Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, C.Mác đã phát hiện ra sức mạnh của lý luận chính là mối liên hệ của nó với thực tiễn, cũng như sức mạnh của thực tiễn là ở mối quan hệ của nó với lý
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.Khái niệm lý luận 5
2 Khái niệm thực tiễn 5
3 Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn 6
CHƯƠNG II: MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI TƯ DUY VÀ ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở NƯỚC TA 9
1 Lý do đổi mới 9
2 Nội dung đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế 10
2.1 Đổi mới tư duy 10
2.2 Đổi mới kinh tế 12
3 Mối liên hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế 14
KẾT LUẬN 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 2MỞ ĐẦU
Lý luận và thực tiễn có mối quan hệ mật thiết, thống nhất, là một trong những nguyên tắc cơ bản và cốt lõi của triết học Mác – Lênin Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, C.Mác đã phát hiện ra sức mạnh của lý luận chính là mối liên hệ của nó với thực tiễn, cũng như sức mạnh của thực tiễn là ở mối quan hệ của nó với lý luận Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ trao đổi, tác động lẫn nhau để hình thành nên hoạt động sản xuất vật chất, phản ánh mặt tinh thần và thực tiễn xã hội Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là sự thống nhất biện chứng và cơ sở của sự tác động qua lại ấy chính là thực tiễn Thực tiễn luôn luôn vận động, biến đổi, do đó lý luận cũng không ngừng đổi mới, phát triển; vì vậy, đối với từng giai đoạn lịch sử khác nhau, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn lại có những nội dung cụ thể, những biểu hiện khác nhau
Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành công trong việc lãnh đạo quần chúng nhân dân Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, bước đầu vượt qua thời kì nền kinh tế bao cấp lạc hậu, hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh
tế quốc tế Để đẩy mạnh quá trình đổi mới này, Đảng và Nhà nước cần có những thay đổi nhất định trong tư duy, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm
Trong công cuộc phát triển của đất nước, đã có vô vàn công trình nghiên cứu về quá trình đổi mới ở Việt Nam, dưới nhiều góc độ khác nhau Song, lại không có nhiều công trình nghiên cứu sâu rộng vào việc lý giải cặn
kẽ mối quan hệ giữa tư duy và đổi mới kinh tế ở nước ta Vì vậy, nhằm vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, góp phần nghiên cứu về mặt lý luận của vấn đề này bằng những kiến thức lĩnh hội được thông qua môn
Trang 3Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là những nội dung liên quan đến lý luận và thực tiễn, em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn và vận dụng phân tích mối liên
hệ giữa đổi mới tư duy với đổi mới kinh tế ở nước ta”
Đề tài được nghiên cứu nhằm mục đích vận dụng kiến thức đã học, nêu lên mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn từ đó đưa ra những nhận định, lý giải
và phân tích về mối liên hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế ở nước ta Đồng thời, đề tài cũng mang lại cho em những kinh nghiệm quý báu trong việc nghiên cứu khoa học, hoàn thành chương trình học tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin tại trường Đại học Ngoại Thương
Để đạt được mục tiêu đó, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chung: phương pháp luận của chủ nghĩa Mác — Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp chuyên gia
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, bố cục của đề tài bao gồm những nội dung chính sau:
Chương 1: Lý luận và thực tiễn
Chương 2: Mối liên hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế ở nước ta
Trang 4CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.Khái niệm lý luận
Từ khi khoa học xuất hiện, cách đây khoảng hai nghìn rưỡi năm, trong
tư duy loài người cùng tồn tại hai cấp độ nhận thức để phản ánh các sự vật, hiện tượng với hai tầm nông - sâu khác nhau - kinh nghiệm và lý luận
Lý luận là sản phẩm của sự phát triển cao của nhận thức, đồng thời thể hiện như trình độ cao của nhận thức Các khái niệm lý luận gắn liền với những
hệ thống lý luận nhất định Nếu chúng phần ánh trung thực các mối liên hệ bản chất, các quy luật vốn có của hiện thực khách quan thì những hệ thống lý luận đó chính là các học thuyết khoa học được kiểm nghiệm bằng thực tiễn (hay thực nghiệm) Trái lại, đó là những lý luận giả khoa học và sớm muộn cũng sẽ bị bác bỏ
Lý luận học có quan hệ mật thiết với rất nhiều môn khoa học khác Trong đó, nổi bật như với triết học, logic học, chính trị học, kinh tế chính trị học, xã hội học, nhân chủng học, kinh tế học, sử học, toán học Toán học có đối tượng nghiên cứu là các quan hệ số lượng và hình dạng trong thế giới khách quan; Triết học có đối tượng nghiên cứu là các quy luật chung nhất của thế giới và nhận thức thế giới của con người; Chính trị học có đối tượng nghiên cứu là chính trị và các hình thái của chính trị; Kinh tế học có đối tượng nghiên cứu là các quan hệ sản xuất, các quy luật chi phối quá trình sẳn xuất, phân phối và trao hỏi lý luận phải không ngừng được nghiên cứu, lọc bỏ, bổ sung, tích lũy trong mối liên hệ qua lại với thực tiễn
