Do đó vấn đề đặt ra cho mỗi giáo viên GV là phải làm sao để cóphương pháp giảng dạy phù hợp với đặc trưng bộ môn đồng thời phát huy đượctính năng động, sáng tạo của học sinh HS tro
Trang 13 Đối tượng nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
B NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận
1.1 Quan điểm dạy học tích hợp và những kiểu tích hợp trong dạy học Văn
1.2 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Văn
1.3 Quan điểm dạy học theo định hướng phát triển năng lực
2 Thực trạng dạy học tích hợp theo định hướng phát triển năng lực hiện
3.1.4.Xử lí một tình huống giả định trong cuộc sống
3.2 Biện pháp định hướng rèn luyện các năng lực chung cho học sinh
trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ qua việc tích hợp giáo dục kĩ năng
sống
3.2.1 Định hướng năng lực giải quyết vấn đề
3.2.2 Định hướng năng lực sáng tạo
3.2.3 Định hướng năng lực hợp tác
3.2.4 Định hướng năng lực tự quản bản thân
3.3 Biện pháp rèn luyện các năng lực đặc trưng môn học cho học sinh
trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ qua việc tích hợp Văn Tiếng Việt
-Làm văn
3.3.1.Định hướng năng lực giao tiếp tiếng Việt
3.3.2 Định hướng năng lực tiếp nhận văn bản
3.3.3.Định hướng năng lực tạo lập văn bản
3.3.4.Định hướng năng lực cảm thụ thẩm mĩ
3.4 Giáo án minh hoạ
99999
10
101010101119202020
Trang 2A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay vấn đề đổi mới phương pháp đang được ngành giáo dục đặc biệtquan tâm Do đó vấn đề đặt ra cho mỗi giáo viên (GV) là phải làm sao để cóphương pháp giảng dạy phù hợp với đặc trưng bộ môn đồng thời phát huy đượctính năng động, sáng tạo của học sinh (HS) trong giờ học, rèn luyện cho các emthói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức liênmôn vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn
Chương trình trung học phổ thông (THPT) môn Ngữ văn do Bộ Giáo dục
và Đào tạo (GD&ĐT) dự thảo đã ghi rõ: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyêntắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựachọn các phương pháp giảng dạy” (tr 27) [1] “Nguyên tắc tích hợp phải đượcquán triệt trong toàn bộ môn học, từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quántriệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạtđộng học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong sách giáo khoa; tíchhợp trong phương pháp dạy học của GV và tích hợp trong hoạt động học tập củaHS; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo.” (tr 40) [1]
Đổi mới phương pháp dạy học nhằm chú trọng phát triển kỹ năng, nănglực của học sinh là phương hướng phù hợp với nhịp độ phát triển của thời đạiđổi mới của đất nước Nắm được phương pháp trên và đưa nó ứng dụng vàogiảng dạy, học tập môn Ngữ văn ở trường THPT đối với các nhà quản lý giáodục và đặc biệt đối với các giáo viên đứng lớp là điều hết sức quan trọng để cóthể góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong thời kì hiện đại
Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ’’ của Tô Hoài trong chương trình Ngữvăn lớp 12 được xem là bài hay, dung lượng kiến thức nhiều Việc tổ chức họctập thông qua việc sử dụng kiến thức liên môn, tăng cường hoạt động trảinghiệm là một trong những giải pháp sẽ đem lại hiệu quả cao Với những lí do
trên đã thúc đẩy tôi quyết tâm nghiên cứu đề tài: Vận dụng phương pháp dạy học tích hợp và hoạt động trải nghiệm để phát triển năng lực học sinh khi dạy bài “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài (chương trình Ngữ văn 12).
