1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) ỨNG DỤNG CNTT trong ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG THPT HÀM RỒNG

23 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Trong Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Địa Lí Ở Trường THPT Hàm Rồng
Tác giả Trịnh Thị Hương
Trường học Trường THPT Hàm Rồng
Chuyên ngành Địa lí
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thanh Hoá
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để phù hợp với đặc trưngmôn học đồng thời thực hiện tốt quá trình đổi mới phương pháp giáo dục theohướng tích cực hoá hoạt động của học sinh thì việc dạy và học Địa lí trong nhàtrường ph

Trang 1

MỤC LỤC MỤC LỤC

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT HÀM RỒNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ỨNG DỤNG CNTT TRONG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP

DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG THPT

HÀM RỒNG

Người thực hiện: Trịnh Thị Hương Chức vụ: Giáo viên

SKKN thuộc môn: Địa lí

THANH HOÁ NĂM 2022

Trang 2

1 1 Mở đầu. 11.1 Lí do chọn đề tài 11.2 Mục đích nghiên cứu 11.3 Đối tượng nghiên cứu: 31.4 Phương pháp nghiên cứu 31.5 Điểm mới của đề tài 3

2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 32.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh

nghiệm

4

2.3 Các giải pháp thực hiện 52.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động

giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường

14

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 3

1 GD &ĐT Giáo dục và đào tạo

2 CNTT Công nghệ thông tin

Trang 4

1 Mở đầu.

1.1 Lí do chọn đề tài

Định hướng cải cách biện pháp dạy và học được thực hiện trong nghịquyết Trung ương 4 khóa VII (1 – 1993), nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII(12 – 1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12 – 1998), được cụ thể hóatrong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4 – 1999)

Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi: “Biện pháp giáo dục phổ quát phải phát huy tính hăng hái, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; ăn nhập với đặc điểm của tầng lớp học, môn học; bồi bổ biện pháp tự học, rèn luyện năng lực áp dụng tri thức vào thực tiễn; tác động đến tính cách, đem lại niềm vui, hứng thú học hỏi cho học sinh” Có thể nói cốt lõi của cải cách dạy và học là hướng tới hoạt

động học hỏi chủ động, chống lại thói quen học hỏi thụ động

Cũng như các môn học khác trong nhà trường phổ thông môn Địa lí cũngđang đứng trước những cơ hội và thách thức mới Để phù hợp với đặc trưngmôn học đồng thời thực hiện tốt quá trình đổi mới phương pháp giáo dục theohướng tích cực hoá hoạt động của học sinh thì việc dạy và học Địa lí trong nhàtrường phổ thông muốn đạt hiệu quả cao cần phải có sự kết hợp nhuần nhuyễntrong việc khai thác hệ thống kênh chữ và kênh hình Sở dĩ như vậy vì kênh hìnhngoài chức năng đóng vai trò là phương tiện trực quan minh hoạ cho kênh chữ

nó còn là một nguồn tri thức lớn có khả năng phát huy tính tích cực chủ độngsáng tạo của học sinh trong quá trình học tập Bên cạnh đó thông qua kênh hìnhcon đường nhận thức của học sinh được hình thành, giúp cho học sinh tự mìnhphát hiện và khắc sâu kiến thức Khai thác kênh hình còn giúp cho giáo viên tổchức việc dạy và học theo đặc trưng bộ môn nhằm đạt hiệu quả cao

Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học một trong những phươngpháp giúp học sinh học tập hiệu quả hơn về mọi mặt, đặc biệt là khả năng tựgiáo dục Đây là phương pháp đào tạo theo tiếp cận mục tiêu dựa trên năng lựcthực hiện với các đặc tính mở, tính mềm dẻo và linh hoạt cao Áp dụng CNTTtrong dạy học Địa lí giúp học sinh chủ động tìm hiểu, nghiên cứu nhằm nângcao nhận thức, sức hấp dẫn lôi cuốn học sinh làm tăng tính phong phú đa dạng

và khả năng tự giáo dục thông qua các hoạt động phát huy tính tích cực trong tưduy và liên hệ thực tiễn Từ thực tế trên, tác giả quyết định thực hiện đề tài sáng

kiến kinh nghiệm năm nay: “Ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp

dạy học môn Địa lí ở trường THPT Hàm Rồng”.

