SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA TRƯỜNG THPT LÊ LỢI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀI XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC THEO HƯỚNG TIẾP CẬN PISA TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 12 CHO H
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT LÊ LỢI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC THEO HƯỚNG TIẾP CẬN PISA TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 12 CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT LÊ LỢI
Người thực hiện : Đỗ Thị Hoa Chức vụ : Giáo viên
Tổ bộ môn: Sinh học SKKN thuộc lĩnh vực: Sinh học
Trang 2THANH HÓA, NĂM 2022
Trang 3Chương 2 THỰC TRẠNG DẠY HỌC THEO TIẾP CẬN PISA Ở
Chủ đề 1 Tam giác U - sự hình thành các loài cải 7
Chủ đề 6 Phương pháp gây đột biến 13
DANH MỤC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC ĐÁNH
Trang 4PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Lí do chọn đề tài
Trong thời đại 4.0 có quá nhiều điều mới mẻ, những kiến thức sách vở làquá ít đối với mỗi học sinh (HS) Để tồn tại và phát triển, mỗi con người phải cókiến thức sâu rộng, toàn diện và phát huy được năng lực cá nhân Chính vì vậy,
Đảng và Nhà nước ta khẳng định "Giáo dục là quốc sách hàng đầu'', phải luôn đổi
mới và cải cách để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Trong đó, đổi mớiphương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá là vấn đề then chốt
Với phương châm "học đi đôi với hành”, “lí luận gắn liền với thực tiễn",
phương pháp dạy học sử dụng hệ thống câu hỏi theo quan điểm PISA trong dạyhọc tích cực để phát huy năng lực khoa học của HS là một tất yếu PISA là
“chương trình đánh giá HS quốc tế” (Programme for International Student
Assessment), đánh giá kiến thức và kỹ năng trong 3 lĩnh vực: Đọc hiểu phổ thông,làm toán phổ thông và khoa học phổ thông
Hệ thống câu hỏi PISA giúp HS có nhiều kiến thức thực tế, trực tiếp khámphá, tự tìm ra bản chất sự vật, hiện tượng và giải thích các sự vật, hiện tượng diễn
ra xung quanh dựa trên những hiểu biết của mình Câu hỏi PISA có ưu điểm là vừacung cấp thông tin, kiến thức, vừa kiểm tra sự ghi nhớ kiến thức đã học, yêu cầungười học nắm vững được bản chất kiến thức, giải thích và vận dụng kiến thức đãhọc vào giải quyết nhiệm vụ mới hoặc xác định ý nghĩa của kiến thức trong lí luận
và thực tiễn Mặt khác, khi thiết kế bộ câu hỏi, giáo viên (GV) cần nhiều thời gian
để nghiên cứu bài học, lựa chọn nội dung và phải có những kỹ năng nhất định choviệc thiết kế các câu hỏi này nên trình độ cũng tăng lên
Tuy nhiên, do chương trình Trung học phổ thông (THPT) chưa được phânluồng, số môn học trong nhà trường quá nhiều Vì vậy, nhiều HS có ít thời gian để
tự nghiên cứu, tìm hiểu, chỉ đơn thuần nhận thông tin một chiều từ GV HS tiếp thukiến thức một cách thụ động thay vì tự tìm tòi nghiên cứu để nâng cao kiến thức
Mặt khác, do đổi mới giáo dục và thực trạng thi tuyển sinh Đại học, caođẳng mà tại các trường THPT hiện nay, nhiều học sinh có xu hướng chọn học banKhoa học xã hội nhiều hơn, hoặc các em chọn môn học hướng về các tổ hợp mônthuộc các khối D, A, A1,… ít em chọn tổ hợp môn có bộ môn Sinh học Điều đócũng đồng nghĩa với việc các em ít chú ý đến môn không theo tổ hợp xét tuyển Đại
học, Cao đẳng của mình, vì các em quan niệm “Thi gì, học nấy” Chính điều này
đã làm giảm hứng thú học tập của các em ở các tiết học thuộc các môn không xéttuyển, trong đó có môn Sinh học
Không những vậy mà hiện nay ở hầu hết các trường Trung học phổ thông(THPT) trên cả nước, nhiều GV gặp khó khăn trong việc xây dựng hệ thống câuhỏi theo tiếp cận PISA Sinh học là môn khoa học tự nhiên, thiên về quan sát, thựcnghiệm Dạy học theo tiếp cận PISA trong môn Sinh học là một tất yếu đang đượcquan tâm khai thác và đưa vào sử dụng
Qua thực tiễn dạy học bộ môn, tôi thấy hầu hết HS đều thích phương pháphọc tập gắn với kiến thức thực tế kể cả những nội dung khó hiểu, mang tính hànlâm như ở chương trình Sinh học 12 Vì vậy, việc xây dựng hệ thống câu hỏi theotiếp cận PISA giúp các em không phải “nhồi nhét” kiến thức mà vẫn đam mê học
Trang 5tập, nâng cao năng lực khoa học, mang lại hiệu quả học tập cao Câu hỏi PISAcũng cung cấp những phần kiến thức thú vị liên quan đến chương trình học
Từ những trải nghiệm thực tế qua nhiều năm dạy học và kết quả đạt được
trong công tác dạy học, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Xây dựng hệ thống bài tập
đánh giá năng lực theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học Sinh học 12 cho học sinh trường THPT Lê Lợi”.
