1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) Phương pháp dạy đọc văn bản Ngữ văn trên cơ sở phản hồi của học sinh

22 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 280,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các dạng câu hỏi sử dụng để khơi gợi sự phản hồi của học sinh về văn bản trong tiến trình đọc hiểu ………... Việc dạy học không những giúp cho học sinh có được kiến thức, sự hiểu biết về

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT LÊ LỢI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

PHƯƠNG PHÁP DẠY ĐỌC VĂN BẢN NGỮ VĂN TRÊN CƠ SỞ PHẢN HỒI CỦA HỌC SINH

Ở TRƯỜNG THPT LÊ LỢI.

Người thực hiện: Nguyễn Thị Linh Chức vụ: Giáo viên Ngữ văn

SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn

THANH HOÁ, NĂM 2022

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 1 MỞ ĐẦU……… 1

1.1 Lí do chọn đề tài ……… 1

1.2 Mục đích nghiên cứu ……… 1

1.3 Đối tượng nghiên cứu ……… 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu ……… 3

2 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN……… 3

2.1 Cơ sở lý luận 3

2.1.1 Đổi mới phương pháp dạy học.……… 3

2.1.2 2.1.2 Sự phản hồi của học sinh trong quá trình dạy học ……… 3

2.2 Cơ sở thực tiễn và thực trạng vấn đề……… 4

2.2.1 Cơ sở thực tiễn ……… 4

2.2.2 Thực trạng vấn đề……… 7

2.3 Phương pháp dạy đọc văn bản Ngữ văn trên cơ sở phản hồi của học sinh ……… 8

2.3.1 Các dạng câu hỏi sử dụng để khơi gợi sự phản hồi của học sinh về văn bản trong tiến trình đọc hiểu ……… 8

2.3.2 Phương pháp sử dụng câu hỏi để khơi gợi sự phản hồi học sinh về văn bản trong tiến trình đọc hiểu ……… 9

2.4 Kết quả thu được ……… 13

2.4.1 Giáo án thực nghiệm ……… 13

2.4.2 Đề kiểm tra thực nghiệm ……… 13

2.4.3 Kết quả thu được……… 13

3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……….

3.1 Kết luận ………

3.2 Kiến nghị ………

16 16 18

- PHỤ LỤC 1: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM.

- DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP SỞ GD&ĐT XẾP LOẠI TỪ

C TRỞ LÊN.

Trang 3

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài.

Nhiều năm nay, cả nước ta đã và đang tiến hành công cuộc đổi mới giáo dục.Chương trình học và sách giáo khoa được thay đổi theo hướng tích cực cả nội dunglẫn hình thức nhằm theo kịp với xu thế phát triển của nền giáo dục thế giới Để làmđược điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc thay đổi phương pháp dạyhọc từ “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rènluyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cáchđánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá nănglực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng kiểm tra đánh giá kết quả họctập, quá trình học nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động dạy và học Để chuẩn

bị cho quá trình đổi mới chương trình sau năm 2015, việc dạy học và kiểm tra,đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của người học là cần thiết

Mục tiêu dạy học Ngữ văn trong thời đại ngày nay là chú trọng ở tính thiếtthực Việc dạy học không những giúp cho học sinh có được kiến thức, sự hiểu biết

về môn học mà còn hình thành và phát triển cho các em năng lực văn tức năng lực

kiến tạo ý nghĩa, năng lực đọc - hiểu, phản hồi cũng như tạo lập các loại văn bản,phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ, sử dụng thành thạo các kĩ năng nghe, nói,đọc, viết để giao tiếp hiệu quả trong những ngữ cảnh và mục đích khác nhau , giúphọc sinh (HS) trở thành một người đọc độc lập, tích cực có tư duy nhạy bén, sángtạo đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội

Quan điểm dạy học “lấy người học làm trung tâm” là một quan điểm giáo dục

hiện đại, giải phóng và phát triển năng lực sáng tạo cho người học Quan điểm này

là một định hướng dạy học tích cực, chi phối việc xác định mục tiêu dạy học, lựachọn nội dung và PPDH Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, kết hợp kinh nghiệmgiảng dạy thực tiễn của bản thân tôi mong muốn trong từng bài dạy, trong từng giờdạy học sinh luôn hứng thú, chủ động, yêu thích môn học, từ đó góp phần nâng cao

hiệu quả dạy học Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Phương pháp dạy đọc văn

bản Ngữ văn trên cơ sở phản hồi của học sinh” với hi vọng mang đến một PPDH

mới trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục hiện nay

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Đề tài nghiên cứu nhằm tìm ra cách dạy học Ngữ văn đáp ứng với nhu cầuđổi mới giáo dục, phù hợp với yêu cầu của định hướng phát triển năng lực họcsinh Trên cơ sở đó tìm ra một số biện pháp dạy học có hiệu quả các bài đọc văncũng như câu Đọc - hiểu trong chương trình Ngữ văn THPT Để bài học không cònnhàm chán, để tăng hứng thú cho học sinh thì phải có sự tương tác hai chiều giữa

Trang 4

giáo viên và học sinh, từ đó giúp người dạy điều chỉnh quá trình giảng dạy của bảnthân.

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các tác phẩm Văn học Việt Nam trong chương trìnhsách giáo khoa Ngữ văn lớp 10, 11, ban cơ bản, do Bộ giáo dục và Đào tạo biên

soạn, cụ thể: Bài Đọc Tiểu Thanh Kí, Nhàn, Chữ người Tử Tù, Chí Phèo, Đây thôn

Vĩ Dạ

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp những phương pháp sau: Phươngpháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp lí luận chung, phương pháp phân tích tổnghợp, phương pháp thực nghiệm

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN

2.1 Cơ sở lý luận.

2.1.1 Đổi mới phương pháp dạy học.

Nâng cao chất lượng dạy học là một nhu cầu bức thiết của xã hội ngày nayđối với các cơ sở giáo dục Trong rất nhiều các giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng đào tạo thì giải pháp đổi mới phương pháp dạy học được xem là khâu vôcùng quan trọng Thực trạng phương pháp dạy học ngày nay vẫn là phương phápthuyết trình Phương pháp thuyết trình lấy công nghệ dạy học gắn với quan điểm:

“Lấy người dạy làm trung tâm” không còn phù hợp với phương pháp dạy học vàchương trình sách giáo khoa mới ngày nay Hệ lụy của phương pháp này là: Thầythuyết giảng theo kiểu đọc chép, người học thụ động tiếp thu kiến thức một chiều,kiến thức áp đặt, dạy học theo kiểu nhồi nhét kiến thức, học nhiều nhưng thực hànhcòn quá ít

Phát triển nguồn lực có chất lượng cao đòi hỏi phải đổi mới căn bản, toàndiện giáo dục, đào tạo theo hướng mở, hội nhập, xây dựng một xã hội học tập, pháttriển toàn diện năng lực, thể chất, nhân cách, đạo đức, lối sống, ý thức tôn trọngpháp luật và trách nhiệm công dân Một trong những giải pháp nhằm nâng cao chấtchất lượng nguồn lực là phải đổi mới phương pháp dạy học

Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trìnhgiáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗquan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụngđược cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải chuyển từ phương phápdạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiếnthức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất

Trang 5

Ngay từ những năm 1960, lí luận văn học tại Hoa Kì và Đức đã biết đến líthuyết phản hồi của người đọc (Reader-response theory) do các tác giả tiêu biểunhư Stanley Fish, David Bleich, Wolfgang Iser, Louise Rosenblatt… đề xướng.Cách tiếp cận của lí thuyết này là những ứng phó của người đọc đối với văn bản;

theo đó, đọc không phải là một hành động thụ động mà khi đọc, người đọc

phản ứng với các văn bản bằng cách tạo ra ý nghĩa riêng theo kinh nghiệm của mình, nói cách khác là tạo ra văn bản “cho mình” bằng những hiểu biết, niềm tin, trải nghiệm, kì vọng của chính mình Khi đó, đọc trở thành hình thức tương tác giữa người đọc và văn bản, một sự tương tác gợi lên những kinh nghiệm, nhận thức của một cá nhân người đọc cụ thể Mặt khác, lí thuyết này cũng đưa ra chiến lược và những hoạt động chủ yếu giúp người đọc

tương tác với văn bản văn học một cách chủ động, sáng tạo để hiểu biết văn bảnsâu sắc và hiệu quả hơn

2.1.2 Sự phản hồi của học sinh trong quá trình dạy học.

Trong quá trình phát triển của mình, lí thuyết phản hồi của người đọc đã

ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường theo quan điểmhọc sinh - người đọc Thay cho việc GV tập trung phân tích cấu trúc văn bản cho