Trang 5

thuộc vào sự phát triển của khoa học công nghệ Tuy nhiên, để có được một nềnkhoa học công nghệ phát triển thì nền kinh tế tri thức phải được ưu tiên hàngđầu, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục thể hiện sự lớn mạnh vềnền khoa học, công nghệ, kinh tế và nó sẽ làm thay đổi căn bản bức tranh tổngthể của nền kinh tế tri thức đó.

Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của khoahọc kỹ thuật và công nghệ hiện đại mà công nghệ thông tin là một trong 4 trụ cột(cùng với công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng và công nghệ vật liệu xâydựng) và bước hẳn cách mạng 4.0 Sự ra đời, phát triển của công nghệ thông tin

là sự tích hợp đồng thời các tiến bộ về công nghệ và về tổ chức thông tin Đó làbước tiến vĩ đại của nhân loại Nhưng đồng thời, còn vĩ đại hơn nữa, là côngnghệ thông tin tham gia trực tiếp việc tạo ra những con người năng lực hơn theomột phương thức hiện đại Có thể nói rằng, công nghệ thông tin vừa là kỹ thuật,kinh tế, vừa là văn hóa Trong thời đại của chúng ta sự bùng nổ công nghệ thôngtin đã tác động đến công cuộc phát triển kinh tế xã hội loài người Đảng và Nhànước ta đã xác định rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của công nghệ thông tin,truyền thông cũng như yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đào tạonguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở cửa và hộinhập, hướng tới nền kinh tế tri thức Chỉ thị 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ

trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ: “Đối với giáo dục và đào tạo, công

nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, phương thức dạy và học Công nghệ thông tin là phương tiện để tiến tới một xã hội học tập”.

Công nghệ thông tin không chỉ giúp cho hoạt động của con người đạt hiệu quảhơn mà còn tham gia tích cực, trực tiếp trong việc tạo ra những con người nănglực hơn Loài người thuở xưa đã dùng que gậy, rồi dùng đồ đá, đồ đồng, rồi tiếnlên dùng đồ sắt; từ công cụ thủ công tới cơ giới, cơ giới tự động, rồi điện tử, rồi

vi tính Mỗi bước tiến như vậy về công cụ lao động kéo theo những bước pháttriển nhảy vọt của các nền văn minh Trong thế giới hiện đại, những thành tựucủa khoa học-công nghệ (KH - CN) đang đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyêncông nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và kinh tế tri thức, tác động tới tất cả mọilĩnh vực, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của

xã hội Kho tàng kiến thức của nhân loại ngày càng đa dạng và phong phú

Trong điều kiện đó, việc toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế là xu thế tất yếukhách quan của các nước đang phát triển Các phương tiện truyền thông, mạngviễn thông, Internet tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu, hội nhập văn hóa vàcũng là điều kiện thuận lợi cho việc đổi mới và phát triển giáo dục Nhà trường

từ chỗ hoạt động khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội,gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu KH - CN và ứng dụng; Giáo viên thay vì chỉ

Trang 6

truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhậnthông tin một cách tự lực, có phân tích và tổng hợp.

“Chúng ta đang sống trong một xã hội mà người ta gọi là một xã hội tri thức hay một xã hội thông tin Điều này có nghĩa rằng những sản phẩm đầu ra mang tính công nghiệp trong xã hội của chúng ta đã mất đi cái tầm quan trọng của nó Thay vào đó là những “dịch vụ” và “những sản phẩm tri thức” Trong một xã hội như vậy, thông tin đã trở thành một loại hàng hoá cực kì quan trọng Máy vi tính và những kĩ thuật liên quan đã đóng một vai trò chủ yếu trong việc lưu trữ và truyền tải thông tin và tri thức Thực tế này yêu cầu các nhà trường phải đưa các kĩ năng công nghệ vào trong chương trình giảng dạy của mình Một trường học mà không có công nghệ thông tin là một nhà trường không quan tâm gì tới các sự kiện đang xảy ra trong xã hội”.

Ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học thể hiện ở các yếu

tố sau:

+ Sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ giáo viên trong việc soạn giáo

án, sưu tầm và in ấn tài liệu…, chưa sử dụng trong việc tổ chức các tiết học cụthể của từng môn học

+ Sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ một khâu, một công việc nào đótrong toàn bộ quá trình dạy học

+ Sử dụng phần mềm dạy học để tổ chức lên lớp một tiết học, một chủ đềhoặc một chương trình học tập

+ Tích hợp công nghệ thông tin vào toàn bộ quá trình dạy học

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

- Giáo viên trong giảng dạy tại trường THPT Hàm Rồng tỉnh Thanh Hóa

- Học sinh lớp 10, 12 trường THPT Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

- Kinh nghiệm thực tế của việc giảng dạy địa lí lớp10, 12 và chấm thi tốtnghiệp THPT, chấm thi Đại học khối C trong nhiều năm

- Phương pháp thử nghiệm

- Các phương pháp có liên quan đến lí luận dạy học đổi mới

1.5 Điểm mới của đề tài.

- Chỉ rõ vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

- Là cơ sở lý luận chung cho giáo viên trong quá trình ứng dụng côngnghệ thông tin trong dạy và học

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Công nghệ tin học là một lĩnh vực đột phá có vai trò lớn trong việc thúcđẩy phát triển kinh tế và xã hội Thúc đẩy mạnh mẽ quá trình công nghiệp hoáhiện đại hoá đất nước Đối với lĩnh vực giáo dục đào tạo, công nghệ thông tin có

Trang 7

tác dụng làm thay đổi mạnh mẽ phương pháp, phương thức dạy học nhất là khinền giáo dục của nước ta bước sang thế kỉ 21, thế kỉ của công nghệ thông tin.

Để đạt được mục tiêu đó, trong những năm gần đây việc ứng dụng CNTTvào dạy học đã và đang trở thành một xu thế phát triển mạnh mẽ ở các trườnghọc, cấp học

Sử dụng CNTT vào các tiết dạy tôi cảm thấy các em rất hứng thú học tập

và tiếp thu bài nhanh hơn, đồng thời giáo viên đỡ mất thời gian trong việc giảithích, thuyết trình các hiện tượng hoặc đối tượng mà học sinh cần nghiên cứu

Vì vậy, tiết học trở nên nhẹ nhàng hơn rất nhiều so với những tiết dạy không có

sử dụng đồ dùng dạy học trực quan

Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật đã xuấthiện nhiều phương tiện dạy học trực quan trong đó phương tiện nghe nhìn chiếmmột vị trí rất quan trọng Tôi đã tìm hiểu và ứng dụng thực tế, cuối cùng tôi đãchọn được một số phương tiện ứng dụng CNTT vào việc giảng dạy Cụ thể là sửdụng phần mềm đa phương tiện Microsoft Power Point; Violet; Lecture Makertrong công tác dạy học

Vì vậy chúng ta cần phải thấy được những ưu điểm của việc ứng dụngCNTT vào dạy học để phát huy được những điểm mạnh của nó Đây cũng chính

là nền tảng để kích thích sự hứng thú học tập của các em, từ đó các em sẽ chủđộng và sáng tạo hơn trong học tập

Trong vấn đề đổi mới giáo dục phổ thông, ngoài việc đổi mới phươngpháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh còn mộtvấn đề quan trọng đó là phải đổi mới việc sử dụng các phương tiện dạy học.Phương tiện dạy học là hình ảnh kép của phương pháp dạy học, mỗi phươngpháp dạy học, đòi hỏi phải có phương tiện dạy học phù hợp, nói đến phươngpháp dạy học là nói đến phương tiện dạy học Để thực hiện tốt viêc thực hiện đổimới giáo dục phổ thông và cụ thể hơn, để có thể hỗ trợ tích cực cho việc đổi mớiphương pháp dạy học, cần phải sử dụng các phương tiện hiện đại trong giảngdạy, đặc biệt sử dụng Powpoint trong dạy học Địa lí

