1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học văn bản bài ca ngất ngưởng của nguyễn công trứ

25 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề (SKKN 2022) Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học văn bản Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ
Tác giả Đinh Thị Duyên
Trường học Trường THPT Vĩnh Lộc
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 278 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT VĨNH LỘC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC VĂN BẢN “BÀI CA NGẤT NGƯỞNG” CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ Người thự

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT VĨNH LỘC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM

TRONG DẠY HỌC VĂN BẢN “BÀI CA NGẤT NGƯỞNG”

CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ

Người thực hiện: Đinh Thị Duyên Chức vụ: Giáo viên

SKKN thuộc môn: Ngữ văn

THANH HOÁ, NĂM 2022

Trang 2

MỤC LỤC

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 22.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 42.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 62.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,

với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường

19

Trang 3

1 Mở đầu

1.1 Lí do chọn đề tài.

Trong những năm gần đây, rất nhiều học sinh có xu hướng coi nhẹ vàchán học môn văn, yếu kém về năng lực cảm thụ văn chương, lạnh lùng vô cảmtrước nỗi đau của những số phận trong tác phẩm cũng như ngoài đời sống Cóthể nói đây là hệ quả tất yếu của phương pháp dạy học văn truyền thống Đó làlối dạy truyền thụ một chiều, thầy đọc, trò ghi, thầy say sưa giảng bài, trò tiếpnhận thụ động và ghi nhớ một cách máy móc Vì thế giờ học trở nên buồn tẻ,không khí lớp học nặng nề, căng thẳng, không gợi được ở các em niềm hứngthú Để khắc phục lối truyền thụ tri thức một chiều, lối học thụ động, máy mócnày, đòi hỏi người giáo viên phải sử dụng phối hợp nhiều phương pháp, phươngpháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại, trong đó phươngpháp dạy học thảo luận nhóm được rất nhiều nhà giáo dục quan tâm và đượcđánh giá là có hiệu quả Với phương pháp này, người học sẽ tự giác, tích cực,chủ động tiếp thu kiến thức, đồng thời có điều kiện bộc lộ suy nghĩ của mình,tạo không khí học tập sôi nổi, kích thích tất cả học sinh tham gia vào quá trìnhhọc tập, đáp ứng mục tiêu giáo dục đề ra: “lấy học sinh làm trung tâm”

Nguyễn Công Trứ không chỉ là nhà chính trị, nhà quân sự lỗi lạc mà ôngcòn là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc Nói đến sự nghiệp văn chương củaNguyễn Công Trứ, người ta không thể không nhắc đến thơ hát nói Ông đượcxem là ông hoàng của thể hát nói Nói đến thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ

nức danh nhất là “Bài ca ngất ngưởng” Đây là kiệt tác tiêu biểu cho cá tính và

phong cách văn chương của Nguyễn Công Trứ Bởi vậy, tác phẩm được tuyển,dẫn trong hầu hết các công trình biên soạn, nghiên cứu về ông và cũng được đưavào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn lớp 11 tập 1 Bài thơ được làm theomột thể loại văn học tương đối khó Mặt khác, thời gian tác phẩm ra đời có mộtkhoảng cách vô cùng lớn đối với các em học sinh hiện nay Do đó, người dạygặp khó khăn trong soạn giảng, còn người học gặp khó khăn trong việc tiếpnhận văn bản

Xuất phát từ những lý do trên, với mong muốn góp phần cải tiến phươngpháp dạy học, nâng cao hiệu quả dạy học văn, đồng thời phát huy tính chủ động,sáng tạo và rèn luyện một số kỹ năng tiếp nhận văn bản cho học sinh, tôi mạnhdạn trao đổi và chia sẻ cùng đồng nghiệp sáng kiến kinh nghiệm: Vận dụngphương pháp thảo luận nhóm trong dạy học văn bản “Bài ca ngất ngưởng”của Nguyễn Công Trứ

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Thông qua đề tài nghiên cứu, người viết đề xuất một cách dạy học văn

bản “Bài ca ngất ngưởng” để tìm ra một hướng đi mới trong dạy học Ngữ văn

nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy của bản thân, tạo động lực, hứngthú, tình yêu, sự say mê với môn học cho các em, góp phần vào công cuộc đổimới toàn diện phương pháp dạy học Ngữ văn

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

- Phương pháp dạy học thảo luận nhóm

- Hoạt động dạy học văn bản “Bài ca ngất ngưởng”

- Đối tượng thực nghiệm

Trang 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng kết hợp nhiều phươngpháp nghiên cứu khác nhau như:

- Phương pháp nghiên cứu lý luận:

+ Nghiên cứu các cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài

+ Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa lớp 11 chương trình

cơ bản, tài liệu chuẩn kiến thức kĩ năng và các tài liệu của nhiều tác giả khác

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Trao đổi tổng kết kinh nghiệm dạy học.+ Thực nghiệm sư phạm: Nhằm xác định hiệu quả của nội dung đề xuất

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

2.1.1 Định nghĩa phương pháp thảo luận nhóm.