HS, việc dạy học Ngữ văn quan tâm hơn đến cách thức thúc đẩy, khuyến khích, tạođiều kiện để HS phản hồi lại văn bản theo kinh nghiệm, nhận thức của mình; đồngthời HS cũng được hướng dẫn, rèn luyện những cách thức phản hồi thích hợp đểqua đó, GV có thể một mặt nuôi dưỡng cá tính của phản hồi, mặt khác nắm đượckhả năng, mức độ kiến thức, kĩ năng của HS và xác định những điều chỉnh, pháttriển hợp lí

Khơi gợi được sự phản hồi của HS, HS tích cực và thích thú phản hồi trongquá trình tiếp nhận tác phẩm văn chương là điều kiện thuận lợi để GV có thể pháthuy hết vốn kiến thức, kinh nghiệm sư phạm, làm tốt chức năng của người tổ chức,hướng dẫn quá trình dạy học; và HS cũng có thể phát huy tính tích cực, chủ động,sáng tạo của mình, làm tốt chức năng chủ thể của người học - người đọc theo địnhhướng phát triển tích cực

2.2 Cơ sở thực tiễn và thực trạng vấn đề.

2.2.1 Cơ sở thực tiễn.

Phương pháp dạy học Ngữ văn trên cơ sở phản hồi của học sinh là một chiếnlược dạy học GV sử dụng để điều chỉnh những kinh nghiệm, kiến thức và nhữngcách thức dạy học để trợ giúp sự phát triển tư duy cho HS Mô hình dạy học nàyđược hình thành từ lý thuyết dạy học văn dựa trên quan điểm của người học Môhình này cũng được xây dựng dựa trên tiến trình hiểu một tác phẩm văn chương.Ngoài việc người đọc hướng tới việc tạo nghĩa cho văn bản khi họ tham gia vào

Trang 6

hoạt động đọc thì họ còn hướng tới những ý tưởng khác do họ sáng tạo ra Nhữngcâu hỏi và sự suy đoán lần lượt xuất hiện và trở thành động cơ “trải nghiệm nhữngkinh nghiệm”

Mô hình dạy đọc văn bản văn học trên cơ sở phản hồi của HS là một môhình dạy học mở, đặt trọng tâm vào đối tượng người học, giải phóng tối đa nănglực tư duy sáng tạo của HS Trước mắt người học không phải là những bài giảng,những kiến thức có sẵn, mà là những vấn đề, những tình huống, những mâu thuẫnđược gợi ra từ văn bản mà người học cần vượt qua Bản chất của mô hình dạy đọcvăn bản văn học trên cơ sở phản hồi của HS là GV sử dụng những chiến lược dạyhọc để khơi gợi, khuyến khích người học suy ngẫm và khám phá những cách hiểu

có thể về văn bản, từ đó giúp họ tham gia vào quá trình giải mã và tạo nghĩa chovăn bản Trong giờ đọc hiểu văn bản, GV tổ chức những hoạt động như thảo luậnnhóm, đóng vai, phỏng vấn, tranh luận … để hướng dẫn HS đọc và khám phá tácphẩm trên cơ sở tự giác, tích cực, sáng tạo Giờ học được tổ chức xoay quanhnhững phản hồi của HS về văn bản, về ý kiến của bạn học GV theo sát các ýtưởng, câu trả lời của HS và từ những ý tưởng câu trả lời đó, GV tiếp tục khơi gợi

để HS khám phá, trải nghiệm chân trời các cách hiểu có thể về văn bản Sự phảnhồi của HS có thể rất đa dạng, có thể dưới dạng một câu trả lời, một câu hỏi hoặcmột quan điểm, thậm chí đề xuất một cách hiểu hoàn toàn mới dựa trên sự hiểubiết, kinh nghiệm sống của các em GV tổ chức cho HS xem xét và phân tích cácquan điểm khác nhau của HS trong lớp học để giúp HS phát triển, mở rộng sự hiểubiết về văn bản, giúp họ hiểu bạn học và hiểu chính bản thân mình Giờ học vănlúc này thật sự là một trải nghiệm đầy thú vị và bất ngờ của HS