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Ở Việt Nam hiện nay, các kiểu PPDH ở THPT được sử dụng phổ biếngồm: thông báo - tái hiện, làm mẫu - bắt chước Mặc dù các kiểu PPDH mớinhư: giải thích - tìm kiếm bộ phận, nêu vấn đề - nghiên cứu,… ngày càng đượcchú ý nhiều hơn, nhưng thực tế thì vẫn còn sử dụng PPDH cũ, vẫn còn theo lốitruyền thụ một chiều, “thầy đọc - trò chép”, chưa phát huy đầy đủ tính tích cực,độc lập của HS và bồi dưỡng cho họ năng lực tự học, tự nghiên cứu Việc tổchức hướng dẫn cho HS tự học, đọc sách, semina, thảo luận,… chưa được chútrọng đúng mức Giờ thực hành, rèn luyện kỹ năng còn ít, chưa đặt ra yêu cầucao đối với HS trong học tập, trong nghiên cứu khoa học Khả năng tự học, tự

Trang 8

phát triển của HS còn kém, HS quen với nghe và ghi, không quen với tự đọc và

tự tóm lược,… Phần lớn các đề thi cuối môn học chỉ nhằm đánh giá HS thuộcbài đến mức nào, kết quả phổ biến là HS chỉ học theo bài giảng của thầy, khôngtham khảo tài liệu, không học theo lối tư duy phê phán, tư duy sáng tạo để dẫnđến có năng lực giải quyết vấn đề

Với các PPDH như trên, tất yếu dẫn đến cách học thụ động, đối phó của

HS Theo số liệu điều tra tại các lớp tôi trực tiếp giảng dạy thì có tới hơn 70% số

HS chỉ học trong vở ghi Số HS đọc thêm tài liệu tham khảo, liên hệ thực tế, vậndụng kiến thức vào thực tiễn chiếm tỷ lệ không cao Chỉ có 7,6% số HS trongquá trình học biết tự nêu và giải quyết vấn đề Với kết quả như trên rõ ràngPPDH của chúng ta có vấn đề Và kết quả là các em sẽ thực sự chật vật khi tiếpcận kiến thức và PP học tập ở các trường ĐH, CĐ

2.3 Các giải pháp thực hiện.

Trước xu hướng toàn cầu hóa và việc hình thành một nền kinh tế “mạng”,

đã dẫn đến mối quan hệ khăng khít không thể tách rời giữa máy vi tính vớimạng viễn thông và tạo nên một khái niệm mới là CNTT và truyền Đây là mộtngành công nghệ mới đang phát triển với tốc độ cao Đó là tổng thể các phươngtiện xử lý dữ liệu, giữ, truyền và phản ánh các sản phẩm thông tin, được cấu trúcthành ba bộ phận:

- Giáo viên phải chủ động tự bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học của mình

- Tốt nhất khi dạy phải sử dụng máy chiếu có kết hợp ghi sườn bài lên bảng

- Khi đưa ra một nội dung có kèm hình ảnh, bản đồ, biểu đồ yêu cầu họcsinh nghiên cứu, thảo luận, chúng ta phải sát sao, kiểm tra việc thực hiện của các

em, cho các em tự đưa ra kết luận, tự góp ý, đánh giá, sau đó với đưa kết quả ra

để các em so sánh và chấm điểm cho nhau

- Nên qui định trang với hai nền màu khác nhau, hoặc hai loại màu chữkhác nhau để phân biệt phần cần ghi bài và những phần khác Nội dung đưa lênmỗi trang phải ngắn gọn, xúc tích, có chọn lọc để nội dung bài không bị loãng