2 Khái niệm thực tiễn
Các nhà duy vật trước Mác đã có công lớn trong việc phát triển thế giới quan duy vật và đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và thuyết bất khả tri Tuy nhiên, lý luận của họ còn nhiều hạn chế, thiếu sót, trong đó hạn
Trang 5chế lớn nhất là không thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Một
số nhà triết học duy tâm, tuy đã thấy được mặt năng động, sáng tạo trong hoạt động, của con người nhưng cũng chỉ hiểu thực tiễn như là hoạt động tính thần, chứ không hiểu nó như là hoạt động hiện thực, hoạt động vật chất cảm tính của con người
Kế thừa những yếu tố hợp lý và khắc phục những hạn chế trong các quan điểm của các nhà triết học đi trước, Mác và Ăng-ghen đã đưa ra nhận thức đúng đắn, khoa học về thực tiễn: Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử, xã hội của con người nhằm cải biến
tự nhiên và xã hội
Thực tiễn có các đặc trưng: là hoạt động vật chất, không phải hoạt động tỉnh thần; mang tính mục đích và có ý thức của con người; mang tính lịch sử -xã hội, tùy thuộc bối cảnh, không gian, thời gian mà thực tiễn có cách thức, phương pháp thực hiện khác nhau; hướng tới cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và
từ đó cải tạo chính bản thân con người
Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người, là dạng hoạt động cơ bản và phổ biến của xã hội loài người, mang tính lịch sử-xã hội cụ thể Con người phải lao động sản xuất, chế tạo và sử dụng công cụ lao động,
để tạo ra của cải vật chất nuôi sống mình Do đó, thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của quan hệ giữa con người và thế giới
Thực tiễn có các hình thức tồn tại cơ bản: hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động chính trị-xã hội; hoạt động thực nghiệm khoa học Trong đó hoạt động hoạt động sản xuất vật chất giữ vai trò trung tâm, tuy nhiên, các hoạt động chính trị - xã hội và thực nghiệm khoa học cũng có tính độc lập tương đối của mình
Trang 63 Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn
Thực tiễn là cơ sở, mục đích và động lực chủ yếu, trực tiếp của nhận thức và do đó, cũng là của lý luận Thực tiễn cung cấp tài liệu cho nhận thức,
lý luận Mọi tri thức, lý luận, xét đến cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn Ngày nay khi khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, mối quan hệ này cũng không thay đổi
Lý luận luôn phục tùng thực tiễn, phục vụ thực tiễn và phát triển trên cơ
sở cải tạo thực tiễn xã hội Chỉ khi được đưa vào thực tiễn, ý niệm, tư tưởng,
lý luận mới có thể "cải tạo" thế giới Nếu dừng lại trong lĩnh vực ý thức, chúng không có khả năng cải biến một cái gì ngoài khả năng ý thức Các tư tưởng, tự chúng, không phải là thực tiễn, mô hình lý tưởng về xã hội tương lai thiếu sự cải tạo vật chất chỉ là mô hình lý luận Lý luận hoàn thành một chức năng nào đó trong xã hội không phải là ở ngoài khuôn khổ của thực tiễn, mà là
ở bên trong bản thân thực tiễn xã hội
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được hiểu trên tinh thần biện chứng: thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn lý luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệ với thực tiễn, nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau
Lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với thực tiễn Không có lý luận thì trong hoạt động thực tiễn người ta dễ chỉ dựa vào kinh nghiệm, dễ dẫn tới tuyệt đối hóa kinh nghiệm, cho kinh nghiệm là yếu tố quyết định thành công trong hoạt động thực tiễn Kém lý luận, khinh lý luận không chỉ dẫn tới bệnh kinh nghiệm mà còn dẫn tới bệnh giáo điều Bởi lẽ, do kém lý luận, khinh lý luận nên không hiểu thực chất lý luận, chỉ thuộc câu chữ lý luận và do đó cũng không thể hiểu được bản chất và cũng không thể vận dụng được lý luận vào
Trang 7giải quyết những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh Nếu có vận dụng thì cũng không sát thực tế không phù hợp với thực tiễn
Tuy nhiên, lý luận phải kết hợp chặt chẽ với kinh nghiệm thực tế, liên
hệ với thực tiễn nếu không lại mắc phải bệnh lý luận suông, tức bệnh giáo điều Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế Lý luận mà không áp dụng vào công việc thực tế là lý luận suông
Mối liên hệ của thực tiễn với lý luận còn thể hiện ở chỗ, thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý, lấy thực tiễn để kiểm tra lý luận Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải
là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý Nhận thức khoa học còn có tiêu chuẩn riêng,
đó là tiêu chuẩn logic Nhưng tiêu chuẩn logic không thể thay thế cho tiêu chuẩn thực tiễn, và xét đến cùng, nó cũng phụ thuộc vào tiêu chuẩn thực tiễn
Quan hệ giữa thực tiễn và lý luận là một quá trình mang tính lịch sử - xã hội cụ thể Quan hệ giữa chúng là quan hệ biện chứng Nắm bắt được tính chất biện chứng của quá trình đó, là tiền đề quan trọng giúp chúng ta có được lập trường thực tiễn sáng suốt, tránh được chủ nghĩa thực dụng thiển cận, cũng như chủ nghĩa giáo điều máy móc và bệnh lý luận suông