1.2 Mục đích của việc thực hiện đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học Sinh học 12 theo quanđiểm PISA ở trường THPT Từ đó xây dựng hệ thống câu hỏi theo quan điểmPISA để dạy học Sinh học 12
- Sử dụng hệ thống câu hỏi theo quan điểm PISA để đưa vào tiến trình dạy học một
số bài trong chương trình sinh học 12 theo hướng tổ chức hoạt động học cho họcsinh nhằm nâng cao năng lực Khoa học Tự nhiên (KHTN), tạo hứng thú học tập bộmôn Sinh học và nâng cao hiệu quả học tập bộ môn tại trường THPT
- Đánh giá tính khả thi của đề tài thông qua khả năng nhận thức của học sinh vàhiệu quả của phương án dạy học
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng: Một số bài trong phần 5: Di truyền học thuộc chương trình Sinh học
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết
Thu thập, nghiên cứu và hệ thống lại các tài liệu có liên quan đến đề tài để làm cơ
sở nghiên cứu và thực nghiệm
1.4.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Khảo sát tính khả thi của đề tài trong các buổi học và lồng ghép vào kiểm tra, đánhgiá tại trường
1.4.3 Phương pháp phân tích, đánh giá kết quả, thống kê xử lí số liệu
Sử dụng công thức toán thống kê để xử lí số liệu thu thập được nhằm đánhgiá kết quả thực nghiệm
1.4.4 Phương pháp viết báo cáo khoa học
Trang 6PHẦN II NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm Sinh học.
Sinh học là một môn khoa học về sự sống (từ tiếng Anh: Biology bắt nguồn
từ Hy Lạp với bios là sự sống và logos là môn học) Nó là một nhánh của khoa học
tự nhiên, tập trung nghiên cứu các cá thể sống, mối quan hệ giữa chúng với nhau
và với môi trường Nó miêu tả những đặc điểm và tập tính của sinh vật, ví dụ: cấutrúc, chức năng, sự phát triển, môi trường sống, cách thức các cá thể và loài tồn tại
ví dụ: nguồn gốc, sự tiến hóa và phân bổ của chúng [1]
1.2 Các khái niệm liên quan đến PISA
1.2.1 PISA là gì?
PISA là “chương trình đánh giá học sinh quốc tế” (Programme for
International Student Assessment - PISA) do Hiệp hội các nước phát triển (OECD)khởi xướng và chỉ đạo nhằm tìm kiếm các chỉ số đánh giá tính hiệu quả - chấtlượng của hệ thống giáo dục của mỗi nước tham gia
PISA tập trung vào đánh giá 3 mảng năng lực chính:
- Năng lực đọc hiểu phổ thông (Reading literacy)
- Năng lực làm toán phổ thông (Mathematical literacy)
- Năng lực khoa học phổ thông (Science literacy)
Qua đó sẽ kiểm tra khả năng đáp ứng những kiến thức kỹ năng cần thiết cho cuộcsống sau này theo chuẩn quốc tế [5]