Quá trình đọc và trải nghiệm, cho phép người đọc sử dụng các quan điểmkhác, sự hiểu biết về những văn bản có liên quan, kiến thức nền, ngữ cảnh khi vănbản ra đời và thời điểm đọc, giải mã và tạo nghĩa cho văn bản Mục đích giờ lênlớp của GV không phải là để truyền thụ những kiến thức đã được định sẵn tronggiáo án mà đó là một giờ cùng HS trải nghiệm, thám hiểm những chân trời củanhững cách hiểu có thể về văn bản Giờ đọc văn trên lớp được xem là thời điểm đểphát triển sự hiểu biết vì HS đã có một quá trình trải nghiệm trước đó khi HS đọcvăn bản một mình ở nhà Giáo án trong mô hình dạy học trên cơ sở phản hồi củangười học lúc này không phải là bản ghi chi tiết các bước lên lớp, những kiến thứccần phải truyền thụ cho HS mà là kế hoạch những hoạt động mà GV dự kiến sửdụng để giúp HS tự khám phá, phát huy vai trò chủ thể học tập Trong dạy học vănhiện nay, GV thường chú trọng nhiều đến hai kỹ năng đọc - viết mà ít chú ý đếnviệc phát triển hai kỹ năng nghe - nói cho HS Việc tổ chức giờ dạy học Ngữ Văn

Trang 7

trên cơ sở phản hồi của HS sẽ phát triển song song bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viếtcho HS.

Mô hình dạy đọc văn bản trên cơ sở phản hồi của người đọc - HS khác với

mô hình dạy đọc văn bản truyền thống của Việt Nam Đặc điểm mô hình dạy họctruyền thống của nước ta là GV tìm hiểu văn bản, xác định mục tiêu bài học, địnhtrước những hoạt động, lựa chọn những đơn vị kiến thức, soạn giáo án và lên lớptruyền thụ những kiến thức ấy cho HS Giờ học lặp đi, lặp lại theo một quy trìnhđịnh sẵ̃n, áp dụng với mọi giờ học GV khi lên lớp phải thực hiện đầy đủ các bước

từ ổn định lớp, kiểm tra sĩ số, kiểm tra bài cũ, giới thiệu bài mới, giảng bài, củng

cố và hướng dẫn chuẩn bị bài mới Thiếu một bước coi như tiết học chưa hoànthành Mọi giờ học đều giống nhau, các bước lên lớp cứ lặp đi lặp lại nhàm chán,

tẻ nhạt, không gây hứng thú đối với HS SGK và SGV được xem là pháp lệnh Đặcbiệt khi kiểm tra đánh giá giờ dạy, GV thường bị đánh giá vào các tiêu chí là cóthực hiện đầy đủ các bước lên lớp hay không, có bị “cháy” giáo án không, GV cótruyền đạt đầy đủ kiến thức của bài học hay không Vì thế, để thực hiện tốt điềunày, GV thường chạy đua với thời gian, không tổ chức được những hoạt động đểcác em được trải nghiệm, được bày tỏ những ý kiến cá nhân về văn bản GV làngười nắm giữ kiến thức nên HS chỉ thụ động tiếp nhận từ GV và tái hiện nhữngkiến thức ấy trong những đợt kiểm tra, thi cử Đôi lúc HS cũng có những cảm nhậnriêng, những ý kiến sáng tạo nhưng chỉ dừng lại ở sự ghi nhận, tham khảo Tronggiờ học ít có sự tương tác, đối thoại giữa GV - HS, giữa HS - HS HS ít đặt câuhỏi, thậm chí không biết đặt câu hỏi về bài học với GV và các bạn cùng lớp Mốiquan hệ giữa GV và HS xoay quanh trục: Thầy truyền đạt - trò tiếp nhận Ta có thể

so sánh một cách khái quát mô hình dạy đọc văn bản truyền thống và mô hình dạyđọc văn bản dựa trên sự phản hồi của người đọc (HS) như sau:

Mô hình dạy đọc văn bản truyền

- HS thụ động tiếp nhận kiến thức - HS chủ động tìm kiếm kiến thức, ý kiến của

HS được khuyến khích và tôn trọng

- GV quyết định quy trình dạy học,

Trang 8

Mô hình dạy học dựa trên phản hồi của người học là một mô hình mở, đặttrọng tâm vào đối tượng người học, cho phép giải phóng tối đa năng lực tư duysáng tạo của HS Trong giờ dạy học đọc hiểu, ngoài việc HS góp phần tạo nghĩacho văn bản khi tham gia hoạt động đọc thì các em còn hướng tới những ý tưởngkhác do chính mình sáng tạo ra Đó là quá trình thăm dò, khám phá những cảmxúc, những mối quan hệ, gợi nhớ lại những gì người đọc đã biết về nhân vật, tácphẩm và đặt những gợi nhớ đó trong những trải nghiệm của người đọc về conngười, cuộc sống… Theo hướng dạy học này, bài học văn không dừng lại ở chỗgiờ học kết thúc Giờ học kết thúc nhưng người đọc - người học vẫn tiếp tục suyngẫm về những những cách giải thích, cắt nghĩa, về số phận, tính cách nhân vật, vềcách kết thúc hay hàm nghĩa mà các vấn đề trong tác phẩm đặt ra, mở rộng thêmnội dung cho việc đọc hiểu văn bản.

2.2.2 Thực trạng vấn đề.

Năm học 2020 - 2021, tôi được BGH nhà trường phân công giảng dạy 3 lớpgồm 10A3, 11A5 và 11A8 Qua thực tế dạy học của bản thân, cũng như khảo sátquá trình làm việc của đồng nghiệp và quá trình học của HS tại trường THPT LêLợi trong những giờ học văn bản, chúng tôi nhận ra một số thực trạng sau:

Những năm gần đây, GV đã ý thức về việc thay đổi phương pháp dạy họctích cực Tuy nhiên, hiệu quả chưa mang tính đột phá, đại trà Trong các giờ học,

GV phải làm việc nhiều Giới hạn phân lượng thời gian ngắn mà lượng kiến thứccần đạt lại rất nhiều Cho nên, mỗi giờ học, GV như đang “chạy đua” cùng thờigian để tránh “cháy bài, cháy giờ” Một trong những nguyên nhân giết chết hứngthú, cảm xúc văn chương ở HS là lối dạy áp đặt, cách truyền thụ một chiều từ thầyđến trò, thậm chí là nhiều GV ở một số trường phổ thông dạy chung một bộ giáo

án rồi soạn đề cương, dàn ý sẵn cho HS học và kiểm tra, vẫn còn tồn tại tệ nạn đọc

- chép HS ít có cơ hội phản hồi, sáng tạo trong cách cảm, cách hiểu, cho sự phátbiểu những ý kiến mang tính chất khám phá riêng của cá nhân

Từ phía HS, qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng: Theo xu hướng chọn trường,chọn nghề hiện nay, đa số học sinh chọn môn tự nhiên để học Các em học mônNgữ văn với mục tiêu “lấy điểm” mà chưa thấy được giá trị bồi đắp tư tưởng, tìnhcảm cho mình Hơn nữa, cùng với sự phát triển mạnh của công nghệ thông tin là sựxuống dốc của văn hóa đọc Đa số HS không thích đọc tác phẩm Cần thông tin gì

thì các em lại “search google”, soạn bài cũng “search google”, tìm câu trả lời cũng

“search google”, có bạn mượn vở ghi, vở soạn của các anh, chị khóa trước hoặccủa lớp khác để chép lại, ghi lại mà không hiểu vấn đề bài học Một giờ học Văndiễn ra trầm lắng, nặng nề, GV là người độc diễn, HS là cái máy ghi vô hồn, chưa

tự mình cảm nhận, rung động trước một chi tiết, một hình ảnh, một nhân vật trong

Trang 9

tác phẩm Còn gì đọng lại sau mỗi tiết học ấy? Và còn nhiều những nguyên nhân

cả chủ quan lẫn khách quan khác nữa Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học Ngữvăn càng có cơ sở và trở nên cấp thiết Phải làm sao để HS yêu thích, hứng thú họcvăn hơn, chất lượng môn học ngày càng nâng cao và đặc biệt hướng tới mục tiêugiáo dục của môn học trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai là một bài toáncần nhiều người giải đáp GS TS Nguyễn Minh Thuyết cho rằng: “để thực sự đạtđược mục tiêu rèn luyện năng lực cho học sinh, chương trình Ngữ văn tương laicần là một chương trình mở” [5]

Từ thực tế nêu trên, chúng ta cần có biện pháp để phát huy cao nhất tính tíchcực sáng tạo của người học, tạo niềm hứng thú say mê, tự nguyện học tập ở các

em, giúp các em khám phá giá trị của những tác phẩm văn học

Như vậy, qua khảo sát, người viết nhận thấy từ cơ sở lý luận và thực tiễn củaviệc dạy học một số tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 10, 11, việc đổi mớiphương pháp dạy đọc văn bản Ngữ văn trên cơ sở phản hồi của học sinh là điều rấtcần thiết

2.3 Phương pháp dạy đọc văn bản Ngữ văn trên cơ sở phản hồi của học sinh.

2.3.1 Các dạng câu hỏi sử dụng để khơi gợi sự phản hồi của học sinh về văn bản trong tiến trình đọc hiểu:

Như chúng ta đã biết “Đặt câu hỏi hiệu quả cao là cách thức giúp HS thamgia tích cực vào các hoạt động học tập” [6] Khi thiết kế câu hỏi trong dạy học vàkiểm tra đánh giá mức độ nhận thức của HS, các nhà giáo dục thường dựa vàothang nhận thức gồm 6 bậc: Nhớ - Hiểu - Vận dụng (mức độ tư duy bậc thấp) -Phân tích - Đánh giá và Sáng tạo (mức độ tư duy bậc cao) Thang nhận thức nàyđược sử dụng phổ biến trong tất cả các môn học Bản chất của mô hình dạy đọcvăn bản dựa trên sự phản hồi của HS là dựa trên câu trả lời của HS, GV nêu câuhỏi tiếp theo để khơi gợi, phát triển sự hiểu biết của HS về văn bản Việc sử dụngmột hệ thống CH có chức năng kích hoạt kiến thức nền của HS, khơi gợi HS chia

sẻ cách hiểu của họ về văn bản, giúp họ phát triển ý tưởng và cách lý giải về vănbản rất quan trọng Từ thực tế giảng dạy của bản thân tôi xin đề xuất một số loạicâu hỏi sau:

LOẠI CÂU HỎI

MỤC ĐÍCH VẬN DỤNG VÀO MÔ HÌNH DẠY ĐỌC VĂN BẢN DỰA TRÊN SỰ PHẢN HỒI CỦA HỌC SINH

Trang 10

- Cảm nhận đầu tiên của em khi đọc

văn bản là gì?

- Tựa đề văn bản gợi cho em nghĩ đến

điều gì?

Khơi gợi kiến thức nền của HS, phát triển

năng lực giải mã văn bản

- Tìm các chi tiết thể hiện tính cách, số

phận, tâm trạng của nhân vật…

Đây là loại CH hướng dẫn HS tìm các chitiết quan trọng, nhận biết thông tin, phát triểnvai trò giải mã văn bản

- Tìm những câu thơ, hình ảnh thơ mới

lạ của tác phẩm Tìm các biện pháp

nghệ thuật được sử dụng trong tác

phẩm…

Rèn kỹ năng phân tích, giải thích, so sánh,

phát triển năng lực tạo nghĩa cho văn bản

Bảng: Loại câu hỏi trong mô hình dạy đọc văn bản dựa trên sự phản hồi của HS.

2.3.2 Phương pháp sử dụng câu hỏi để khơi gợi sự phản hồi học sinh về văn

bản trong tiến trình đọc hiểu.

Việc đặt câu hỏi đối với HS trong quá trình tiếp nhận văn học có ý nghĩa làmthay đổi tình thái của giờ học, hay nói cách khác là mở ra tình huống “có vấn đề”,xác định tâm thế thực tại và đặt học sinh vào các yêu cầu của việc nhận thức Như

đã nói, sự phản hồi của HS về văn bản rất đa dạng nên GV cũng cần đa dạng, linhhoạt, sáng tạo trong việc thiết kế câu hỏi nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủđộng của người học và mở rộng kênh phản hồi của HS về văn bản, khắc phục tối

đa lối dạy học áp đặt một chiều vẫn còn tồn tại xưa nay

a Phản hồi bằng hình thức trả lời miệng.