- Bộ phận công nghệ máy tính: máy tính, thiết bị điện tử, công nghiệpphần cứng (chủ yếu là tạo ra phương tiện, công cụ để phục vụ trực tiếp côngnghệ truyền thông), công nghệ phần mềm (nhằm nâng cao, mở rộng, phát triểnhiệu quả của công nghệ phần cứng, của máy tính điện tử,…) và các dịch vụ khác(thương mại điện tử, thư điện tử,…)

- Công nghệ nội dung thông tin: gồm các dữ liệu, số liệu, hình ảnh, cáchoạt động, của xã hội về mọi mặt: văn hóa, thể thao, nghệ thuật, KH - CN, giáodục - đào tạo, vui chơi - giải trí,… ở trong quá khứ, hiện tại, và tương lai Nóichung, đó là kho tư liệu khổng lồ của nhân loại

Hai bộ phận trên liên kết lại với nhau tạo thành một tiềm năng vô cùng tolớn Đó là mạng thiết bị kỹ thuật đa năng, tạo thành xương sống của cơ sở hạtầng thông tin quốc gia và toàn cầu

Trang 9

Thực chất của quá trình ứng dụng CNTT trong dạy học là sử dụng cácphương tiện để khuyếch đại, mở rộng khả năng nghe nhìn và trao cho máy cácthao tác truyền đạt, xử lý thông tin Các phương tiện đó được xem như các công

cụ lao động trí tuệ mới bao gồm: máy vi tính, video, máy chiếu qua đầu (overhead), máy chiếu tinh thể lỏng (LCD-Projector), máy quay kỹ thuật số, các phầnmềm cơ bản: xây dựng thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, CD-ROM,… đặcbiệt là mạng Internet Trong đó máy vi tính đóng vai trò là trung tâm phối hợp,

xử lý mọi hình thức thể hiện và thao tác truyền đạt thông tin Máy vi tính kếthợp với một số phần mềm tạo nên một công cụ hỗ trợ có nhiều chức năng to lớnnhư: có thể tạo nên, lưu giữ, sắp xếp, sửa đổi, hiển thị lại,… một khối lượngthông tin vô cùng lớn một cách nhanh chóng, dễ thực hiện Do vậy, máy vi tínhđược xem như là một công cụ dạy học không thể thiếu trong một xã hội hiện đại

Theo quy định của Sở Giáo dục và Đào tạo thì tất cả giáo viên điều phảibiết sử dụng máy vi tính và ít nhất phải có chứng chỉ A tin học Tuy vậy cóchứng chỉ A tin học, sử dụng thành thạo máy vi tính nhưng khi áp dụng soạngiáo án điện tử lại là một điều không đơn giản

Phần lớn các giáo viên ngại sử dụng giáo án điện tử trong giảng dạy vìcho rằng sẽ tốn thời gian để chuẩn bị bài giảng Để tạo được những hình ảnhđẹp, sống động trên các Slide đòi hỏi phải mất nhiều thời gian chuẩn bị và đâychính là điều mà giáo viên rất ái ngại

Chính vì những khó khăn gặp phải khi sử dụng giáo án điện tử mà cácgiáo viên chủ yếu chỉ ứng dụng Công nghệ thông tin trong các tiết thao giảng,còn ngoài ra rất ít khi sử dụng nó trong các tiết dạy thông thường

Để thiết kế được một giáo án điện tử phục vụ cho tiết dạy, người giáoviên cần có những kiến thức cơ bản như:

- Biết sử dụng máy vi tính;

- Biết sử dụng phần mềm PowerPoint;

- Biết truy cập Internet;

- Biết cách sử dụng máy chiếu (Projector)

Lý do mà tác giả đưa ra các yêu cầu trên vì:

Thứ nhất: Có biết cách sử dụng máy vi tính thì chúng ta mới có thể mở

máy, tắt máy, chọn những chương trình làm việc thích hợp với nhu cầu củamình Biết cách sao chép, lưu trữ, tìm kiếm tài liệu