1.2.2 Năng lực Khoa học (KH) là gì?
Năng lực KH là năng lực được thể hiện qua việc HS có kiến thức KH và sửdụng kiến thức để nhận ra các vấn đề KH, giải thích các hiện tượng KH và rút racác kết luận trên cơ sở chứng cứ về các vấn đề liên quan đến KH; hiểu những đặctính của KH như một dạng tri thức của loài người và là hoạt động tìm tòi, khámphá của con người; nhận thức được vai trò của KH; sẵn sàng tham gia như mộtcông dân tích cực, vận dụng hiểu biết KH vào giải thích các vấn đề liên quan [2]
1.2.3 Năng lực KHTN là gì?
Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể: Khoa học tự nhiên
(KHTN) là môn học được xây dựng và phát triển trên nền tảng của Vật lí, Hóa học,Sinh học và Khoa học Trái Đất, Đối tượng nghiên cứu của Khoa học tự nhiên làcác sự vật, hiện tượng, quá trình, các thuộc tính cơ bản về sự tồn tại, vận động củathế giới tự nhiên [3]
Vì vậy, Khoa học tự nhiên là môn học có ý nghĩa quan trọng đối với sự pháttriển toàn diện của học sinh, có vai trò nền tảng trong việc hình thành và phát triểnthế giới quan khoa học của học sinh cấp trung học cơ sở.[3]
Năng lực KHTN đối với HS THPT có thể gồm 03 thành phần sau: Nhậnthức kiến thức khoa học; tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên; vận dụng kiến thứcvào thực tiễn, ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững của xãhội và bảo vệ môi trường [3]
1.2.4 Quy trình xây dựng và sử dụng bài tập tiếp cận theo PISA
Bước 1: Lựa chọn đơn vị nội dung kiến thức, xây dựng ma trận mô tả các yêu cầu
cần đạt được sau khi học tập, nghiên cứu
Bước 2: Dựa vào mục tiêu của bài học, nội dung học tập, yêu cầu cần đạt để xác
Trang 7định NL và mức độ biểu hiện của NL phù hợp.
Bước 3: Xây dựng bối cảnh thực tiễn phù hợp với nội dung kiến thức.
Bước 4: Xây dựng phần dẫn và các câu hỏi theo mẫu bài tập PISA phù hợp với nội
dung kiến thức và các mức độ biểu hiện của NL lựa chọn
Bước 5: Xây dựng các đáp án và phương án chấm bài.
Bước 6: Có thể áp dụng 1 trong các giai đoạn của tiến trình dạy học như: hỏi bài
cũ, dạy học bài mới hay củng cố, luyện tập Tùy vào điều kiện cụ thể, GV có thể linh hoạt sử dụng
Bước 7: Kiểm tra, đánh giá lại hiệu quả sử dụng bài tập vào quá trình dạy học,
hoàn thiện bài tập và phương án sử dụng để đạt hiệu quả tối ưu [3]
Chương 2 THỰC TRẠNG DẠY HỌC THEO TIẾP CẬN PISA Ở TRƯỜNG
THPT HIỆN NAY
2.1 Thực trạng dạy học Sinh học
Những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học đã và đang đượcquan tâm rất nhiều, bước đầu đã có những đáp ứng nhất định đối với các trườngTHPT Tuy nhiên, thực tế cho thấy từ trước đến nay do thói quen và nếp nghĩ mà
GV thường chú trọng đến việc truyền đạt kiến thức, HS tiếp thu được những kiếnthức cơ bản của bài là sự thành công trong quá trình dạy học
Với bộ môn Sinh học, việc dạy và học bộ môn này trong nhà trường chưađược coi trọng đúng mức, bị sai lệch bởi việc dạy môn này chủ yếu theo nhu cầutrước mắt của học sinh là thi tốt nghiệp và thi tuyển sinh đại học Trong khi đó cáctrường đại học, cao đẳng có tuyển sinh khối B lại không nhiều; hơn nữa có nhiềungành nghề liên quan đến môn Sinh học chưa cuốn hút người học nên dẫn tới thực
tế là người học ham mê môn Sinh học ngày càng giảm