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một bài học cụ thể, một tác phẩm truyện lớp 12, bài Vợ chồng
A Phủ của Tô Hoài nhằm mục đích giúp HS:
Biết vận dụng kiến thức liên môn, tăng cường trải nghiệm, phát huy tính tíchcực, chủ động, sáng tạo trong giờ học Đồng thời vận dụng được kiến thức đãhọc vào giải quyết các vấn đề nảy sinh trong học tập cũng như trong thực tiễncuộc sống
3 Đối tượng nghiên cứu
Trang 3Nghiên cứu về lý luận dạy học trải nghiệm sáng tạo, tích hợp liên môn vàphát triển năng lực học sinh Lấy tác phẩm làm đối tượng nghiên cứu trongphạm vi bài “ Vợ chồng A Phủ ’’ của Tô Hoài
Đề tài được trực tiếp áp dụng ở các lớp 12A11, 12A5 của trường phổthông chúng tôi đang trực tiếp giảng dạy trong hai năm học 2020-2021 và 2021-2022
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp đọc tài liệu:
Là phương pháp nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến những vấn đềcần nghiên cứu, tập hợp các dữ kiện có liên quan đến đề tài này
Phương pháp quan sát:
Là phương pháp thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu Dùngphương pháp này để quan sát HS qua tiết dạy xem thái độ học tập, ý thức họctập rèn luyện của các em
Phương pháp đối chiếu so sánh:
Qua một thời gian nghiên cứu, GV tiến hành so sánh, đối chiếu số liệu cũvới số liệu mới để thấy kết quả nghiên cứu của đề tài
B NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận
1.1 Quan điểm dạy học tích hợp và những kiểu tích hợp trong dạy học Văn
Tích hợp (integration) có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp.
Nội hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợpnhất hay là sự nhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhấttrên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là
một phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy.[1]
Có những kiểu tích hợp trong dạy học môn Văn như:
Tích hợp theo chiều ngang: là tích hợp trong những thời điểm của bài
học, từ kiến thức bài học của phân môn này liên hệ đến các phân môn khác (Vănvới Tiếng Việt, với Làm văn hoặc ngược lại)theo nguyên tắc đồng quy
Tích hợp theo chiều dọc: là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ năng
mới với những kiến thức và kĩ năng đã học ở trước đó theo nguyên tắc đồngtrục cụ thể là kiến thức và kĩ năng hình thành ở bài học, lớp học, bậc học trước,nhưng cao hơn, sâu hơn trước
Tích hợp liên môn: Đây là quan điểm tích hợp mở rộng kiến thức trong
bài học Ngữ văn với các kiến thức của các bộ môn khoa học tự nhiên, khoa học
xã hội, các ngành khoa học, nghệ thuật khác với các kiến thức đời sống mà họcsinh tích lũy được từ cuộc sống cộng đồng Qua đó lồng ghép những nội dunggiáo dục có liên quan vào quá trình dạy học một môn học như: lồng ghép giáodục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật
1.2 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Văn
Trang 4Theo từ điển tiếng Việt: “Trải nghiệm là trải qua, kinh qua Trải nghiệm làtrải qua thực tế để rút ra được những kinh nghiệm Trải nghiệm thiên về các hoạtđộng thực tế”
Theo từ điển giáo dục học: “Trải nghiệm là hành động thực hành, thựcnghiệm các vấn đề đặt ra trong bài học và những vấn đề liên quan đến bài học”
Dự thảo Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổthông sau năm 2015 đã nêu: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo(HĐ TNST) bảnchất là những hoạt động giáo dục (HĐGD) nhằm hình thành và phát triển chohọc sinh những phẩm chất tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kỹ năng(KN) sống
và những năng lực cần có của con người trong xã hội hiện đại Nội dung của HĐTNST được thiết kế theo hướng tích hợp nhiều lĩnh vực, môn học thành các chủđiểm mang tính chất mở Hình thức và phương pháp tổ chức đa dạng, phongphú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian, thời gian, quy mô, đối tượng và sốlượng…để học sinh có nhiều cơ hội tự trải nghiệm”
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo giúp học sinh biết huy động kiến thức, kỹnăng để tiếp nhận kiến thức, kỹ năng mới và vận dụng chúng vào hoạt động thựctiễn Thực tế cho thấy, áp dụng phương pháp học này, học sinh tỏ ra rất hàohứng với nội dung bài học, vốn kiến thức tổng hợp của học sinh được bổ sungnhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả
Hoạt động trải nghiệm được tổ chức trong suốt tiến trình của bài học, giáoviên cần xác định đúng mục đích, mức độ yêu cầu Các hoạt động cá nhân,nhóm được tổ chức linh hoạt sao cho vừa giúp học sinh huy động kiến thức, kỹnăng, kinh nghiệm của bản thân vừa xây dựng được ý thức hợp tác, tinh thầnhọc tập lẫn nhau
1.3 Quan điểm dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên(NXB Đà Nẵng 1998) có giảithích năng lực là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thựchiện một hoạt động nào đó Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khảnăng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”.[5]
Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo địnhhướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hànhnăm 2014 thì năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổchức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằmđáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định.Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố(phẩm chất của người laođộng, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhânnhằm thực hiện một loại công việc nào đó Định hướng chương trình giáo dụcphổ thông(GDPT) sau năm 2015 đã xác định một số năng lực những năng lựccốt lõi mà học sinh Việt Nam cần phải có như:[6]
– Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm: năng lực tự học, năng lựcgiải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực quản lí bản thân
– Năng lực xã hội, bao gồm: năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác
Trang 5– Năng lực công cụ, bao gồm: năng lực tính toán, năng lực sử dụng ngôn ngữ,năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (ITC).