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp thảo luận nhóm

Theo tác giả Nguyễn Văn Cường “Dạy học nhóm là một hình thức xã hội của dạy học, trong đó học sinh của lớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau

đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp” [1] Tác giả Phan Trọng Ngọ cũng cho rằng:“Thảo luận nhóm là phương pháp trong đó nhóm lớn (lớp học) được chia thành những nhóm nhỏ để tất cả các thành viên trong lớp đều được làm việc và thảo luận về một chủ đề cụ thể và đưa ra ý kiến chung của nhóm mình về vấn đề đó.” [2] Thống nhất với các quan điểm trên, Nguyễn Trọng Sửu trong công trình “Dạy học nhóm - phương pháp dạy học tích cực” viết: “Dạy học nhóm là một hình thức của xã hội học tập, trong đó học sinh của một lớp được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian nhất định, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc, kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước lớp”[3]

Từ các định nghĩa trên, chúng ta có thể đi đến kết luận: Thảo luận nhóm

là một phương pháp dạy học hiện đại, lấy người học làm trung tâm Với phươngpháp này, người học được làm việc cùng nhau theo các nhóm nhỏ và mỗi mộtthành viên trong nhóm đều có cơ hội tham gia vào giải quyết các nhiệm vụ họctập trong một khoảng thời gian nhất định dưới sự hướng dẫn của giáo viên

2.1.2 Mục đích của phương pháp thảo luận nhóm.

Nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, tự lực của học sinh: Trong thảoluận nhóm, học sinh phải tự giải quyết nhiệm vụ học tập, đòi hỏi sự tham giatích cực của các thành viên, đồng thời các thành viên cũng có trách nhiệm về kếtquả làm việc của mình

Phát triển năng lực cộng tác làm việc của học sinh: Học sinh được luyệntập kỹ năng cộng tác, làm việc với tinh thần đồng đội, các thành viên có sự quantâm và khoan dung trong cách sống, cách ứng xử…

Giúp cho học sinh có điều kiện trao đổi, rèn luyện khả năng ngôn ngữthông qua hợp tác làm việc trong nhóm, phát triển năng lực giao tiếp, biết lắngnghe, chấp nhận và phê phán ý kiến người khác Đồng thời, các em biết đưa ranhững ý kiến và bảo vệ ý kiến của mình

Trang 5

Giúp cho học sinh có sự tự tin trong học tập, vì học sinh học tập theo hìnhthức hợp tác và qua giao tiếp xã hội - lớp học, cho nên các em sẽ mạnh dạn vàkhông sợ mắc phải những sai lầm

Hình thành phương pháp nghiên khoa học cho học sinh: Thông qua thảoluận nhóm, nhất là quá trình tự lực giải quyết các vấn đề bài học, các em hìnhthành dần phương pháp nghiên cứu khoa học, rèn luyện và phát triển năng lựckhoa học trong mọi vấn đề cuộc sống

Tăng cường tri thức, hiệu quả trong học tập: Áp dụng phương pháp dạy họcnày, học sinh có thể nắm bài ngay trên lớp, hình thành những tri thức sáng tạothông qua sự tự tư duy của mỗi thành viên, khích thích học sinh tìm kiếm nhữngnguồn tri thức có liên quan đến vấn đề thảo luận Trên cơ sở đó, các em sẽ thulượm những kiến thức cho bản thân thông qua quá trình tìm kiếm tri thức

2.1.3 Nhiệm vụ của giáo viên và học sinh trong giờ thảo luận nhóm 2.1.3.1 Nhiệm vụ của giáo viên:

Trước khi tiến hành thảo luận nhóm, giáo viên cần chuẩn bị vấn đề thảoluận Vấn đề phù hợp với phương pháp thảo luận nhóm là vấn đề có tính chấttranh luận Một vấn đề có tính tranh luận là vấn đề có nhiều cách lí giải, suytưởng, đôi khi có mâu thuẫn Sự thành công của thảo luận nhóm là giáo viên đưa

ra được các vấn đề thú vị, thách thức học sinh trả lời, buộc học sinh cùng nhauhợp tác để tìm ra câu trả lời

Tiếp theo, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm và đọc tài liệu liên quan đếnvấn đề thảo luận Tài liệu bao gồm sách giáo khoa và các tài liệu khác sách thamkhảo, phim ảnh…

Sau cùng, giáo viên tiến hành phân nhóm Việc thành lập nhóm dựa trên sốlượng học sinh trong lớp và nội dung bài học Số lượng thành viên trong nhómtối ưu là từ 4 đến 7 người Cách chia nhóm có thể hoàn toàn ngẫu nhiên, hoặctùy theo tiêu chuẩn của giáo viên

Khi học sinh thảo luận nhóm, giáo viên di chuyển chung quanh các nhóm,

im lặng quan sát các nhóm làm việc Khi học sinh gặp khó khăn, bế tắc haytranh luận ngoài đề, giáo viên kịp thời can thiệp, hướng dẫn nhóm ra khỏi bế tắchoặc quay lại vấn đề đang thảo luận Hướng dẫn ở đây là đưa ra vài chi tiết liênquan đến giải pháp, đặt lại câu hỏi cho sáng rõ hơn chứ không đưa ra giải pháp.Nếu nhóm im lặng quá lâu do hết ý hay không ai có ý kiến, giáo viên tìm hiểu lí

do và đặt câu hỏi cho học sinh trả lời Trường hợp trong nhóm có thành viên

“ngôi sao” hoặc có thành viên quá nhút nhát, giáo viên khéo léo giải quyết vấn

đề bằng cách cho rằng ý kiến của thành viên nổi trội là đáng ghi nhận nhưnggiáo viên muốn nghe ý kiến của học sinh nhút nhát

Cuối buổi thảo luận, nhiệm vụ của giáo viên là nhận xét, bổ sung, địnhhướng đúng vấn đề, ghi nhận đóng góp của nhóm, cho điểm

2.1.3.2 Nhiệm vụ của học sinh:

Học sinh phải chuẩn bị ý kiến cho vấn đề thảo luận, tham gia thảo luận.Nếu ý kiến trùng với ý kiến của bạn đã đề cập trước thì học sinh cần phải bổ túcthêm hay đưa ra một ý khác

Học sinh bảo vệ ý kiến của mình bằng những dẫn chứng, lí lẽ thuyết phục.Nếu ý kiến của bản thân khác với ý kiến của cả nhóm và phải chấp nhận ý kiến

Trang 6

đúng đắn Trong khi thảo luận, học sinh cần ghi chép những ý kiến thảo luậntrên vở nháp

Cuối buổi thảo luận, học sinh nhóm trưởng có trách nhiệm trình bày ý kiếncủa nhóm trước lớp

2.1.4 Các bước tiến hành thảo luận nhóm.

Bước 1: Sau khi chia nhóm, giáo viên giới thiệu nội dung và cung cấpthông tin, định hướng cho việc thảo luận và đề ra nhiệm vụ cụ thể cho các nhóm.Bước 2: Thảo luận nhóm: từng nhóm ngồi từng cụm với nhau để dễ dàngtrao đổi ý kiến, giáo viên dễ dàng quan sát, động viên hoặc gợi ý nếu cần trongkhi cả nhóm đang thảo luận Nhóm trưởng có nhiệm vụ thu thập các ý kiến trongnhóm để báo cáo trước lớp

Bước 3: Thảo luận lớp: các nhóm báo cáo trước lớp, nếu cần các nhóm cóthể thảo luận với nhau để đi đến kết luận

Bước 4: Giáo viên tổng kết và khái quát kết quả bài học

2.1.5 Ưu điểm, hạn chế của phương pháp thảo luận nhóm.

* Ưu điểm:

Phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh, tạo sự đoàn kết, hợp tác giữacác thành viên trong nhóm và mở rộng giao lưu với các học sinh khác, góp phầntích cực trong quá trình xây dựng nội dung bài học

Giáo viên rèn luyện dần phương pháp học tập, nghiên cứu và thái độ học tậptập thể, trên cơ sở đó sẽ tạo điều kiện tốt cho các em học tập cao hơn

Rèn luyện vốn ngôn ngữ cho các em trong quá trình giao tiếp, kết chặt tìnhbạn bè qua những lời nói sẻ chia, thông cảm và yêu thương

Giúp các em tự tin qua những lần thảo luận, thuyết trình, đồng thời rènluyện năng lực tư duy và phát hiện vấn đề

Thảo luận nhóm là cơ hội tốt cho các em học tập, trao đổi với nhau Các em

sẽ góp nhặt những kiến thức của nhau mà hoàn chỉnh dần kiến thức của mình

* Hạn chế:

Thời gian học tập trên lớp bị bó hẹp ở tiết học (45 phút/ tiết), nên giáo viên

sử dụng không khéo sẽ không cung cấp hết nội dung bài học vì phương phápnày rất mất thời gian

Do phải tập hợp học sinh thành những nhóm, giáo viên không nói rõ cáchchuẩn bị nhóm trước thì lớp học sẽ rối loạn hoặc mất trật tự, bị lãng phí nhiềuthời gian

Nếu trình độ học sinh trong nhóm không đều nhau thì những học sinh giỏi,khá sẽ lấn lướt những học sinh trung bình, yếu Các em trung bình, yếu sẽ không

có điều kiện nói lên ý kiến riêng của mình Từ đấy, các em sẽ mặc cảm, bất mãn,

lơ là và không chú ý vào buổi thảo luận

Số lượng học sinh trong lớp quá đông (mỗi lớp trên 40 HS) cũng gâynhững khó khăn cho việc vận dụng thảo luân nhóm vào việc dạy và học

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Trong những năm qua, theo yêu cầu của đổi mới phương pháp nhằm nângcao chất lượng dạy học, phương pháp thảo luận nhóm được giáo viên sử dụngtrong nhiều giờ dạy nhất là những giờ thao giảng, hội giảng Khi dự giờ các tiếthọc có sử dụng phương pháp này, chúng tôi thấy có những tiết dạy thành công

Trang 7

nhưng một số tiết dạy vẫn còn có những hạn chế Cụ thể:

2.2.1 Về phía giáo viên:

Việc lựa chọn vấn đề thảo luận nhóm chưa mang tính chất tranh luận, hấpdẫn nên chưa khơi dậy tính tích cực của học sinh Việc lựa chọn vấn đề thảoluân là khâu then chốt quyết định sự thành bại của phương pháp dạy học này.Vấn đề không hay, quá dễ hoặc quá khó không phù hợp với trình độ học sinh sẽkhông huy động, thu hút được học sinh tập trung thảo luân, nếu có thì cũng chỉmang tính chất đối phó

Thao tác chia nhóm: Có trường hợp chia nhóm quá lớn hoặc quá nhỏ,không phù hợp với vấn đề cần thảo luận và đặc điểm của lớp học Việc chianhóm còn đơn điệu, chủ yếu chia theo bàn (2 bàn/nhóm)

Thao tác chọn nhóm trưởng: Nhóm trưởng không do nhóm tự bầu hoặcluân chuyển giữa các thành viên trong nhóm mà do giáo viên chọn một học sinhkhá trong nhóm chuyên trách Điều này khiến cho các học sinh khác trong nhómmất đi cơ hội thể hiện mình cũng như cơ hội rèn luyện năng lực trình bày vấn đềtrước nhóm và tập thể lớp

Thao tác quan sát, hỗ trợ học sinh khi thảo luận: Một số giáo viên khi giaonhiệm vụ xong thường ngồi tại chỗ nên không quan sát, bao quát hết được họcsinh trong lớp làm gì trong thời gian thảo luận, dẫn tới tình trạng có học sinhlàm việc riêng, nói chuyện trong thời gian này Giáo viên cũng không nắm bắtđược những khó khăn, lúng túng của học sinh trong quá trình thảo luân để có sựgợi ý, hỗ trợ kịp thời

Thao tác tổng kết: Sau khi viết phương án trả lời ra bảng hoặc ra giấy,nhóm trưởng thay mặt nhóm đọc kết quả thảo luận trước lớp hoặc viết lên bảng.Giáo viên gọi học sinh khác nhận xét, bổ sung và kết luận Thao tác này đượclặp đi lặp lại khá đơn điệu, nhàm chán

2.2.2 Về phía học sinh:

Trong thời gian thảo luận, chỉ có số ít học sinh làm việc thật sự (nhómtrưởng và HS khá, giỏi trong nhóm), còn lại các em thường ngồi chơi, nóichuyện, làm việc riêng Một số học sinh không ý thức được sự cần thiết phảihợp tác để chiếm lĩnh tri thức nên nhiều khi các em biến hoạt động thảo luậnthành cơ hội để tán gẫu, lãng phí thời gian, gây ồn ào, ảnh hưởng tới lớp khác.Câu trả lời của học sinh thường lặp lại những kiến thức trong sách giáokhoa, thiếu sức sáng tạo

Vì những hạn chế trên mà phương pháp thảo luận nhóm thường được vậndụng mang tính hình thức, đối phó, chủ yếu trong các giờ hội giảng, hầu như rất

ít được vận dụng trong những giờ học bình thường Mặt khác, thảo luận nhóm

là phương pháp mất nhiều thời gian và số lượng học sinh trong lớp quá đôngcũng là nguyên nhân dẫn đến việc giáo viên không vận dụng phương pháp này Thực tế giảng dạy những năm qua của bản thân và dự giờ của đồng nghiệp

ở trường văn bản “Bài ca ngất ngưởng", tôi nhận thấy:

Hệ thống câu hỏi của giáo viên trong bài học chỉ là những câu hỏi tái hiện.Điều này dẫn đến tâm lí nhàm chán cho người học vì những kiến thức đó đã cósẵn trong sách giáo khoa

Trang 8

Giáo viên chưa đưa ra được những tình huống có vấn đề để học sinh tìmtòi, phát hiện Do đó dẫn đến những kết luận của giáo viên về nội dung liên quanđến bài học mang tính áp đặt cho người học Học sinh tiếp nhận một cách thụđộng và sẽ quên ngay khi bài học kết thúc.

Học sinh khi làm bài kiểm tra về tác phẩm, chỉ đơn giản là tái hiện lại tácphẩm mà không có sự bình luận, đánh giá, liên hệ bởi trong quá trình học các

em không được trải nghiệm cùng cùng tác giả

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

Dạy học nhóm không phải là một phương pháp độc tôn Nó cũng có nhữnghạn chế nhất định, nếu tổ chức không khéo dễ gây nên tình trạng kiến thức bịgián đoạn, không hệ thống, thiếu lôgic, chỉnh thể tác phẩm bị phá vỡ, không khí,tình cảm của giờ văn dễ bị xâm phạm Nên khi vận dụng, chúng ta cần đảm bảomột số nguyên tắc sau:

2.3.1 Câu hỏi thảo luận phải có tính vấn đề:

Câu hỏi có tính vấn đề là câu hỏi chứa đựng mâu thuẫn (giữa cái đã biết vàcái chưa biết) tạo nên tình huống có vấn đề, đồng thời kích thích được tính tíchcực, chủ động và phát huy tư duy sáng tạo trong hoạt động cảm thụ văn học củahọc sinh

Câu hỏi có vấn đề không nhằm mục đích tái hiện tri thức đã có mà yêu cầuhọc sinh phải biết sử dụng “cái đã biết” để làm phương thức tìm tòi, nghiên cứunhững giá trị tri thức mới

Cần lưu ý, vấn đề được nêu trong tác phẩm văn chương không phải có từ ýđịnh chủ quan của giáo viên mà vấn đề phải được đặt ra từ bản thân của tácphẩm văn chương có nhiều ẩn số cần được giải mã về nội dung và hình thức và

từ vấn đề khó khăn, vướng mắc nảy sinh từ tầm đón nhận của học sinh trong quátrình tiếp nhận tác phẩm.Vấn đề trong tác phẩm văn chương thường là tư tưởng,chủ đề, ý nghĩa tác phẩm hoặc tính hiệu quả của nghệ thuật xây dựng hìnhtượng, xây dựng tính cách, kết cấu phi logic, sử dụng chi tiết như một điểm sángthẩm mĩ, các biện pháp tu từ…

Ngoài ra, nhiều khi sự thành công hay hạn chế của tác phẩm cũng là nhữngvấn đề Nắm được vấn đề đặt ra từ tác phẩm và khả năng tiếp nhận của học sinhđược xem là bước khởi đầu quan trọng, có tính chất quyết định khi sử dụngphương pháp thảo luận nhóm Như vậy, muốn xây dựng được câu hỏi thảo luận

có vấn đề, giáo viên phải dựa vào những hiểu biết của mình về tác phẩm để đặthọc sinh vào tình huống có vấn đề, tổ chức cho học sinh giải quyết vấn đề bằngcâu hỏi gợi mở

2.3.2 Thành lập nhóm học tập:

Trong việc thành lập nhóm, giáo viên cần lưu ý đến điều kiện lớp học, sĩ

số học sinh trong lớp cũng như nội dung bài học để có cách phân chia phù hợp.Cách phân chia nhóm là tiền đề quan trọng làm nên thành công cho việc thảoluận nhóm Giáo viên nên phân chia các thành viên trong mỗi nhóm gồm cáchọc sinh giỏi, khá, trung bình, yếu, có cả nam và nữ nhằm khắc phục tình trạnghọc sinh tự lựa chọn những thành viên thân thiết với nhau vào cùng một nhóm,hoặc nhóm phân chia theo trình độ học tập Việc phân chia như thế đảm bảo tính

Trang 9

công bằng, không phân biệt giới tính, trình độ, học sinh phải có trách nhiệm hỗtrợ lẫn nhau để đi đến mục tiêu chung.

Số lượng nhóm, số lượng thành viên trong nhóm và thời gian thảo luậnphải phụ thuộc vào số lượng học sinh trong lớp hoặc vấn đề thảo luận nảy sinh

từ nội dung bài học Cụ thể:

Với vấn đề thảo luận có tính chất phức tạp, chứa nhiều nội dung cần làmsáng tỏ, hoặc có nhiều cách lí giải chúng ta nên chia nhóm gồm đủ trình độ họcsinh, số lượng thành viên từ 4 - 5 học sinh thời gian thảo luận khoảng 4 - 7 phút.Với thời gian và cấu trúc nhóm đó, các em sẽ chia nhau đảm nhận những vấn đềkhác nhau nhằm hoàn thành nhiệm vụ mà giáo viên giao phó

Với vấn đề thảo luận có tính chất đơn giản chúng ta nên sử dụng loại nhóm

2 học sinh và thời gian thảo luận trong khoảng 1-2 phút

Bên cạnh đó, việc phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhómcũng góp phần quan trọng tạo hiệu quả cho quá trình học tập Mỗi thành viêntrong nhóm phải được phân công nhiệm vụ rõ ràng và phải cùng hợp tác để giảiquyết nhiệm vụ chung của cả nhóm Tránh tình trạng học sinh đùn đẩy tráchnhiệm cho nhau cũng như trong nhóm chỉ có vài thành viên làm việc còn cácthành viên khác không hợp tác hoặc làm việc riêng Giáo viên có thể yêu cầuhọc sinh bầu nhóm trưởng, thư kí hoặc do giáo viên chỉ định và sau lượt thảoluận, vai trò của các thành viên trong nhóm thay đổi để khắc phục tình trạng chỉ

có một học sinh chuyên trách nhiệm vụ này

2.3.3 Vai trò của giáo viên trong quá trình thảo luận nhóm:

Trong khi học sinh thảo luận nhóm, giáo viên di chuyển chung quanh cácnhóm, im lặng quan sát các nhóm làm việc Khi học sinh gặp khó khăn, bế tắc,giáo viên kịp thời can thiệp, hướng dẫn nhóm ra khỏi bế tắc bằng những câu hỏigợi mở

Với những vấn đề phức tạp, để giải quyết được học sinh cần phải nắm vữngbài học và có cách nhìn tổng quát Ban đầu, các em sẽ gặp lúng túng, thậm chínói lan man không vào trọng tâm Để các em giải quyết được, giáo viên cần địnhhướng gợi mở Trên những định hướng đó, các em sẽ dễ dàng tiến hành thảoluận

Giáo viên dẫn dắt học sinh vận dụng tư duy vốn có của các em giải quyếttừng vấn đề: gợi lại những tri thức đã có từ trước, khơi gợi những suy nghĩ trongcác em thông qua vốn sống của các em

Khi gặp trường hợp trong nhóm có thành viên “ngôi sao” hoặc có thànhviên quá nhút nhát, giáo viên kịp thời can thiệp, hạn chế những học sinh nói quánhiều, khích lệ, động viên học sinh nhút nhát phát biểu ý kiến

2.3.4 Trình bày và đánh giá kết quả:

Đại diện các nhóm sẽ lên trình bày kết quả trước toàn lớp: trình bày miệnghoặc trình bày miệng với báo cáo viết kèm theo Có thể kèm theo minh họa bằngtranh ảnh hoặc biểu diễn Đại diện nhóm có thể là nhóm trưởng hoặc một thànhviên khác trong nhóm do giáo viên chỉ định Kết quả trình bày của các nhómđược đánh giá và rút ra những kết luận cho việc học tập tiếp theo

Giáo viên đóng vai trò trọng tài chốt lại những nội dung cơ bản, khenthưởng những nhóm thảo luận tốt, động viên, khuyến khích để tạo hứng thú cho

Trang 10

học sinh Hình thức khen thưởng có thể là biểu dương cũng có thể là cho thêmđiểm thưởng vào điểm hoạt động nhóm.

2.3 5 Vận dung phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học văn bản

“Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ:

Việc lựa chọn vấn đề thảo luận là khâu then chốt, quyết định sự thành bạicủa phương pháp này 80% thành công của thảo luận nhóm là giáo viên đưa rađược các vấn đề thảo luận thú vị Đối với “Bài ca ngất ngưởng”, của NguyễnCông Trứ, giáo viên chia lớp học thành bốn nhóm và đưa ra các vấn đề để các

em thảo luận Thời gian thảo luận của mỗi nhóm 5 phút

Nhóm 1: Nhan đề của tác phẩm thường hàm chứa cả đề tài, chủ đề, tưtưởng và cả linh hồn của tác giả Bài thơ có nhan đề là “Bài ca ngất ngưởng”,

em hãy giải thích ý nghĩa nhan đề bài thơ?

Giáo viên gợi ý: Trong bài thơ, từ “ngất ngưởng” được sử dụng mấylần? Anh/ chị hãy xác định nghĩa của từ “ngất ngưởng” qua các văn cảnh sửdụng đó?

* Học sinh thảo luận theo nhóm:

* Đại diện nhóm trình bày:

- Bài ca: Bài thơ được viết theo thể loại hát nói, là thể tổng hợp giữa canhạc và thơ, có tính chất tự do, thích hợp với việc thể hiện con người cá nhân

- Nghĩa gốc của từ “ngất ngưởng”: Miêu tả tư thế của con người, sự vật,ngả nghiêng, chực đổ nhưng không đổ

àĐây là trạng thái gây cảm giác rất khó chịu cho người xung quanh, nhưtrêu trọc, trêu ngươi

- Nghĩa hàm ẩn: Thái độ sống khác người, luôn xem mình ở vị trí cao hơnngười khác, thái độ sống thoải mái, phóng túng, ngang tàng, vượt thế tục củacon người

- Ngoài nhan đề, từ “ngất ngưởng” xuất hiện bốn lần trong bài thơ, ở cáccâu 4, 8, 12 và 19

+ Lần thứ nhất, từ “ngất ngưởng” xuất hiện để miêu tả hình ảnh củaNguyễn Công Trứ khi có công danh vinh hiển và đảm nhiệm những trọng tráchquan trọng: Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông Lúc này, ông tỏ rõ là người cókhí khái của một vị quan ngạo nghễ và đặc biệt là có tài năng thao lược + Lần thứ hai, từ “ngất ngưởng” cũng dùng để khắc hoạ hình ảnh củachính Nguyễn Công Trứ, nhưng lúc này đã ở trong hoàn cảnh khác - trở thànhdân thường Thế nhưng dù vai trò xã hội có thay đổi thì ông vẫn bộc lộ phongthái tự tại, phóng khoáng của mình

+ Từ “ngất ngưởng” ở lần thứ ba trong câu “Bụt cũng nực cười ông ngấtngưởng” thêm lần nữa khẳng định cá tính ngang tàng của nhà thơ Thế nên, mặc

dù nói về thú chơi ngông của mình, Nguyễn Công Trứ tỏ rõ việc muốn khẳngđịnh những gì thuộc về nét riêng biệt của bản thân, dù có thể nó khác biệt rấtnhiều với số đông

+ Ở lần cuối, “ngất ngưởng” diễn tả nhân cách của Nguyễn Công Trứtrong việc xem thường vinh hoa phú quý, tĩnh tại thưởng ngoạn những sở thíchbản thân mà không màng đến điều tiếng của nhân gian, thế sự Ông không muốn

bị ràng buộc, gò ép trong bất cứ điều gì

Trang 11

ă Băi thơ thể hiện phong câch sống, câi dâng vẻ của một tinh thần ngạonghễ, tự coi mình hơn người, trín thiín hạ Đđy cũng lă tư thế chung của toănbăi Từ đó khẳng định câch sống tự do của bậc tăi tử phong lưu, không ngầnngại khẳng định câ tính của mình Thâi độ sống ngất ngưởng đầy thâch thứctrước những tôn ti phĩp tắc khắc kỉ của xê hội phong kiến

Nhóm 2: Trong thời gian lăm quan Nguyễn Công Trứ đê “ngất ngưởng”như thế năo?

* Học sinh thảo luận theo nhóm:

* Đại diện nhóm trình băy:

- Cđu thơ mở đầu: “Vũ trụ nội mạc phi phận sự”

+ Lă một cđu thơ toăn chữ Hân

ăGợi sự trang trọng, thâi độ kiíu hênh của nhă thơ

ăCđu thơ được hiểu lă: Mọi việc trong trời đất đều lă phận sự của ta.ăĐó lă thâi độ của bậc quđn tử có tăi kinh bang tế thế, sự dõng dạc, tự tin

vă ý thức sđu sắc về vai trò, trâch nhiệm của chính mình với dđn với nước

- Cđu thứ hai: “Ông Hi Văn tăi bộ đê văo lồng”

+ Danh xưng độc đâo, ít thấy trong Văn học trung đại: “Hi Văn”.“Hi”: Lăhiếm có, hi hữu “Văn”: Lă văn chương

+ Tăi bộ: tăi năng lớn, nhiều tăi năng

+ Lồng: lă trời đất, vũ trụ Văo lồng: lăm quan được xem lă bị giam hêmtrong lồng, mất tự do

ă Ông coi việc nhập thế lăm quan như một trói buộc, nhưng đó lă điềukiện, phương tiện để thể hiện hoăi bêo vì dđn vì nước vă tăi năng của mình

- Cđu 3, 4, 5, 6: Liệt kí tăi năng hơn người:

+ Giỏi văn chương: thủ khoa (đỗ đầu)

+ Tăi dùng binh (thao lược)

ăTăi năng lỗi lạc, xuất chúng: văn võ song toăn

+ Khoe danh vị xê hội hơn người:

+ Tham tân: quan văn giúp trông coi việc quđn dưới quyền một viíntướng

+ Tổng đốc: chức quan đứng đầu bộ mây cai trị một tỉnh lớn

+ Đại tướng (bình định Trấn Tđy): chức tướng cao nhất trong quđn đội.+ Phủ doên: chức quan đứng đầu tỉnh nơi có đặt thủ đô

ăÔng tự hăo mình lă một người tăi năng lỗi lạc, danh vị vẻ vang, văn vẻtoăn tăi

- Hệ thống từ Hân Việt uy nghiím, trang trọng, đm điệu nhịp nhăng, nhiềuđiệp ngữ: khẳng định tăi năng lỗi lạc, địa vị xê hội vẻ vang, xứng đâng một conngười xuất chúng

ăSâu cđu thơ đầu lă lời từ thuật chđn thănh của nhă thơ lúc lăm quan.Khẳng định tăi năng vă lí tưởng trung quđn, lòng tự hăo về phẩm chất, năng lực

vă thâi độ sống tăi tử, phóng khoâng, khâc đời, ngạo nghễ của một người có khảnăng xuất chúng

ăNhư vậy câi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ không phải tiíu cực

mă sự khẳng định bản thđn của mình, lă bản lĩnh dâm sống ở đời vă một phongcâch sống tăi hoa tăi tử

Trang 12

Nhóm 3: Nguyễn Công Trứ khi về hưu thể hiện sự “ngất ngưởng” ra sao?