Phản hồi bằng hình thức trả lời miệng là hình thức phản hồi trực tiếp ngaytrong giờ đọc văn bản trên lớp Có hai hình thức sử dụng câu hỏi cho kiểu phản hồinày: câu hỏi khơi gợi HS trả lời với tư cách cá nhân và câu hỏi dành cho việc tổchức hoạt động thảo luận nhóm nhỏ Trong giờ đọc văn bản, HS có thể phản hồitrực tiếp qua việc trao đổi đối thoại với GV và bạn học Sử dụng hình thức câu hỏinày GV có thể năng kiểm tra và đánh giá được năng lực của cá nhân mà cụ thể lànăng lực cảm thụ, phân tích, phản biện Hình thức nêu CH này có thể vận dụngtrong cả ba giai đoạn của mô hình dạy đọc văn bản trên cơ sở phản hồi của HS CHkhơi gợi sự trao đổi, đối thoại trực tiếp giữa GV - HS có thể thiết kế ở mức độ nhớ,hiểu, vận dụng Vì lúc này không cho phép HS dừng lại quá lâu để suy nghĩ

Chẳng hạn, khi dạy bài Vội vàng của Xuân Diệu các câu hỏi sau có thể sử dụng để

khơi gợi sự trao đổi đối thoại trực tiếp của cá nhân HS với GV:

- Cụm từ “vội vàng” gợi cho em suy nghĩ gì? Với nhan đề này, em có thể dự đoánxem bài thơ nói về đề tài gì?

Trang 11

- Ngoài từ “Vội vàng”, bài thơ còn những từ ngữ nào nói về thời gian nữa không?

Sau khi dạy xong bài Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm), ở phần Củng cố, liên hệ

bài học, GV đã liên hệ so sánh phong thái sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm với Chủtịch Hồ Chí Minh và khẳng định: cả hai phong thái sống đều giống nhau, đó làphong thái ung dung, tự tại của những bậc tri túc, đúng như đoạn thơ sau trong bàithơ Bác ơi của Tố Hữu:

Bác để tình thương cho chúng con, Một đời thanh bạch, chẳng vàng son, Mong manh áo vải hồn muôn trượng, Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.

Tuy nhiên, có HS đã nêu ý kiến: không thể so sánh phong thái sống củaNguyễn Bỉnh Khiêm với Bác Hồ, vì Bác Hồ là Chủ tịch nước Còn Nguyễn BỉnhKhiêm là một người ở ẩn

Tiếp theo ý kiến đó, một HS khác phát biểu: không nên liên hệ, so sánh vớiBác Hồ - người có quan niệm về cuộc đời hoàn toàn khác với Nguyễn BỉnhKhiêm

b Phản hồi bằng hình thức thảo luận nhóm.

Trong mô hình dạy đọc văn bản văn học trên cơ sở phản hồi của HS, sựphản hồi của HS giữ vai trò quan trọng trong giờ học và trở thành những lí do đểgiờ học tiếp tục Tuy nhiên, không phải bất cứ phát biểu nào của HS về văn bảncũng được xem là một sự phản hồi tích cực và thuyết phục Vì thế, tổ chức cho HSthảo luận nhóm dựa câu trả lời hoặc ý kiến của bạn về văn bản là một biện phápkhơi gợi sự phản hồi tiếp tục của tất cả các thành viên trong lớp học, làm sáng tỏmọi hoài nghi của các cách hiểu, mài sắc thêm cách lí giải của HS về văn bản Đểthu hút sự quan tâm và khơi gợi hứng thú trao đổi, tranh luận của HS, vai trò của

GV hết sức quan trọng GV cần tinh nhạy nắm bắt những ý tưởng “có vấn đề” của

HS để tổ chức cho HS “xem xét lại” chính những ý tưởng đó của các em như mộtcách phản hồi tích cực về văn bản ngay trong giờ học Thảo luận trong giờ đọc vănbản, HS phải đồng thời thực hiện các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết,… người họcđược tạo cơ hội trao đổi, chia sẻ những hiểu biết và trình bày quan điểm của mình.Theo đó năng lực giao tiếp và kỹ năng làm việc nhóm cũng phát triển Sử dụng câuhỏi cho học sinh thảo luận nhóm GV có thể kiểm tra kỹ năng tương tác và làm việctập thể của HS Theo thang nhận thức thì việc thiết kế những câu hỏi mở, có mức

độ tư duy bậc cao (phân tích, đánh giá, sáng tạo) phù hợp để cho HS thảo luậnnhóm Những câu hỏi này có độ phức tạp cao, đòi hỏi học sinh phải dùng khả năngphân tích, tổng hợp, suy luận để cùng nhau giải quyết vấn đề

Ngày đăng: 05/06/2022, 10:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm so với nhóm đối chứng. - (SKKN 2022) Phương pháp dạy đọc văn bản Ngữ văn trên cơ sở phản hồi của học sinh
ng So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm so với nhóm đối chứng (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w