2 Thực trạng dạy học tích hợp theo định hướng phát triển năng lực hiện nay
Về phía giáo viên: có một thực trạng thường thấy trong các nhà trường
hiện nay việc dạy học tác phẩm thơ văn còn nặng về kiến thức GV thường saysưa, tìm tòi, khám phá sự hấp dẫn về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm màquên các nhiệm vụ khác Bên cạnh đó, vấn đề áp dụng tích hợp trong dạy họcNgữ văn đã được số ít GV tiếp cận nhưng chưa thật sựcó chiều sâu Nhiều giờdạy, GV chưa chú ý đến việc vận dụng quan điểm tích hợp, dẫn đến việc khaithác bài dạy thiếu tính hệ thống, làm cho chất lượng bài dạy không đạt; nhiềugiờdạy, GV tích hợp một cách gượng gạo, các đơn vị kiến thức được tích hợpkhông có mối liên hệ gắn bó và lựa chọn đơn vị kiến thức tích hợp chưa trọngtâm, thiếu sự chuẩn bị kĩ, sử dụng tích hợp một cách tùy hứng dẫn đến hiệu quảtích hợp không cao
Về phía học sinh: Các em còn học tập một cách thụ động, chưa phát huy
tính tích cực, chủ động khi tiếp cận tác phẩm Nhiều HS thờ ơ, chán học, hamchơi chưa có lí tưởng sống đúng đắn Cũng có nhiều HS tâm lí ỷ lại, đợi GV đọc
và chép lại sau đó học thuộc lòng một cách máy móc Khả năng liên hệ giữa bàihọc và thực tế đời sống còn hạn chế
Chính vì vậy chúng tôi đề xuất một số phương pháp thực hiện đổi mới dạyhọc, kiểm tra đánh giá kết quả theo định hướng phát triển năng lực HS qua mộtbài học cụ thể, truyện ngắn Vợ chồng A Phủ trong chương trình Ngữ văn 12
* Vận dụng phương pháp trò chơi ở phần luyện tập
- Hình thức: Thi giữa 2 đội
- Dự kiến năng lực hình thành: Năng lực hợp tác, năng lực tái hiện kiếnthức, năng lực tư duy để phát hiện ra ô chữ
- Yêu cầu: Trên cơ sở nội dung bài học, các nhóm quan sát ô chữ và trả
lời câu hỏi
Trang 6- Hình thức trả lời: Nghe câu hỏi, phát tín hiệu nhanh để giành quyền trả lời.