* Học sinh thảo luận theo nhóm:

* Đại diện nhóm trình bày:

- Câu thơ thứ 7: “Đô môn giải tổ chi niên”

+ Là một câu thơ chữ Hán

+ Đánh dấu năm Nguyễn Công Trứ về hưu

- Ông sống theo ý chí và sở thích cá nhân:

+ Cưỡi bò cái, đeo đạc ngựa cho bò

+ Từ một vị đại thần “ tay kiếm cung”, nay sống một cuộc đời bình dị

“nên dạng từ bi” đi vãn cảnh chùa, đi thăm thú những danh lam thắng cảnhmang theo những nàng hầu xinh đẹp

àSở thích kì lạ, khác thường, thậm chí có phần bất cần và ngất ngưởng+ Bụt cũng nực cười: hành động của tác giả là những hành động khácthường, ngược đời, đối nghịch với quan điểm của các nhà nho phong kiến

àCá tính người nghệ sĩ mong muốn sống theo cách riêng

- Quan niệm sống:

+ “Được mất dương dương người thái thượng Khen chê phơi phới ngọnđông phong”: Tự tin đặt mình sánh với “thái thượng”, tức sống ung dung tự tại,không quan tâm đến chuyện khen - chê, được - mất của thế gian

+ “Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng”: tạo cảm giác cuộc sống phong phú,thú vị, từ “khi” lặp đi lặp lại tạo cảm giác vui vẻ triền miên

+ “Không phật, không tiên, không vướng tục”: không phải là Phật, khôngphải là tiên, không vướng tục, sống thoát tục à Ông chẳng giống ai, sống khônggiống ai, sống ngất ngưởng

- Khẳng định mình là một danh tướng, trung thần, trọn vẹn đạo vua tôichẳng kém gì Trái Tuân, Nhạc Phi, Hàn Kì, Phú Bật những anh tài đời Hán, đờiTống bên Trung Quốc

àTóm lại 12 câu thơ giữa xây dựng hình tượng có ý vị trào phúngnhưng đằng sau nụ cười ấy là một thái độ, một quan niệm nhân sinh mang màusắc hiện đại vì nó khẳng định và đề cao cá tính, ý thức sâu sắc về cá tôi cá nhân

àCuộc sống nhàn tản, ung dung có phần “ ngông” Tuy “ngất ngưởng”

mà vẫn trong sạch thanh cao sống theo ý chí và sở thích cá nhân, một con ngườivượt lên trên thói tục

àLối sống ấy cũng là một cách tự khẳng định, một sự đối lập với xã hộiphong kiến với những định kiến khắt khe

- Câu cuối vừa hỏi vừa khẳng định: mình là một đại thần trong triều,không có ai sống ngất ngưởng như ông cả

- Nêu bật sự khác biệt của mình so với đám quan lại khác: cống hiến,nhiệt huyết

- Ý thức muốn vượt ra khỏi quan niệm “đạo đức” của nhà nho

- Thể hiện tấm lòng sắt son, trước sau như một đối với dân, với nước

- Ngất ngưởng nhưng phải có thực tài, thực danh

àKhẳng định bản lĩnh, khẳng định tài năng sánh ngang bậc danh tướng

Tự khẳng định mình là bề tôi trung thành

Ngày đăng: 05/06/2022, 10:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Văn Cường (2010), Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chung về đổi mới phương phápdạy học ở trường trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Văn Cường
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
[2]. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và phương pháp dạy học trong nhàtrường
Tác giả: Phan Trọng Ngọ
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2005
[3]. Nguyễn Trọng Sửu (2008), ‘Dạy học nhóm, phương pháp dạy học tích cực’, Tạp chí giáo dục số 171 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí giáo dục
Tác giả: Nguyễn Trọng Sửu
Năm: 2008
[6]. Các tài liệu trên các trang mạng Internet:- Nguồn http://vietnam.net.vn - Nguồn http://baigiang.violet.vn Link
[4]. Sách giáo khoa Ngữ văn 11 tập 1 cơ bản, NXB Giáo dục, 2008 Khác
[5]. Thiết kế bài học Ngữ văn 11 tập 1, tác giả Phan Trọng Luận chủ biên NXB Giáo dục, 2010 Khác

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w