Ngoài ra, do chương trình THPT chưa được phân luồng, số môn học trongnhà trường quá nhiều nên HS có rất ít thời gian để tự nghiên cứu, tìm hiểu Vì vậyphần lớn chỉ đơn thuần nhận thông tin một chiều từ GV, HS tiếp thu một cách thụđộng kiến thức thay vì tự tìm tòi nghiên cứu để nâng cao kiến thức
2.2 Thực trạng dạy học theo tiếp cận PISA trong trường THPT
Hiện nay ở hầu hết các trường THPT trong đó có trường THPT Lê Lợi,nhiều GV còn gặp khó khăn trong việc xây dựng hệ thống câu hỏi theo tiếp cậnPISA Thậm chí nhiều GV còn chưa hiểu PISA là gì nên việc tiếp cận PISA trongdạy học và kiển tra, đánh giá còn nhiều khó khăn
Khi được hỏi về việc thầy cô (ở tất cả các môn học) đã tiếp cận PISA trongxây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập để dạy học và kiểm tra, đánh giá năng lực HSchưa thì hầu hết thầy cô đều trả lời là chưa
Sinh học là một môn khoa học tự nhiên, lí thuyết đi đôi với thực nghiệm.Dạy học theo tiếp cận PISA trong môn Sinh học là một tất yếu cần được quan tâmkhai thác và đưa vào sử dụng để nâng cao năng lực Khoa học Tự nhiên cho HS.Việc xây dựng hệ thống câu hỏi theo tiếp cận PISA giúp các em không phải “nhồinhét” kiến thức mà vẫn đam mê học tập, mang lại hiệu quả học tập cao
Trang 8Chương 3 GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Xây dựng hệ thống câu hỏi theo tiếp cận PISA trong dạy học và kiểm tra,đánh giá Phần 5: Di truyền học thuộc chương trình Sinh học 12
3.1 Chương 1 Cơ chế di truyền và biến dị
Chủ đề 1 Tam giác U - sự hình thành các loài cải
Tam giác U mô tả quá trình tiến hóa và quan hệ giữa các thành viên của chithực vật Brassica Dữ liệu của U chỉ ra rằng ở đây có ba bộ gen tổ tiên khác nhau(tự chúng là các loài tách rời trong chi Brassica) và tổ hợp với nhau để tạo ra ba tổhợp gen mới được tìm thấy trong ba loại rau cải và cải dầu phổ biến khác màchúng ta biết đến ngày nay Các dữ liệu này hiện nay đã được xác nhận bởi cácnghiên cứu phân tử đối với DNA và các protein
Thuyết này được đặt theo tên của N U, một nhà thực vật học người TriềuTiên làm việc tại Nhật Bản, đã công bố nó năm 1935 Ông tạo ra các cây lai ghéptổng hợp giữa các loài lưỡng bội và tứ bội để kiểm tra xem các nhiễm sắc thể đãghép cặp như thế nào trong thể tam bội được tạo ra Công trình của ông chịu ảnhhưởng của công trình do Kihara tiến hành về nguồn gốc của lúa mì hay lúa mì thểlục bội và quan hệ của nó với các tổ tiên lưỡng bội
Tam giác U chỉ ra bằng cách nào mà ba loài Brassica mới đã thu được từ ba
bộ gen tổ tiên, được ký hiệu bằng các chữ cái AA, BB, CC Đứng độc lập, mỗi một
bộ gen lưỡng bội này tạo ra một loài Brassica phổ biến Chữ cái n=số là ký hiệu đểchỉ số lượng nhiễm sắc thể trong mỗi bộ gen, và đây là số lượng tìm thấy trongphấn hoa hay noãn Ví dụ, Brassica rapa có A - n = 10 (hay AA - 2n = 20) Điềunày có nghĩa là mỗi tế bào xôma (tế bào thể) của thực vật chứa hai bản sao bộ genhoàn chỉnh (lưỡng bội) và mỗi bộ gen có 10 nhiễm sắc thể Vì thế mỗi tế bào sẽchứa 20 nhiễm sắc thể, do nó là lưỡng bội 2n = 2x = 20
Câu 1 Sự hình thành 3 loại cải tứ bội mới do con đường nào? Quan sát hình trên
và giải thích sự hình thành 3 loài cải tứ bội
Câu 2 Bạn Hoa cho rằng ở động vật cũng phổ biến quá trình hình thành loài nhưtrên Em có đồng ý với ý kiến của bạn không? Vì sao?