- GV hướng dẫn thể lệ trò chơi: Ô chữ có từ khóa hàng dọc gồm 6 chữcái Đây là một yếu tố không được nhắc đến nhiều trong tác phẩm nhưng lạiđược bàn đến nhiều khi nói về ý nghĩa của truyện Có 8 câu hỏi tương ứng với 8
từ hàng ngang Trả lời được một câu hỏi hàng ngang sẽ được 10 điểm Trả lời từkhóa khi câu hỏi hàng ngang được trả lời chưa quá 2 câu sẽ được 30 điểm
Câu hỏi:
1 Nỗi khổ của nhân vật Mị khi làm dâu được nhà văn Tô Hoài so sánh với con vật nào ?
2 Khi bị A Sử bắt cóc về nhà thống lí Mị mang thân phận gì ?
3 Hành động nào của Mị đối với A Phủ chứng tỏ lòng thương người và tinh thần phản kháng mạnh mẽ ở Mị?
4 Điều gì biểu hiện rõ nhất trong tính cách của Mị ?
5 Mị và A Phủ điển hình cho nỗi thống khổ và khát vọng tự do của người dân vùng nào trước cách mạng ?
6 Một trong những tác nhân quan trọng làm Mị thức tỉnh là gì ?
7 Cảnh tượng nào góp phần tô đậm giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” ?
8 Đâu là miền đất hứa- giúp Mị và A Phủ tìm thấy cuộc sống tự do, hạnh phúc?
Trang 7+ Người dẫn truyện.
+ Thống lí Pá Tra
+ A Phủ
+ Lí dịch, quan làng, thống quán, xéo phải
NỘI DUNG KỊCH BẢN :Sáng hôm ấy, bọn chức việc khắp vùng Hồng Ngài đến nhà thống lí Pá Tra dự đám xử kiện Các lí dịch, quan làng, thống quán, xéo phải đội mũ, quấn khăn, xách gậy, cưỡi ngựa kéo đến
Pá Tra (ngồi dậy, vuốt ngược cái đầu trọc dài, kéo đuôi tóc ra đằng trước), cất gọng lè nhè gọi:
- Thằng A Phủ đâu? Bắt thằng A Phủ ra đây cho tao!
A Phủ:
- Tôi đây!(A Phủ ra quỳ giữa nhà)
Thống lí Pá Tra:
- Mày biết tội mày gì không? Để tao dạy cho mày một bài học nhớ đời.
- Bay đâu! Đánh nó sặc tiết cho tao, đánh cho mạnh vào để nó biết hậu quả như thế nào khi đụng đến con trai nhà thống lí
Bọn trai làng (chạy đến, chắp tay lạy lia lịa tên thống lí Pá Tra):
- Dạ, tuân lệnh quan thống lí!
Thế là những trận mưa đòn trút xuống tới tấp lên một thân thể cường tráng đang bị trói chặt, không thể chống cự- A phủ
A Phủ ( quỳ chịu đòn, chỉ im như cái tượng đá, mặt A Phủ sưng lên, môi và đuôi mắt giập chảy máu).
Cứ mỗi đợt bọn chức việc hút thuốc phiện xong, A Phủ lại phải ra quỳ giữa nhà, lại bị người xô đến đánh Người thì đánh, người thì quỳ lạy, kể lể, chửi bới Xong một lượt đánh,
kể, chửi, lại hút Khói thuốc phiện ngào ngạt tuôn qua các lỗ cửa sổ Rồi Pá Tra lại ngóc cổ lên, vuốt tóc, gọi A Phủ Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút.
Sáng hôm sau, đám kiện đã xong Mấy người chẳng biết từ bao giờ, ngủ ngáy ngay bên khay đèn Bọn xéo phải đang bắc cái chảo đồng và xách ấm nước ra nấu thêm lạng thuốc để hút ban ngày cho các quan làng thật tỉnh, các quan làng còn một tiệc ăn cỗ nữa.
Thống lý Pá Tra (mở tráp, lấy ra một trăm đồng bạc hoa xoè bày lên mặt tráp, rồi nói) - Thằng
A Phủ! Lại đây tao bảo.
A Phủ (mình đau ê ẩm, khập khiễng từng bước khó khăn, bước lại gần chỗ thống lí ngồi) Quan thống lí cho gọi tôi!
-Thống lí Pá Tra -Thằng A Phủ kia, mày đánh người thì làng xử mày phải nộp vạ cho người phải mày đánh là hai mươi đồng, nộp cho thống quán năm đồng, mỗi xéo phải hai đồng, mỗi người đi gọi các quan làng về hầu kiện năm hào.