Thứ hai: Để tạo được một giáo án điện tử nhất thiết phải biết cách sử

dụng phần mềm trình diễn PowerPoint (trong bản sáng kiến này tôi đề cập đếnphần mềm PowerPoint) Đây là phần mềm có sẵn trong bộ MS Office, dùng đểtạo các Slide trình diễn đa dạng trên máy tính Nếu chỉ dừng ở mức gõ nhữngnội dung cần thiết cộng thêm những định dạng về Font chữ, màu sắc thì có lẽgiáo viên nào cũng làm được Nhưng nếu chỉ đơn giản thế thì chúng ta chưa thấy

Trang 10

được hết tính năng của phần mềm này, do đó chúng ta phải biết cách sử dụng và

sử dụng thành thạo thì mới phát huy được tính hiệu quả của việc ứng dụng côngnghệ thông tin trong giảng dạy

Thứ ba: Khi sử dụng giáo án điện tử, bài dạy của chúng ta sinh động hơn

so với cách dạy thông thường Ngoài ra chúng ta còn có thể làm cho bài dạy củamình ngoài việc sinh động còn phải phong phú Hiện tại trên Internet có rất nhiềuhình ảnh có thể phục vụ cho bài giảng của chúng ta Chính vì vậy chúng ta cầnphải biết cách truy cập vào Internet tìm kiếm những thông tin, hình ảnh phù hợpvới nội dung bài học, làm cho tiết dạy sinh động và phong phú hơn Chẳng hạnkhi dạy các môn học như: Lịch sử, Địa lí thậm chí là cả Ngữ văn, Vật lý, Hóahọc… nếu được thiết kế bằng giáo án điện tử, bài giảng thường đi kèm với nhiềuhình ảnh minh họa nên sẽ sinh động, hấp dẫn và khiến học sinh háo hức hơn

Lúc này Internet sẽ là một người bạn hỗ trợ đắc lực cho chúng ta, haychúng ta có thể tìm những đoạn phim tư liệu có liên quan để minh họa cho bàidạy, sẽ làm tăng thêm tính thuyết phục, tính chân thực của các đơn vị kiến thức

Bài giảng sau khi thiết kế sẽ được trình chiếu lên màn hình thông qua máychiếu Nghĩa là dù muốn hay không giáo viên buộc phải biết cách sử dụng nó.Đây là một trong những yêu cầu bắt buộc đối với giáo viên, chỉ cần một vài thaotác lắp máy chiếu với CPU của máy tính và điều chỉnh độ lớn, độ nét trên mànhình giáo viên chắc hẳn sẽ có một bài giảng chất lượng, học trò sẽ có không khíhọc thoải mái hơn

Nhờ các GAĐT mà các giáo viên đã tạo ra một không khí khác hẳn so vớigiờ dạy truyền thống Học sinh buộc phải tập trung nghe giảng và tư duy nhiềuhơn trong các giờ học Tuy nhiên, tối thiểu người dạy phải có một kiến thức nhấtđịnh chẳng hạn như sử dụng được phần mềm trình diễn PowerPoint để trình bàybài giảng và cần phải có quan niệm các phương tiện kỹ thuật được đề cập trên làcác phương tiện hỗ trợ cho việc giảng dạy chứ không thể thay thế vai trò chủđạo của người thầy trong giờ lên lớp

Trang 11

II THIẾT BỊ DẠY HỌC

SỬ DỤNG GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ

III HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

* Hoạt động học tập:

1 HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG

- Học sinh nhớ lại những kiến thức về thủy quyển đã học ở bậc THCS Liên

hệ thực tiễn, kích thích tính tò mò, mong muốn được tìm hiểu kiến thức, kỹ năngbài mới

- Giáo viên trình chiếu các hình ảnh, HS quan sát các hình ảnh trên máychiếu có liên quan để từ đó tìm ra các từ khóa về sóng biển, thủy triều, dòng biển

2 HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI

Hoạt động 2.1 Tìm hiểu về sóng biển

a) Mục đích: Học sinh mô tả và giải thích được nguyên nhân sinh ra hiện tượng

sóng biển, sóng thần, khơi dậy phẩm chất nhân ái trong học sinh trước nạn nhân của những đợt sóng thần

b) Nội dung: Học sinh quan sát máy chiếu, sử dụng SGK để tìm hiểu nội dung

kiến thức theo yêu cầu của GV

c) Sản phẩm: Học sinh hoàn thành tìm hiểu kiến thức:

- Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ: Giáo viên yêu cầu HS quan sát các hình ảnh

tư liệu kết hợp đọc SGK và vốn hiểu biết của bản thân để trả lời câu hỏi:

+ Câu hỏi 1: Em hãy cho biết sóng là gì?

+ Câu hỏi 2: Nguyên nhân tạo ra sóng?

+ Câu hỏi 3: Sóng thần có đặc điểm gì?

+ Câu hỏi 4: Nguyên nhân sinh ra sóng thần?

Ngày đăng: 05/06/2022, 10:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Chương trình Giáo dục phổ thông, Chương trình tổng thể, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Giáo dục phổ thông,Chương trình tổng thể
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2017
[3]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (năm 2018), tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông hạng II, nhà xuất bản giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩnchức danh nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông hạng II
Nhà XB: nhà xuất bảngiáo dục Việt Nam
[6]. Lê Thông (Tổng chủ biên) (2008), Địa lí 10, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí 10
Tác giả: Lê Thông (Tổng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2008
[8]. Phạm Thị Sen (Chủ biên) (2008), Đổi mới thiết kế bài giảng địa lí 10, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới thiết kế bài giảng địa lí 10
Tác giả: Phạm Thị Sen (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2008
[2]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu bỗi dưỡng thường xuyên. Module THPT Khác
[4]. Đinh Văn Nhật, PPDH Địa lí, Trường Đại học SPHN Khác
[5]. Giáo trình tâm lí học đại cương (2015). Trường đại học luật Hà Nội.Nhà xuất bản Công an nhân dân Hà Nội Khác
[7]. Nguyễn Đăng Chúng - Nguyễn Đức Vũ, Tìm hiểu kiến thức địa lí trong nhà trường, NXB giáo dục Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

+ Học sinh quan sát các hình ảnh tư liệu, nghiên cứu nội dung SGK, tài liệu hoàn thành các câu hỏi - (SKKN 2022) ỨNG DỤNG CNTT trong ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG THPT HÀM RỒNG
c sinh quan sát các hình ảnh tư liệu, nghiên cứu nội dung SGK, tài liệu hoàn thành các câu hỏi (Trang 12)
Được hình thành chủ yếu do sức hút của Mặt Trăng và Mặt Trời. - (SKKN 2022) ỨNG DỤNG CNTT trong ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG THPT HÀM RỒNG
c hình thành chủ yếu do sức hút của Mặt Trăng và Mặt Trời (Trang 12)
Giáo viên chiếu một số hình ảnh, video về thủy triều, yêu cầu Học sinh tham khảo SGK, vốn hiểu biết, thảo luận theo cặp nhóm hoàn thành phiếu học tập sau: - (SKKN 2022) ỨNG DỤNG CNTT trong ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG THPT HÀM RỒNG
i áo viên chiếu một số hình ảnh, video về thủy triều, yêu cầu Học sinh tham khảo SGK, vốn hiểu biết, thảo luận theo cặp nhóm hoàn thành phiếu học tập sau: (Trang 13)
61), hình 16.4 ghép thông tin cộ tA với cột B sao cho đúng. - (SKKN 2022) ỨNG DỤNG CNTT trong ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG THPT HÀM RỒNG
61 , hình 16.4 ghép thông tin cộ tA với cột B sao cho đúng (Trang 15)
Hình thức: theo cặp. Thời gian: 1 phút. - (SKKN 2022) ỨNG DỤNG CNTT trong ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG THPT HÀM RỒNG
Hình th ức: theo cặp. Thời gian: 1 phút (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w