*Hướng dẫn đánh giá
Câu 1 Sự hình thành 3 loại cải tứ bội mới do con đường đa bội khác nguồn
Trang 9AA - 2n=2x=20 - Brassica rapa (đồng nghĩa Brassica campestris) - cải củturnip, cải thìa, cải thảo
BB - 2n=2x=16 - Brassica nigra - mù tạc đen
CC - 2n=2x=18 - Brassica oleracea - cải bắp, cải xoăn, cải bông xanh, cảiBrussels, súp lơ, su hào, cải làn
Ba loài này tồn tại như là các loài độc lập Nhưng do chúng có quan hệ họ hàng rấtgần nên chúng có khả năng lai giống Quá trình lai giống liên loài này cho phéphình thành ba loài Brassica tứ bội mới
AABB - 2n=4x=36 -Brassica juncea - mù tạc Ấn Độ, cải canh
AACC - 2n=4x=38 -Brassica napus - cải dầu, cải củ Thụy Điển
BBCC - 2n=4x=34 -Brassica carinata - mù tạc Ethiopia
Câu 2 Không đông ý với bạn Hoa vì: Quá trình hình thành loài như trên ít gặp ởđộng vật vì giữa 2 loài động vật có cơ chế cách li sinh sản rất phức tạp Sự đa bộihóa thường gây rối loạn về giới tính và gây chết Mặt khác mọi hoạt động của cơthể động vật được phối hợp rất phức tạp, chịu sự điều khiển của hệ thần kinh… nênkhi đa bội hóa gây ra thay đổi lớn trong vật chất di truyền và thường gây chết
Chủ đề 2 Nhiễm sắc thể
Trong ngôn ngữ của nhiều quốc gia, khái niệm NST gọi là chromosome.NST là bào quan quan trọng nhất của sinh vật về mặt di truyền, cũng là một trongnhững bào quan được nghiên cứu kĩ lưỡng nhất để tìm hiểu về quá trình di truyền,các rối loạn di truyền, quá trình phát triển cá thể và cả quá trình phát sinh chủngloại liên quan tới NST
NST được cấu tạo từ chất nhiễm sắc bao gồm DNA và prôtêin (chủ yếu làloại Histôn) Phân tử DNA quấn quanh khối cầu prôtêin tạo nên nuclêôxôm là đơn
vị cấu trúc cơ bản theo chiều dọc của NST Mỗi nuclêôxôm gồm 8 phân tử prôtêinhistôn tạo nên khối cầu dẹt phía ngoài được gói bọc bởi 7/4 vòng xoắn DNA cókhoảng 146 cặp nuclêôtit Các nuclêôxôm được nối với nhau bằng các đoạn DNA
và một prôtêin histôn Mỗi đoạn có khoảng 15-100 cặp nuclêôtit Tổ hợp DNA vớiprôtêin histôn tạo thành sợi cơ bản có chiều ngang 11 nm, sợi cơ bản cuộn xoắnthứ cấp thành sợi nhiễm sắc có chiều ngang 30 nm Sợi nhiễm sắc tiếp tục đóngxoắn tạo thành một ống rỗng có chiều ngang 300 nm gọi là sợi siêu xoắn, sợi siêuxoắn tiếp tục đóng xoắn tạo thành crômatit có chiều ngang khoảng 700 nm
Nhờ cấu trúc xoắn cuộn như vậy nên NST có chiều dài ngắn lại khoảng
15000-20000 lần so với chiều dài phân tử DNA NST dài nhất của người chứa DNA dàikhoảng 82 mm, sau khi đóng xoắn cực đại ở kì giữa chỉ dài 10 micrômét sự thugọn cấu trúc không gian như thế thuận lợi cho việc tổ hợp và phân li của NSTtrong quá trình phân bào,còn để thuận tiện di chuyển
Bộ NST là số lượng NST có trong 1 tế bào của 1 loài Tế bào của mỗi loài sinh vật khác nhau thì
có bộ NST khác nhau, đặc trưng về số lượng và hình dạng của mỗi loài Bộ NST chứa các cặp NST tương đồng gọi là bộ NST lưỡng bội (ký hiệu là 2n) Bộ NST trong giao tử chỉ chứa một NST của mỗi cặp tương đồng gọi là bộ NST đơn bội (ký hiệu là n) Số lượng bộ NST trong bộ lưỡng bội không phản ánh được trình độ tiến hóa của loài.
Trang 10Câu 1 Trong hình bên, số 1 là gì?