A Phủ (chưa hiểu và chưa kịp nghe hết câu…).
Trang 8Thống lí Pá Tra ( không chờ A Phủ phản ứng, hắn tiếp lời )- Mày phải mất tiền mời các quan hút thuốc từ hôm qua tới nay Lại mất con lợn hai mươi cân, chốc nữa mổ để các quan làng ăn
vạ mày
- A Phủ, mày đánh con quan làng, đáng lẽ làng xử mày tội chết, nhưng làng tha cho mày được sống mà nộp vạ Cả tiền phạt, tiền thuốc, tiền lợn, mày phải chịu một trăm bạc trắng Mày không có trăm bạc thì tao cho mày vay để mày ở nợ Bao giờ có tiền trả thì tao cho mày về, chưa có tiền trả thì tao bắt mày làm con trâu cho nhà tao Ðời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi.
A Phủ (ngỡ ngàng, choáng váng)- Quan thống lí bảo sao ạ!
Thống lí Pá Tra - A Phủ! Lại đây nhận tiền quan cho vay.
Thống quán - Này A Phủ mau lại lấy tiền quan cho vay và cảm ơn quan thống lí đã làm phúc cho mày vay tiền
A Phủ không nói gì, lê hai cái đầu gối sưng bạnh lên như mặt hổ phù A Phủ cúi sờ lên đồng bạc trên tráp, trong khi Pá Tra đốt hương, lầm rầm khấn gọi mà về nhận mặt người vay
nợ Pá Tra khấn xong, A Phủ cũng nhặt xong bạc, nhưng chỉ nhặt làm phép lên như thế rồi lại
để ngay xuống mặt tráp.
Pá Tra (lại trút cả bạc vào trong tráp).
Ðếm tiền rồi, A Phủ không phải quỳ, phải đánh nữa.Trong nhà, thuốc phiện vẫn hút rào rào.Thế là từ đấy A Phủ phải ở trừ nợ cho nhà quan thống lý Pá Tra
GV hỏi: Sau khi xem đoạn kịch, các em có nhận xét gì về phần vào vai của các
bạn và rút ra được giá trị tư tưởng qua cảnh xử kiện?
HS: Nhận xét, phản biện và bổ sung hoàn thiện kiến thức.
3.1.4 Xử lí một tình huống giả định trong cuộc sống.
HS với vai trò là người hùng biện về một số vấn đề trong văn bản liênquan đến cuộc sống Từ đó giúp HS rèn luyện những kỹ năng thực hành ứng xử
và bày tỏ thái độ, quan điểm của mình đối với các vấn đề trong cuộc sống
- Yêu cầu: Vận dụng kiến thức đã học để giải quyết vấn đề thực tiễn
(Dự kiến năng lực hình thành: Năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn, năng lựcthuyết trình)
a/GV nêu tình huống, chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm thực hiện một tình huống.
Nhóm 1: Tình huống 1: Giả sử em là nhân vật Mị trong câu chuyện, em sẽ làm
gì để chống lại sự áp bức, bóc lột và nạn bạo lực gia đình
Nhóm 2:Tình huống 2: Nhân vật Mị trong câu chuyện là nạn nhân của giai cấp
thống trị độc ác, tàn bạo miền núi thời xưa Ngày nay, nạn bạo hành trong giađình vẫn đang là vấn đề nhức nhối của xã hội Em hãy đề xuất những giải phápthiết thực, có ý nghĩa về vấn đề này qua một đoạn văn ngắn
Tình huống 3(dùng trong hoạt động ngoại khóa): Nhân dịp ngày 8-3, nhà
trường tổ chức một diễn đàn bàn về chủ đề tình yêu và hạnh phúc Em hãy hùngbiện về vấn đề này khi được Đoàn trường giao nhiệm vụ
b/HS trải nghiệm, trình bày.
Nhóm 1:Tình huống 1 (HS xử lí tình huống đã được nêu).
