể coi là hợp đồng vì nó không làm phát sinh giá trị ràng buộc trách nhiệmpháp lý giữa các bên
1.1.3 Khái niệm về hợp đồng mua bán tài sản
Việc mua bán trong xã hội ngày nay được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Muabán là một quan hệ pháp luật mà khi tham gia vào quan hệ này sẽ làm thay đổi, chấmdứt và phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa người mua và người bán tài sản Việc mua bán
sẽ làm chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản của người bán, đồng thời cũng làm phátsinh quyền sở hữu tài sản của người mua
Như vậy, có thể định nghĩa hợp đồng mua bán tài sản như sau: “Hợp dồng mua
bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản và chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán” 2
Đặc trưng của hợp đồng mua bán tài sản là việc người bán bán một tài sản đểđổi lấy một số tiền, còn người mua bỏ ra một số tiền tương ứng để có tài sản Đây làđặc trưng cơ bản để xác định tên gọi của hợp đồng mua bán tài sản, nếu không có đặctrưng này hợp đồng mua bán tài sản sẽ mang một tên gọi khác mà không phải là hợpđồng mua bán tài sản
Cũng như hầu hết các hợp đồng dân sự khác, hợp đồng mua bán tài sản là sự tự
do thỏa thuận của các bên Tuy nhiên, việc tự do thỏa thuận trong việc giao kết hợpđồng mua bán tài sản cũng phải tuân thủ các nguyên tắc chung về giao kết hợp đồng
dân sự là: “Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng”.
2 Điều 430 Bộ luật Dân sự năm 2015
Trang 61.2 Đặc điểm pháp lý của hợp đồng mua bán tài sản
Hợp đồng mua bán tài sản là một dạng của hợp đồng dân sự, bên cạnh nhữngđặc điểm chung của hợp đồng dân sự, hợp đồng mua bán tài sản còn có những đặcđiểm pháp lý cơ bản:
1.2.1 Hợp đồng mua bán tài sản là một hợp đồng song vụ
Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau Hợpđồng mua bán tài sản là một trong những loại hợp đồng song vụ phổ biến với đặc điểm
là các bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với nhau
Việc giao kết hợp đồng mua bán tài sản là cơ sở hình thành mối quan hệ pháp lý
về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Khi xác lập hợp đồng mua bán tàisản, bên bán có nghĩa vụ giao tài sản bán và chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua
và nhận tiền và ngược lại bên mua có nghĩa vụ trả tiền và nhận tài sản mua
1.2.2 Hợp đồng mua bán tài sản là hợp đồng có đền bù
Tính chất có đền bù là một trong những đặc trưng cơ bản của hợp đồng dân sự.Khi giao kết hợp đồng, chủ thể tham gia giao kết sẽ thực hiện nghĩa vụ đối với nhau và
sẽ đạt được lợi ích nhất định từ việc thực hiện nghĩa vụ đó Hợp đồng mua bán tài sản
là hợp đồng chuyển giao tài sản có đền bù, khi bên bán bán một tài sản thì bên muaphải bỏ ra một khoản tiền tương ứng để có tài sản
Đặc điểm có đền bù trong hợp đồng mua bán tài sản là đặc điểm cơ bản giúpphân biệt hợp đồng mua bán tài sản với hợp đồng tặng cho tài sản Hợp đồng tặng chotài sản là việc người tặng cho tài sản tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu tài sản đốivới tài sản được tặng cho nhưng hợp đồng tặng cho không có đền bù, vì người đượctặng cho tài sản không cần phải trả cho người tặng cho tài sản khoản tiền nào
1.2.3 Hợp đồng mua bán tài sản là một hợp đồng ưng thuận
Trên nguyên tắc, hợp đồng mua bán tài sản là hợp đồng ưng thuận giữa ngườimua và người bán tài sản Hợp đồng mua bán tài sản là công cụ pháp lý không thể thiếu
để các bên tham gia vào hợp đồng đạt được lợi ích thông qua việc thỏa thuận, sự ưngthuận trong hợp đồng mua bán tài sản thể hiện ở chỗ, việc giao kết hợp đồng mua bántài sản là kết quả đạt được từ việc tự do thỏa thuận giữa các chủ thể trong quan hệ muabán tài sản về nội dung chủ yếu của hợp đồng Hợp đồng mua bán tài sản phát sinhhiệu lực pháp lý từ thời điểm giao kết hợp đồng, nó không phụ thuộc vào thời điểmchuyển giao tài sản mua bán Thời điểm phát sinh hiệu lực đối với hợp đồng mua bántài sản giao kết bằng hình thức giao kết bằng miệng có hiệu lực từ khi các bên thỏathuận xong các nội dung cơ bản của hợp đồng Đối với hợp đồng mua bán được giaokết bằng văn bản thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng là thời điểm các bên cùng
ký vào hợp đồng Tuy nhiên, đối với các tài sản có giá trị lớn và phải đăng ký quyền sởhữu tài sản thì việc giao kết hợp đồng phải tuân thủ những quy định riêng về hình thức
Trang 7của hợp đồng, cũng như việc phải có công chứng, chứng thực tại cơ quan nhà nước cóthẩm quyền Thời điểm phát sinh hiệu lực trong trường hợp này là từ khi các bên hoànthành các thủ tục công chứng, chứng thực theo quy định.
Ví dụ: Đối với hợp đồng mua bán nhà ở, hợp đồng mua bán xe… thời điểm phátsinh hiệu lực trong hợp đồng là thời điểm các bên thực hiện xong các thủ tục đăng kýchuyển quyền sở hữu tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
1.2.4 Hợp đồng mua bán tài sản là hợp đồng nhằm mục đích chuyển giao
quyền sở hữu tài sản từ bên bán sang bên mua
Việc chuyển giao quyền sở hữu tài sản là mục đích cơ bản trong quan hệ muabán tài sản Vì khi mua tài sản, dù ít hay nhiều người mua cũng mong muốn nhận về tàisản và xác lập quyền sở hữu tài sản đối với tài sản mua Việc chuyển giao quyền sởhữu tài sản là đặc điểm cơ bản để phân biệt hợp đồng mua bán tài sản với hợp đồng chomượn tài sản, hợp đồng cho thuê tài sản
Chuyển quyền sở hữu tài sản trong hợp đồng mua bán tài sản là sự tự nguyện, tự
do thỏa thuận, là kết quả của việc gặp gỡ ý chí và sự thống nhất của các bên đối với tàisản được mua bán Thông thường, khi hợp đồng mua bán tài sản được giao kết hợppháp thì bên bán sẽ chuyển giao tài sản và quyền sở hữu cho bên mua ngay Tuy nhiên,đối với những tài sản pháp luật có quy định về việc đăng ký quyền sở hữu thì việcchuyển quyền sở hữu có hiệu lực khi các bên hoàn tất việc thực hiện thủ tục đăng kýquyền sở hữu tài sản tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Chuyển quyền sở hữu tài sản trong hợp đồng mua bán tài sản là căn cứ chấm dứtquyền sở hữu tài sản đối với tài sản bán của bên bán, đồng thời cũng là căn cứ xác lậpquyền sở hữu tài sản đối với tài sản mua của bên mua
1.3 Ý nghĩa của hợp đồng mua bán tài sản
Trong đời sống xã hội, thông thường sau khi các bên thỏa thuận xong đối tượng
và giá cả tài sản và bên mua thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán thì bên bán sẽ thựchiện nghĩa vụ chuyển giao tài sản bán Hợp đồng mua bán tài sản là một hợp đồng ưngthuận, dựa trên nguyên tắc bình đẳng, thỏa thuận và không vi phạm điều cấm của phápluật cũng như không trái đạo đức xã hội Các bên có thể thỏa thuận về nội dung hợpđồng, đối tượng, thời gian, địa điểm thực hiện hợp đồng và các phương thức thanhtoán
Hợp đồng mua bán tài sản là một phương tiện pháp lý quan trọng, là điều kiệnthuận lợi để mọi cá nhân, mọi cơ quan, tổ chức, mua bán trao đổi, đáp ứng nhu cầu cánhân, tiêu dùng và hoạt động sản xuất kinh doanh Trong thời kỳ hội nhập kinh tế thịtrường, hợp đồng mua bán tài sản ngày càng trở nên quan trọng, là căn cứ pháp lý xácđịnh quyền và nghĩa vụ của các bên Hợp đồng mua bán tài sản là cơ sở đảm bảo mốiquan hệ mua bán giữa các bên trong hợp đồng, phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa các
Trang 8thành phần kinh tế khác nhau Hợp đồng mua bán tạo điều kiện thuận lợi cho các thànhphần kinh tế cùng nhau tồn tại và phát triển, góp phần nâng cao đời sống kinh tế, vănhóa, tinh thần của nhân dân.
Ngày nay, mua bán tài sản không chỉ đơn thuần được thực hiện bởi công dâncủa một quốc gia mà nó còn là hoạt động mua bán giữa công dân của quốc gia này vớiquốc gia khác Ở nước ta, quan hệ giao kết hợp đồng mua bán tài sản được pháp luậtbảo vệ Bởi, tài sản là của cải vật chất và tinh thần mà con người tạo ra và được conngười sử dụng trong hoạt động sống và sinh hoạt của mình Pháp luật quy định về hợpđồng mua bán tài sản là thật sự cần thiết, giao kết hợp đồng mua bán tài sản vô cùngthông dụng, diễn ra hàng ngày, hàng giờ, đa dạng và gần gũi đối với cuộc sống của conngười Những quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán tài sản sẽ góp phần bảo vệtốt hơn quyền tài sản của người dân, đồng thời việc quy định này sẽ đảm bảo tốt hơnkhi người dân thực hiện quyền tự do mua bán của mình Khi tham gia vào quan hệ muabán tài sản trên cơ sở những quy định của pháp luật, các chủ thể tham gia vào quan hệmua bán tài sản này sẽ yên tâm hơn, vững vàng hơn và cũng là cơ sở để họ thực hiệntốt các quyền của mình Việc quy định về hợp đồng mua bán tài sản cũng là căn cứpháp lý để cơ quan Nhà nước giải quyết tốt các tranh chấp về hợp đồng khi có tranhchấp xảy ra Vì vậy, những quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán tài sản có ýnghĩa vô cùng quan trọng và thật sự cần thiết
Trang 9CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN
Nội dung chương này, tác giả sẽ phân tích các quy định của pháp luật về hợpđồng mua bán tài sản, chủ thể của hợp đồng mua bán tài sản cũng như quyền và nghĩa
vụ cơ bản của các chủ thể trong hợp đồng mua bán tài sản
2.1 Những quy định chung về hợp đồng mua bán tài sản
2.1.1 Giao kết hợp đồng mua bán tài sản
Cũng giống như hầu hết các giao dịch dân sự khác, để hợp đồng mua bán tài sản
có hiệu lực pháp luật, đòi hỏi các bên tham gia vào giao dịch mua bán tài sản phải đápứng các điều kiện về giao kết hợp đồng
2.1.1.1 Đề nghị giao kết hợp đồng
Đề nghị giao kết hợp đồng là giai đoạn đầu tiên của quá trình giao kết hợp đồng
Đề nghị giao kết hợp đồng là sự bày tỏ ý chí của một bên mong muốn giao kết hợp
đồng với một chủ thể cụ thể “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định
giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị)”3
Đề nghị giao kết hợp đồng phải thể hiện được ý định giao kết hợp đồng, mongmuốn giao kết hợp đồng và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợpđồng Đề nghị giao kết hợp đồng phải rõ ràng, phải thể hiện được những nội dung cơbản của hợp đồng để người được đề nghị có thể hiểu nội dung lời đề nghị và ý địnhgiao kết của người đề nghị
Đề nghị giao kết hợp đồng có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khácnhau Người đề nghị có thể thỏa thuận trực tiếp với người được đề nghị, trao đổi quađiện thoại, gửi qua đường bưu điện, thư điện tử… Hiện nay, pháp luật chưa quy địnhhình thức cụ thể nào về đề nghị giao kết hợp đồng
2.1.1.2 Chấp nhận giao kết hợp đồng
Chấp nhận giao kết hợp đồng là giai đoạn cuối cùng quyết định sự hình thànhcủa hợp đồng Chấp nhận giao kết hợp đồng là sự bày tỏ ý chí của bên được đề nghịgiao kết hợp đồng về những nội dung của lời đề nghị giao kết hợp đồng Theo quy định
tại Điều 393 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là
sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị; Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”.
Điều kiện được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thì bên được đề nghịphải chấp nhận toàn bộ nội dung của lời đề nghị giao kết hợp đồng của bên đề nghị
3 Khoản 1 Điều 386 Bộ luật Dân sự năm 2015
Trang 10giao kết hợp đồng Trong trường hợp bên được đề nghị chỉ chấp nhận một phần của đềnghị và có nêu ra những điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì việc chấp nhận này xemnhư là một lời đề nghị mới đối với bên đề nghị.
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có giá trị ràng buộc đối với các bên liênquan và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Vì vậy, việc xác
định thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng là vô cùng quan trọng “Thời hạn trả
lời chấp nhận giao kết hợp đồng là một khoảng thời gian hoặc một thời điểm cụ thể mà trong khoảng thời gian hoặc thời điểm đó bên được đề nghị trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng” 4
Trong trường hợp, bên đề nghị giao kết hợp đồng có ấn định thời hạn trả lờigiao kết hợp đồng thì việc trả lời của bên được đề nghị chỉ có hiệu lực trong khoảngthời hạn ấn định Trong trường hợp, bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lờichấp nhận giao kết hợp đồng khi đã hết hạn trả lời thì việc trả lời đó được xem như làmột lời đề nghị mới của bên được đề nghị Thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kếthợp đồng được xác định tùy vào trường hợp cụ thể
Theo quy định của Bộ luật Dân sự, nếu bên đề nghị không biết hoặc không thểbiết về lý do khách quan mà việc trả lời đề nghị giao kết hợp đồng đến chậm thì việctrả lời chấp nhận giao kết hợp đồng của bên được đề nghị sẽ không phát sinh hiệu lực.Nếu bên đề nghị biết hoặc có thể biết về lý do khách quan mà việc trả lời chấp nhậngiao kết hợp đồng đến chậm thì việc trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng sẽ có hiệu lựcpháp luật Nếu khi bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng và trả lời
từ chối ngay việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của bên được đề nghị thì việcchấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng sẽ không có hiệu lực pháp luật
Khi bên đề nghị giao kết hợp đồng trực tiếp thỏa thuận với bên được đề nghị (kể
cả qua điện thoại), về nguyên tắc, bên được đề nghị phải trả lời ngay việc chấp nhậnhoặc không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trong trường hợp các bên có thỏathuận về thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thì thời hạn trả lời chấpnhận đề nghị giao kết hợp đồng là thời hạn do bên đề nghị giao kết hợp đồng đã ấnđịnh
Sau khi đề nghị giao kết hợp đồng đã được chấp nhận, nếu một trong hai bênchết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì việc trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợpđồng đó vẫn có hiệu lực pháp luật (Điều 395 Bộ luật Dân sự năm 2015)
2.1.2 Nội dung của hợp đồng mua bán tài sản
Nội dung của hợp đồng mua bán tài sản do các bên thỏa thuận Theo quy địnhtại Điều 398 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì:
“1 Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng.
Trang 112 Hợp đồng có thể có các nội dung sau đây:
a) Đối tượng của hợp đồng;
b) Số lượng, chất lượng;
c) Giá, phương thức thanh toán;
d) Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
đ) Quyền, nghĩa vụ của các bên;
e) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
g) Phương thức giải quyết tranh chấp”.
Nguyên tắc giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam hiện hành là các bên cóquyền tự do giao kết hợp đồng nhưng không được vi phạm điều cấm của pháp luật vàkhông trái đạo đức xã hội
2.2 Chủ thể của hợp đồng mua bán tài sản
Chủ thể của hợp đồng mua bán tài sản là các bên tham gia vào quan hệ mua bántài sản Chủ thể của hợp đồng mua bán tài sản bao gồm: Bên bán và bên mua Để thamgia vào việc giao kết hợp đồng mua bán tài sản cũng như đảm bảo tuân thủ các nguyêntắc của pháp luật về hợp đồng mua bán sản, đòi hỏi chủ thể của hợp đồng mua bán tàisản phải có năng lực chủ thể Năng lực chủ thể gồm: Năng lực pháp luật và năng lựchành vi Để việc giao kết hợp đồng mua bán tài sản có hiệu lực pháp luật, đòi hỏi chủthể tham gia phải có năng lực hành vi dân sự
Như vậy, khi chủ thể có năng lực pháp luật nhưng không có năng lực hành vidân sự theo quy định của pháp luật thì chủ thể đó không đủ điều kiện tham gia giao kếthợp đồng mua bán tài sản Mọi giao dịch của người không có năng lực hành vi dân sựhoặc người mất năng lực hành vi dân sự phải thông qua người đại diện xác lập, thựchiện
Đối với trường hợp, người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nhưng bị pháp luậthạn chế năng lực hành vi dân sự, thì việc giao kết hợp đồng mua bán tài sản chỉ có hiệulực pháp luật khi có sự đồng ý của người đại diện
2.2.1 Bên bán
Bên bán là người có tài sản đem bán Để trở thành chủ thể của hợp đồng muabán tài sản ngoài điều kiện về năng lực chủ thể, bên bán còn phải đáp ứng các điềukiện: Bên bán phải có quyền sở hữu đối với tài sản bán (phải là chủ sở hữu tài sản bán);Bên bán là người được chủ sở hữu tài sản ủy quyền về việc bán tài sản hoặc bên bán làngười đại diện hợp pháp của chủ sở hữu tài sản, người được phép bán tài sản theo quyđịnh của pháp luật (cơ quan thi hành án, người nhận cầm cố, nhận thế chấp tài sản…)