Câu 2 Gia đình ông Hà sinh được 4 cô con
gái Với bản tính gia trưởng, muốn có con trai
nối dõi tông đường, ông không ngừng trách vợ
không biết sinh con trai Theo em, ông Hà
trách vợ như vậy đã đúng cơ sở khoa học
chưa? Tại sao?
Câu 3 Trong quá trình nghe giảng, Hoa có
nghe cô giáo nhắc đến NST khổng lồ ở tuyến
nước bọt của ruồi giấm, tuy nhiên Hoa chưa
biết nhiều về NST này, em hãy giúp bạn nhé!
Câu 4 Trong quá trình làm tiêu bản rễ hành,
Mai quan sát được 1 giai đoàn các NST xếp
thành 1 hàng trên mặt phẳng xích đạo Cô kết
luận đó là kì sau của nguyên phân, theo em
nhận định đó đúng hay sai? Giải thích
*Hướng dẫn đánh giá
Câu 1 Trong hình bên, số 1 là cromatit
Câu 2 Quan điểm của ông Hà là hoàn toàn sai lầm vì:
Người nữ có bộ NST 22 cặp NST thường+XX, khi giảm phân cho trứng 22A+XNam giới 22 cặp NST thường+XY, khi giảm phân cho trứng 22A+X hoặc 22A+YTinh trùng Y kết hợp với trứng thì sẽ cho con trai
Tinh trùng X kết hợp với trứng thì sẽ cho con gái
Câu 3 NST khổng lồ làT có kích thước lớn, có số lượng sợi lớn hơn rất nhiều sovới NST thường Trong quá trình nguyên phân, NST tự nhân đôi nhiều lần nhưngkhông phân li tạo thành NST có dạng chùm nhiều sợi Kích thước có thể đạt tới250-300mm Dọc theo chiều dài NST khổng lồ phân hóa thành những khoanh bắtmàu đậm nhạt khác nhau Người ta cho rằng các đĩa sẫm màu hơn là nơi tích lũynhiều ADN
Câu 4 Mai trả lời sai vì: NST tập trung thành 1 hàng ở mặt phẳng xích đạo nghĩa
là đang ở kì giữa nguyên phân hoặc giảm phân 1, mà đây là tế bào rễ hành (tế bàoxôma) nên chỉ có thể là nguyên phân
3.2 Chương 2 Tính quy luật của hiện tượng di truyền
Chủ đề 3 Thường biến
Thường biến là những biến đổi ở kiểu hình của cùng một kiểu gen, phát sinhtrong đời cá thể dưới ảnh hưởng trực tiếp của môi trường, không do sự biến đổitrong kiểu gen (không liên quan đến cơ sở di truyền)
Sự nghiên cứu thường biến cho thấy, bố mẹ không truyền cho con những tínhtrạng (kiểu hình) đã được hình thành sẵn mà truyền một kiểu gen quy định cáchphản ứng trước môi trường Kiểu hình (tính trạng hoặc tập hợp các tính trạng) làkết quả sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường Các tính trạng chất lượng phụthuộc chủ yếu vào kiểu gen, thường ít chịu ảnh hưởng của môi trường
Thường biến là loại biến dị đồng loạt theo cùng một hướng xác định đối vớimột nhóm cá thể có cùng kiểu gen và sống trong điều kiện giống nhau Các biếnđổi này tương ứng với điều kiện môi trường
Trang 11Thường biến (sản phẩm của HS trường THPT Lê Lợi)
Thường biến không donhững biến đổi trong kiểugen gây ra nên không ditruyền Tuy nhiên, nhờ cónhững thường biến mà cơthể phản ứng linh hoạt vềkiểu hình, đảm bảo sự thíchứng trước những thay đổinhất thời hoăc theo chu kỳcủa môi trường
Câu 1 Nhà bạn Lan trồng rất nhiều na Một hôm ra vườn vào 1 ngày mùa đônglạnh, Lan thấy chẳng cây na nào còn lá Bạn ấy cho rằng na gần chết Bằng kiếnthức của mình em hãy giải thích cho bạn hiểu
Câu 2 Đặc điểm có ở thường biến mà không có ở đột biến là gì?
Biểu hiện trên cơ thể khi phát sinh
Thay đổi kiểu hình
Xảy ra đồng loạt và theo hướng xác định
Do tác động của môi trường
Câu 3 Trong những điều kiện thích hợp nhất định, lợn Ỉ 9 tháng tuổi đạt 50kg,trong khi đó lợn Đại Bạch 9 tháng tuổi đạt 90kg Kết quả này nói lên điều gì?