Trang 9-Mục đích: Giúp HS thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ của
mình, hình thành kĩ năng giao tiếp Tạo điều kiện phát triển năng lực sáng tạocủa HS, khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của HS một cách tích cực
-Yêu cầu: Cách xử lý tình huống phải thể hiện được chính kiến, quan điểm đúng
đắn của bản thân
-Các bước tiến hành: HS trình bày trực tiếp cách ứng xử tình huống đã được
nêu
Nhóm 2: Tình huống 2 (HS viết đoạn văn, trình bày trước lớp).
- Mục đích: Thể hiện được quan điểm, chính kiến của mình về một vấn đề thiết
thực của đời sống Liên hệ với thực tiễn để tích cực hóa động cơ của người học,tạo điều kiện để phát huy những năng lực then chốt như năng lực tư duy, nănglực giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp và cộng tác làm việc
- Yêu cầu: Vận dụng những hiểu biết về xã hội, về GDCD, về luật pháp để đưa
ra những quan điểm tiến bộ, tích cực
++ Các HS còn lại đánh giá, nhận xét
+ GV đánh giá nhận xét, giúp HS rút ra bài học cho bản thân, giáo dục ý thức, tưtưởng và cách ứng xử phù hợp trước các tình huống trong cuộc sống
+ GV đánh giá, nhân xét tiết học và kết luận
Nhóm 3: Tình huống 3: HS hùng biện trước toàn trường về đề tài tình yêu, hạnh phúc (theo quan niệm của cá nhân).
-Mục đích:Tiếp tục giúp HS thực hành những kỹ năng hùng biện và bày tỏ thái
độ của mình, hình thành kĩ năng giao tiếp Tạo điều kiện phát triển năng lựcsáng tạo của HS, khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của HS một cách tích cực
-Yêu cầu: Cách xử lý tình huống phải thể hiện được chính kiến, quan điểm đúng
đắn của bản thân
-Các bước tiến hành: HS trình bày trực tiếp cách ứng xử tình huống đã được
nêu
3.2 Biện pháp định hướng rèn luyện các năng lực chung cho học sinh trong truyện ngăn Vợ chồng a Phủ qua việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống
3.2.1 Định hướng năng lực giải quyết vấn đề
Đây là năng lực thể hiện khả năng của HS trong việc nhận thức, khám pháđược những tình huống có vấn đề trong học tập và cuộc sống mà không có sựđịnh hướng trước về kết quả Từ việc tìm ra các giải pháp để giải quyết vấn đề
Trang 10đặt ra trong tình huống sẽ thể hiện khả năng tư duy, hợp tác trong việc lựa chọngiải pháp tối ưu để thực hiện.
Trước hết, HS cần nhận biết được mâu thuẫn giữa tình huống thực tế vớihiểu biết cá nhân, từ đó đặt ra vấn đề cần sự tìm tòi, khám phá Quá trình thuthập, xử lí các nguồn thông tin khác nhau, đề xuất và thực hiện phương án đãchọn, điều chỉnh, đánh giá phương án để vận dụng vào các tình huống mớitương tự Quá trình này đòi hỏi phải thực hiện bằng sự hứng thú, tìm hiểu, khámphá cái mới và tinh thần trách nhiệm của cá nhân cũng như sự phối hợp, hỗ trợtương tác giữa các cá nhân
3.2.2 Định hướng năng lực sáng tạo
Sáng tạo thể hiện trong việc xác định các tình huống và những ý tưởng
Từ góc nhìn, từ những cách trình bày suy nghĩ, cảm xúc khác nhau trước vẻ đẹp,giá trị của văn bản HS đồng sáng tạo với tác phẩm Qua đó các em bộc lộ đam
mê, khát khao được tìm hiểu, khám phá trước một vấn đề, nhân vật hay một chitiết, hình ảnh, ngôn từ nào đó
3.2.3 Định hướng năng lực hợp tác