Trang 8CHƯƠNG II: MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI TƯ DUY VÀ ĐỔI MỚI
KINH TẾ Ở NƯỚC TA
1 Lý do đổi mới
Trong giai đoạn sau giải phóng, Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu tìm tòi, xây dựng đường lối, xác định đúng mục tiêu và phương hướng xã hội chủ nghĩa Nhưng Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan: nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần; có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng; duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp; có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương; công tác tư tưởng và tổ chức cán bộ phạm nhiều khuyết điểm nghiêm trọng
Những sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan này đã dẫn đến khủng hoảng trầm trọng về kinh tế xã hội ở Việt Nam những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước Tình hình kinh tế - xã hội có những khó khăn gay gắt: sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; đời sống nhân dân lao động gặp nhiều khó khăn; hiện tượng tiêu cực xảy ra ở nhiều nơi và có nơi nghiêm trọng…
Chúng ta có khuyết điểm trong việc đánh giá tình hình cụ thể của đất nước, trong việc xác định mục tiêu và bước đi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Những sai lầm nói trên là sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và về tổ chức thực hiện
Những sai lầm và khuyết điểm trong lĩnh vực kinh tế, xã hội bắt nguồn
từ những khuyết điểm trong công tác tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng
Trong lĩnh vực tư tưởng, đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận và sự yếu kém về vận dụng các quy luật trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Trang 9nước ta Về tổ chức, khuyết điểm lớn nhất là thiếu quy hoạch và chậm đổi mới cán bộ; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng, phong cách lãnh đạo và lề lối làm việc mang nặng chủ nghĩa quan liêu; tổ chức bộ máy quá lớn, chồng chéo và kém hiệu lực; giáo dục và quản lý cán bộ, đảng viên thiếu chặt chẽ
Trong hoàn cảnh ấy, vấn đề sống còn là đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng Mặt khác, chính trị thế giới có nhiều biến động phức tạp, tiềm
ẩn những bùng nổ, thay đổi bất lợi cho sự phát triển của nước ta theo cơ chế lúc bấy giờ Trong tình thế cần lựa chọn, điều chỉnh, thay đổi, bằng kinh nghiệm lãnh đạo sáng suốt nhìn thẳng vào sự thật, tin tưởng vào lực lượng quần chúng và trách nhiệm lớn lao trước vận mệnh của Tổ quốc, Đảng ta đã kiên quyết đổi mới trên tất cả các lĩnh vực, trước hết là đổi mới về tư duy và trọng tâm là đổi mới về kinh tế
2 Nội dung đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế
2.1 Đổi mới tư duy
Mục tiêu, bản chất của chủ nghĩa xã hội: Mỗi quốc gia, dân tộc đều phải suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để làm sao vừa theo đúng quy luật chung vừa phù hợp với điều kiện, đặc điểm của nước mình Hiện nay, nước ta còn đang ở thời
kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, có rất nhiều vấn đề cần được nhận thức, vận dụng đúng đắn, phù hợp với thực tế và quy luật khách quan; không thể nôn nóng, giáo điều, máy móc
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay, giải phóng và phát triển sức sản xuất, bảo đảm cho kinh tế tăng trưởng nhanh, phát triển bền vững phải là nhiệm vụ chính trị trọng đại số một, nhiệm vụ trọng tâm
Phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội: Tại Đại hội VI lần đầu tiên trong quan niệm về chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã đặt
Trang 10đúng tầm vấn đề xã hội trong mối quan hệ với kinh tế Và càng về sau Đảng ta càng khẳng định phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội
Phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội: Phát triển văn hóa đồng bộ và tương xứng với tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, tiến bộ chính trị, là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thể hiện sự nhận thức mới, sự phát triển tư duy lý luận của Đảng ta
Giữ vững môi trường hòa bình, hữu nghị vì sự phát triển của đất nước: Chúng ta đã đổi mới nhận thức về tình hình thế giới và khu vực; chuyển từ cách nhìn thế giới chỉ dưới góc độ một vũ đài đấu tranh sang cách nhìn toàn diện hơn; coi thế giới như môi trường tồn tại và phát triển của Việt Nam; đổi mới tư duy đối ngoại theo tinh thần "thêm bạn bớt thù"…
Xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa: Chúng ta từng bước nhận thức sâu sắc hơn, cụ thể hơn về mối quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa kinh tế
và quốc phòng - an ninh - đối ngoại; nhận thức toàn diện hơn về khái niệm "an ninh quốc gia" và "bảo vệ Tổ quốc"
Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ chính trị ở nước ta Báo cáo Chính trị tại Đại hội VII của Đảng cũng chỉ rõ: Thực chất của công cuộc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị ở nước ta là xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới
Nâng cao vai trò lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng: Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của công cuộc đổi mới cũng