Tính trạng cân nặng ở lợn Đại Bạch do nhiều gen quy định hơn lợn Ỉ
Tính trạng cân nặng ở lợn Đại Bạch có mức phản ứng rộng hơn lợn Ỉ
Vai trò của môi trường trong việc quyết định cân nặng
Vai trò của kĩ thuật nuôi dưỡng trong việc quyết định cân nặng
Câu 4 Một loài động vật về mùa đông có bộ lông dày màu trắng lẫn với tuyết; vềmùa hè lông thưa hơn và chuyển sang màu vàng hoặc xám Giải thích hiện tượng
*Hướng dẫn đánh giá
Câu 1 Đây là hiện tượng thường biến Thường biến là loại biến dị đồng loạt theocùng một hướng xác định đối với một nhóm cá thể có cùng kiểu gen và sống trongđiều kiện giống nhau Các biến đổi này tương ứng với điều kiện môi trường.Thường biến không do những biến đổi trong kiểu gen gây ra nên không di truyền.Tuy nhiên, nhờ có những thường biến mà cơ thể phản ứng linh hoạt về kiểu hình,đảm bảo sự thích ứng trước những thay đổi nhất thời hoăc theo chu kỳ của môitrường Cây na rụng lá cũng chỉ là để thích nghi với mùa đông lạnh
Câu 2 Đáp án C
Câu 3 Đáp án B
Câu 4 Sự thay đổi bộ lông của các loài thú này tương ứng với điều kiện môitrường, đảm bảo cho việc thích nghi theo mùa Màu lông bị chi phối bởi yếu tốnhiệt độ Đây là thường biến
Trang 12Chủ đề 4 Biến dị tổ hợp
Biến dị tổ hợp là loại biến dị liên quan đếnvật chất di truyền, là kết quả của sự tái tổ hợpvật chất di truyền Nguyên nhân: Do sự phân
li độc lập và tổ hợp tự do của các nhiễm sắcthể trong quá trình giảm phân; do sự kết hợpngẫu nhiên giữa các loại giao tử trong quátrình thụ tinh; do hoán vị gen
Lai là phương pháp cơ bản tạo ra biến dị tổhợp tạo ra số lượng lớn các kiểu gen khácnhau, biểu hiện ra vô số kiểu hình, là vật liệuphong phú cho chọn giống Dựa vào biến dị
tổ hợp có thể tạo ra giống thuần hay giống có
ưu thế lai cao
Câu 1 Ở thực vật, để tạo ra giống thuần người ta thường làm gì?
A Cho các dòng tự thụ phấn B Cho các dòng giao phối cách xa thế hệ
Câu 2 Đặc điểm nào sau đây là ưu điểm của dòng thuần?
A Các cá thể đồng tính, ổn định năng suất
B Dễ biến động trước sự thay đổi của môi trường
C Con cái đa dạng, năng suất cao
D Không chịu ảnh hưởng của môi trường
Câu 3 Chọn đúng hoặc sai đối với mỗi đặc điểm của con lai có ưu thế lai sau:
Đặc điểm của con lai Đúng/ Sai
1 Năng suất cao hơn thế hệ bố mẹ
2 Phẩm chất tốt hơn thế hệ bố mẹ
3 Khả năng sinh trưởng, phát triển tốt
4 Không đủ sức chống chịu trước sự thay đổi của môi trường
5 Cơ sở của ưu thế lai chính là giả thuyết siêu trội
Câu 4 Ở các giống gà địa phương thường xảy ra giao phối cân huyết Tại saokhông xuất hiện hiện tượng thoái hóa giống?
Do đó lai cận huyết không tạo ra các thế hệ sau bị thoái hóa giống
3.3 Chương 3 Di truyền học quần thể
Chủ đề 5 Di truyền học quần thể
Di truyền học quần thể là một chuyên ngành của di truyền học nghiên cứu
về những khác biệt trong di truyền bên trong và giữa các quần thể, và là một phầncủa sinh học tiến hóa Các nghiên cứu trong nhánh của sinh học này xem xét cáchiện tượng như thích nghi, hình thành loài và cấu trúc quần thể