Hợp tác là hình thức HS làm việc trong một nhóm nhỏ để hoàn thànhcông việc chung được giao phó Là sự tương tác giữa cá nhân với cá nhân và tậpthể để giúp đỡ nhau giải quyết các vấn đề khó khăn trong học tập từ đó hìnhthành cho các em năng lực hợp tác khi cần giải quyết vấn đề trong cuộc sống.Năng lực này thướng được hình thành trong quá trình HS làm việc theo nhóm
Để thực hiện được năng lực này, GV cần định hướng cho các em xác định đượcmục đích, vai trò, trách nhiệm của từng cá nhân tương ứng với công việc phảithực hiện; nhận biết được khả năng của từng thành viên trong nhóm để phâncông phù hợp; nêu cao tinh thần chủ động, gương mẫu hoàn thành công việc;qua kết quả đạt được biết đánh giá những mặt đạt được những mặt còn hạn chế,thiếu sót của cá nhân và nhóm
3.2.4 Định hướng năng lực tự quản bản thân
Là việc mỗi cá nhân học sinh tự kiểm soát được cảm xúc, hành vi của bảnthân trong các tình huống, từ đó có khả năng nhận ra và điều chỉnh hành vi của
cá nhân trong từng bối cảnh khác nhau Thông qua các bài học giúp HS biết xácđịnh kế hoạch cho các nhân và chủ động điều chỉnh kế hoạch đã đưa ra để đạtđược mục tiêu, nhận ra các tác động từ ngoại cảnh đến việc tiếp thu kiến thức vàrèn luyện kĩ năng để khai thác, phát huy các yếu tố tích cực, hạn chế và loại bỏnhững yếu tố tiêu cực, từ đó xác định các hành vi đúng đắn, cần thiết trong họctập và cuộc sống
Để đạt được kết quả tốt trong bài học, HS cần phải thường xuyên tự đánhgiá và điều chỉnh được hành động của bản thân trong học tập và cuộc sống, đánhgiá được các yếu tố ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực để có sự điều chỉnh phùhợp và thích ứng với những thay đổi hay thích ứng với các tình huống mới
3.3 Biện pháp rèn luyện các năng lực đặc trưng môn học cho học sinh trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ qua việc tích hợp Văn- Tiếng Việt- Làm văn
Trang 113.3.1.Định hướng năng lực giao tiếp tiếng Việt
Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghenhằm thực hiện một mục đích nào đó Năng lực giao tiếp là khả năng sử dụngcác quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin từ cuộc sốngnhằm thiết lập mối quan hệ giữa con người với nhau trong xã hội Từ đó xácđịnh và hiểu được vai trò của mục đích giao tiếp; nhận biết được bối cảnh, đặcđiểm, thái độ của đối tượng, tình huống giao tiếp; biết sử dụng ngôn ngữ giaotiếp để diễn đạt được ý tưởng cần giao tiếp Trong môn Ngữ văn, năng lực giaotiếp ngôn ngữ là đặc thù bộ môn Nó là mục tiêu quan trọng và cũng là thếmạnh Vì thế trong các tình huống cụ thể HS từng bước làm chủ tiếng Việt Vớicác bài đọc hiểu là môi trường để các em giao tiếp gián tiếp với tác giả và môitrường sống xung quanh, từ đó hiểu và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữtrong các bài Tiếng Việt, các bài Làm văn Nếu người dạy biết coi trọng khảnăng thực hành, vận dụng những kiến thức tiếng Việt trong các tình huống tiếpnhận và tạo lập văn bản, đặc biệt là trong những bối cảnh giao tiếp khác nhaucủa cuộc sống thì sẽ phát huy được năng lực giao tiếp của HS
Học sinh sẽ tiếp nhận những tri thức về ngôn ngữ trong văn bản thông quabài đọc hiểu từ đó các em vận dụng chúng trong các bài học Tiếng Việt hoặc bàiTập làm văn Năng lực giao tiếp của các em không chỉ được thể hiện rõ trongkhả năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng của bản thân bằng lời nói, lời phát biểungay trong các tiết học mà năng lực giao tiếp còn thể hiện rõ nhất ở việc các emtạo lập văn bản qua các bài viết, bài kiểm tra
3.3.2 Định hướng năng lực tiếp nhận văn bản
Văn học là nghệ thuật ngôn ngữ nên văn bản ngôn từ là yếu tố quan trọngnhất, là cơ sở chủ yếu để GV dựa vào phân tích tác phẩm tìm ra thông tin thẩm
mĩ ẩn chứa bên trong Nhờ đó chúng ta mới hiểu sâu, hiểu đúng, hiểu trọn vẹn
và tìm ra được các ý vị trong tác phẩm Với đối tượng là HS bậc THPT, vì thếngười dạy cần liên môn, tích hợp kết hợp định hướng năng lực tiếp nhận văn bảntrên các phương diện ngôn ngữ trong phần đọc hiểu là cơ sở để các em tiếp nhậntri thức đồng thời tạo tiền đề hình thành các kĩ năng về sử dụng ngôn ngữ để từđó thúc đẩy quá trình tạo lập văn bản
3.3.3.Định hướng năng lực tạo lập văn bản
Ở cấp THCS các em đã được học về văn nghị luận, lên cấp THPT các emtiếp tục được thực hành kiểu văn bản này Vì thế, việc học truyện ngắn Vợchồng A Phủ theo hướng tích hợp là một điều kiện rất thuận lợi để HS thực hànhkiểu văn bản nghị luận Sau khi họctạo lập văn bản là quá trình học sinh trìnhbày ngôn ngữ của bản thân bằng hình thức nói hoặc viết Quá trình này xảy rathường xuyên, song hành với quá trình tiếp nhận văn bản Từ kĩ năng, kiến thức,thông tin tiếp nhận được các em sẽ hình thành kĩ năng tạo lập văn bản trên cơ sởvốn kiến thức mà mình tiếp thu được từ quá trình giao tiếp
Quá trình tạo lập văn bản xảy ra thường xuyên trong tất cả các tiết họccủa môn Ngữ văn Tạo lập văn bản nói thông qua việc trả lời nhanh các câu hỏi
Trang 12của GV trong tiết học, kiểm tra miệng, trong các tiết thực hành luyện nói Tạolập văn bản viết qua các bài kiểm tra thường xuyên, bài kiểm tra giữa kì, cuối kì.
3.3.4.Định hướng năng lực cảm thụ thẩm mĩ
Dạy học văn, GV cần định hướng theo một hệ thống giúp các em có cơ hộinắm bắt và cảm nhận một cách tổng thể GV định hướng cho các em biết tạo cảmxúc, bởi cảm xúc là sự cảm thụ của trái tim, của tấm lòng và tình cảm người học.Các em đến với giờ văn bằng trái tim, bằng tấm lòng của mình thì những cungbậc tình cảm vui, buồn, thương, hờn giận từ bài giảng của thầy cô sẽ đi vào lòngcác em Từ đó, các em sẽ biết thương cảm những số phận bất hạnh, biết căm ghét
sự bất công, cái xấu, cái ác; biết yêu thiên nhiên hoa cỏ, yêu quê hương đất nước,
và nhận biết được những điều nên làm, điều cần tránh trong cuộc sống…
3.3 Giáo án minh hoạ
Vận dụng thấp: Khái quát được đặc điểm phong cách tác giả từ tác phẩm
-Vận dụng cao:Vận dụng hiểu biết về tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm đểphân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm
2 Kĩ năng
-Biết làm: bài nghị luận về một đoạn trích văn xuôi, về 1 ý kiến bàn về văn học.-Thông thạo: các bước làm bài nghị luận
3.Thái độ
-Hình thành thói quen: đọc hiểu tác phẩm văn xuôi
-Hình thành tính cách: tự tin, sáng tạo khi tìm hiểu tác phẩm văn xuôi
1.Kiến thức: Giúp học sinh thấy được:
-Nỗi thống khổ của người dân miền núi Tây Bắc dưới ách thống trị của bọn chúađất phong kiến, thực dân.Vẻ đẹp tâm hồn, sức sống tiềm tàng mãnh liệt củađồng bào vùng cao…
-Nghệ thuật xây dựng nhân vật sinh động, chân thực; miêu tả và phân tích tâm línhân vật sắc sảo, tinh tế; lối kể chuyện hấp dẫn, ngôn ngữ mang phong vị vàmàu sắc dân tộc, giàu tính tạo hình và đầy chất thơ…
2 Kỹ năng: