1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) sử dụng sáng tạo các thước phim để tạo hứng thú cho học sinh trong giảng dạy tác phẩm văn học trung học phổ thông

17 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề (SKKN 2022) Sử dụng sáng tạo các thước phim để tạo hứng thú cho học sinh trong giảng dạy tác phẩm văn học trung học phổ thông
Trường học Trường THPT Yên Định 2
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Yên Định
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí do chọn đề tài Xuất phát từ mục đích để nâng cao hiệu quả của công tác giảng dạy mà mỗi giáo viên sẽ luôn nghiên cứu, lựa chọn cho mình những phương pháp phù hợp với từng bài học.. B

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

Xuất phát từ mục đích để nâng cao hiệu quả của công tác giảng dạy mà mỗi giáo viên sẽ luôn nghiên cứu, lựa chọn cho mình những phương pháp phù hợp với từng bài học Bản thân tôi đã chọn đề tài: Sử dụng sáng tạo các thước phim

để tạo hứng thú cho học sinh trong giảng dạy tác phẩm văn học trung học phổ thông Đề tài này xuất phát từ những lí do sau:

Thứ nhất, phương pháp dạy học chính là cách làm, cách giải quyết một vấn

đề trong giảng dạy Đó là sự tương tác chung giữa giáo viên và học sinh ở điều kiện dạy học nhất định, nhằm đạt được các mục tiêu của bài học Dạy học lấy học sinh làm trung tâm là đặt người học vào vị trí trung tâm của hoạt động dạy -học, xem cá nhân người học - với những phẩm chất và năng lực riêng của mỗi người - vừa là chủ thể vừa là mục đích của quá trình đó; phấn đấu tiến tới cá thể hóa quá trình học tập với sự trợ giúp của thầy cô và các phương tiện thiết bị hiện đại, để cho tiềm năng của mỗi HS được phát triển tối ưu Như vậy giáo viên cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học thông qua các biện pháp cụ thể

Thứ hai, Văn học là một tác phẩm nghệ thuật ngôn từ Một số học sinh chưa thấy

được cái hay, cái đẹp của tác phẩm nên ngại đọc, ngại học, các em luôn suy nghĩ học Văn là phải ghi, phải nhớ quá nhiều Giáo viên trong giờ dạy làm việc nhiều, vô hình dung để học sinh ở vị trí bị động Từ đây, đòi hỏi mỗi giáo viên cần phải tích cực tìm tòi nghiên cứu đổi mới phương pháp phù hợp để tạo hứng thú cho học sinh, đồng thời giúp các em thay đổi suy nghĩ về cách học môn Văn

Thứ ba, đây là thời đại công nghệ 4.0, đòi hỏi mỗi giáo viên cần phải biết học

tập, nâng cao hiểu biết và có kỹ năng, kỹ xảo trong sử dụng các thiết bị công nghệ thông minh để ứng dụng vào nâng cao hiệu quả giảng dạy Theo chương trình giáo dục 2018, chúng ta cần biết sử dụng các đồ dùng dạy học là các video, tranh ảnh liên quan đến nội dung bài học một cách hiệu quả

Thứ tư, cơ sở vật chất của trường THPT Yên Định 2 luôn được trang bị và

nâng cấp đầy đủ Mỗi phòng học đều được trang bị một máy trình chiếu hiện đại, có hệ thống loa vi tính phù hợp Đặc biệt, Ban giám hiệu nhà trường luôn động viên, khuyến khích giáo viên sử dụng tối đa các thiết bị công nghệ để nâng cao hiệu quả giảng dạy Bên cạnh đó, nhà trường còn có một đội ngũ cán bộ thiết bị có chuyên môn vững vàng, tâm huyết, nhiệt tình hướng dẫn, hỗ trợ giáo viên sử dụng máy móc, thiết bị để có những giờ dạy tốt nhất

Vì những lý do trên, tôi luôn trăn trở làm sao để tạo nên một giờ học sinh động? Làm sao để thu hút học sinh khi tiếp tiếp cận với tác giả, tác phẩm văn học? Làm sao để ứng dụng công nghệ thông tin vào việc giảng dạy một cách hiệu quả nhất Và tôi đã làm được điều đó

1.2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài này nghiên cứu nhằm mục đích: Nâng cao hiệu quả giảng dạy Giúp cho bài dạy học về tác giả và tác phẩm văn học trở nên sinh động và hấp dẫn Phát

huy tính chủ động và sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập

Trang 2

Mặt khác để chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy với đồng nghiệp Từ đó, bản thân

sẽ có sự điều chỉnh phương pháp phù hợp với đặc trưng môn học

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Các bài học về tác giả, tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn THPT Các thước phim có liên quan đến tác giả và tác phẩm Văn học Quá trình cắt ghép và sử dụng các thước phim Hiệu quả của việc sử dụng các thước phim trong giờ học

1 4 Phương pháp nghiên cứu

Để làm đề tài này tôi đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu các ứng dụng phần mềm tin học hiện có trên thị trường để có thể sử dụng tốt trong quá trình thiết kế bài giảng, thiết kế trực quan, quan sát và thiết

kế hiệu ứng video trong các thước phim

Khảo sát đối tượng học sinh trong bậc trung học phổ thông khi tiếp nhận các bài giảng có sử dụng một số phương tiện kỹ thuật trong bài giảng để từ đó có thể

có những chuẩn bị phù hợp khi xử lý các tình huống sư phạm Xây dựng nội dung chính của phần kiến thức cơ bản để từ đó lựa chọn những thước phim phù hợp

Thực hiện bài dạy có sử dụng công nghệ thông tin với những nội dung chính theo dự kiến và tiến hành một cách chủ động có kế hoạch Mặc dù đã thiết kế sẵn nhưng khi triển khai các nội dung bài học có ứng dụng công nghệ thông tin bằng các thước phim thì giáo viên cần phải lưu ý tới khâu chuẩn bị trình chiếu hết sức lưu ý để hạn chế tối đa những sự cố không đáng có khi tiến hành giảng dạy

Các phương pháp đã sử dụng: Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết, phương pháp điều tra khảo sát thực tế, phương pháp thu thập thông tin, phương pháp thống kế, xử lí số liệu

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Theo chương trình giáo dục Ngữ Văn 2018 đã đưa ra mục đích của giảng dạy

bộ môn là: Hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm; bồi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách và phát triển cá tính Môn Ngữ văn giúp học sinh khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu con người, có đời sống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn; có tình yêu đối với tiếng Việt và văn học; có ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc, góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị văn hoá Việt Nam; có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và khả năng hội nhập quốc tế Đồng thời góp phần giúp học sinh phát triển các năng lực chung: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

Đặc biệt, môn Ngữ văn giúp học sinh phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học: rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe; có hệ thống kiến thức phổ thông nền tảng về tiếng Việt và Văn học, phát triển tư duy hình tượng

Trang 3

và tư duy logic, góp phần hình thành học vấn căn bản của một người có văn hoá; biết tạo lập các văn bản thông dụng; biết tiếp nhận, đánh giá các văn bản văn học nói riêng, các sản phẩm giao tiếp và các giá trị thẩm mĩ nói chung trong cuộc sống

Như chúng ta biết, khi được quan sát, chứng kiến thực tế con người ta sẽ biết thêm được nhiều điều mới lạ bổ ích; có dịp “khơi những nguồn chưa ai khơi” và biết những điều nhiều người chưa biết Việc tiếp xúc các thước phim sẽ giúp học sinh có ấn tượng sâu sắc, rõ nét hơn và chắc chắn là nhớ lâu hơn nếu chỉ có nghe bằng tai Bởi vậy, phương pháp trực quan - mắt nhìn trong giáo dục có vai trò vô cùng quan trọng

Đối với môn Ngữ văn, trực quan không chỉ dừng lại ở mức để nhận biết sự vật, sự việc mà trực quan còn có giá trị khi dòng cảm xúc gợi hứng thú tích cực học tập Là giáo viên dạy Văn có lẽ chúng ta đều công nhận cái khó khăn nhất

mà cũng là quan trọng nhất trong dạy học Văn chính là cơ gợi những cảm xúc những rung động trong tâm hồn học sinh Từ đó hình thành sợi dây tình cảm gắn kết người học với bộ môn Để làm được điều này đòi hỏi mỗi khi giáo viên cần vận dụng nhiều phương pháp như: hỏi đáp, thuyết trình và đặc biệt là trực quan qua các thước phim, các video và các hình ảnh minh họa Từ những rung động chân thành người học sẽ có tâm thế học tốt hơn, hiệu quả hơn

Như nhà thơ Hoài Thanh đã từng khẳng định Văn chương là hình dung của sự sống, xuất phát từ trong cuộc sống Chính vì thế người giáo viên dạy Văn phải biết tái hiện bức tranh cuộc sống ấy trước mắt học sinh, biến những bài học khô khan trở thành giờ giải trí giúp cho các em khám phá được bao điều kỳ thú của cuộc sống con người

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Học sinh học tập trì trệ, thụ động, thiếu hào hứng Xét về xã hội, thời đại chúng ta đang sống là thời đại khoa học công nghệ, dễ hiểu là đại đa số HS chỉ muốn học các ngành khoa học tự nhiên, kĩ thuật, kinh tế… Học Văn không mấy thiết thực trong đời sống kinh tế thị trường Đó là lí do làm cho đa

số học sinh không cố gắng học Văn

Thực tế, lâu nay thầy giáo làm người thưởng thức văn chương hộ rồi giảng lại cái hay cho học sinh chép Cách dạy đó đi ngược lại bản chất của văn chương, đi ngược lại nguyên tắc dạy học, là phương pháp cách ly tốt nhất học sinh – người đọc khỏi tác phẩm, làm cho học sinh không có dịp trực tiếp đối diện với văn bản, do đó không có thói quen tự mình khám phá văn bản và tất nhiên đánh mất luôn năng lực tự học của họ

Ngày nay, Đại học không phải là con đường duy nhất để lập thân lập nghiệp, không nhất thiết cứ phải cố gắng thi đậu Đại học, chỉ cần đủ đậu Tốt nghiệp THPT là được Từ đó một số em không đầu tư cho các môn, trong đó có môn Ngữ văn

Một số giáo viên còn chậm tiếp cận CNTN, ngại đổi mới phương pháp nên giờ học còn đơn điệu rơi vào trầm lắng, không phát huy được vai trò trung tâm của người học học

Trang 4

Từ thực trạng trên, tôi suy nghĩ cần phải có những biện pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả giảng dạy, không để thực trạng trên kéo dài Và tôi đã phát huy Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng phim tài liệu kết hợp với sơ đồ tư duy vào

giảng dạy tác phẩm Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh (Ngữ văn 12 – Tập 1) Sáng kiến đã đạt giải cấp tỉnh năm 2019 Trên cơ sở này, tôi đã sự dụng biện

pháp trong phạm vi rộng hơn và sáng tạo hơn

2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

Trước hết, tôi đầu tư thời gian để tìm hiểu các bài học và phương pháp dạy học tích hợp Tìm các nguồn phim, video, tài liệu liên quan đến bài học Không ngừng nâng cao kỹ năng sử dụng các thiết bị công nghệ để các thao tác diễn ra chính xác, nhanh gọn và hiệu quả

Sau đó, xem kĩ phim tư liệu, nghiên cứu các nguồn tài liệu, rồi cắt - ghép

sử dụng sáng tạo, tránh lạm dụng quá nhiều mà ảnh hưởng tới thời gian của giờ học Có thể sử dụng vào phần khởi động bài học để thu hút, tạo hứng thú, tăng tính tò mò khám phá bài học cho học sinh Hoặc có thể sử dụng đan xen trong quá trình Hình thành kiến thức bài học để làm tăng tính sinh động và hấp dẫn cho giờ học Hoặc có thể sử dụng ở phần củng cố bài học nhằm tạo sự lắng đọng cho học sinh sau giờ học

Trong năm học vừa qua, được phân công giảng dạy lớp 10 và lớp 12 nên tôi đã sử dụng biện pháp này ở cả hai khối lớp Trong phạm vi của sáng kiến kinh nghiệm này, tôi chỉ đưa ra cách sử dụng phương pháp này trong ba bài:

Lớp 10 bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi (Phần một: Tác phẩm), Lớp 12 bài Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh (Phần một: Tác giả) và bài Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân (tiết 1) Sau đây tôi xin trình bày cụ thể cách

thức sử dụng phương pháp:

Khi dạy bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, phần một: Tác giả Đây là

bài văn học sử, kiến thức cơ bản đã có trong SGK Giáo viên định hướng để học

sinh tự nghiên cứu bài học tại lớp Tôi dùng phim tài liệu Tiểu sử về tác giả Nguyễn Trãi để củng cố nội dung sau mỗi phần.

Trang 5

Phim tư liệu tôi đã sử dụng (trình chiếu nguồn phim tư liệu)

Dung lượng của phim tài liệu hơn 4 phút, chia làm ba nội dung Thứ nhất cho các em xem từ đầu đến 1’23s để củng cố phần Tiểu sử tác giả Chuyển sang phần Sự nghiệp sáng tác, GV yêu cầu học sinh tóm tắt kiến thức phần này GV củng cố kiến thức bằng việc cho các em xem đoạn video còn lại Đoạn này giới

thiệu về tập thơ Quốc âm Thi tập và các sáng tác của Nguyễn Trãi Đặc biệt,

phần kết luận tôi cho xem đánh giá vai trò vị trí của Nguyễn Trãi

Ở chương trình lớp 12, dạy bài Tuyên Ngôn độc lập của Hồ Chí Minh

phần Tác giả Khi hướng dẫn học sinh tự nghiên cứu, tìm hiểu xong phần I: VÀI

NÉT VỀ TIỂU SỬ, tôi cho học sinh xem phim tư liệu (4’) Những giây phút cuối đời của chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu Mục đích tạo sự lắng đọng trong

tâm hồn học sinh Sự ra đi của Bác đã để lại sự tiếc thương vô hạn cho dân tộc Việt Nam Từ đó bồi dưỡng tâm hồn, giúp các em biết yêu quý, trân trọng những gì Bác đã để lại cho dân tộc Việt Nam; biết cố gắng nỗ lực học tập trở thành người có ích cho Tổ quốc

Đồng thời tạo tính sinh động và hấp dẫn cho giờ học

Dưới đây tôi đưa ra một bài thiết kế minh họa cụ thể như sau:

Tiết 6

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

Hồ Chí Minh

(PHÂN I – TÁC GIẢ)

I MỤC TIÊU

1 Kiến thức: Hiểu được những nét khái quát về di sản văn học, quan điểm sáng

tác và những đặc điểm cơ bản của phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh

2 Kĩ năng: Vận dụng có hiệu quả những kiến thức trên vào việc cảm thụ và

phân tích thơ văn của Người

Trang 6

3 Thái độ: Lòng yêu mến, kính phục vị “anh hùng giải phóng dân tộc Việt

Nam, danh nhân văn hóa thế giới”.

II CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH

- GV: SGK, SGV, bài soạn tài liệu về Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, các

thước phim về Bác

- HS: Vở soạn, sgk, tài liệu về Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

III PHƯƠNG PHÁP

- GV tổ chức giờ dạy theo cách kết hợp các phương pháp: vận dụng các thước phim phù hợp để gợi tìm, kết hợp các hình thức trao đổi thảo luận, trả lời các câu hỏi

- Riêng phần tác giả: Hướng dẫn học sinh ở nhà đọc kĩ sách giáo khoa và trả

lời câu hỏi trong phần Hướng dẫn học bài GV nêu câu hỏi, HS trả lời và thảo

luận; sau đó GV nhấn mạnh khắc sâu những ý chính

IV TIẾN TRÌNH BÀI DẠY:

1 Ổn định lớp.

2 Kiểm tra bài cũ:

3 Giảng bài mới:

Hoạt động 1 Hoạt động trải nghiệm

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng, người mở đường cho văn học cách mạng Sự nghiệp văn học của Người rất đặc sắc về nội dung tư tưởng, phong phú đa dạng về thể loại và phong cách sáng tác Để thấy rõ hơn những điều đó, chúng ta cùng nhau tìm hiểu bài học hôm nay.

Hoạt động 2: Hoạt động hình

thành kiến thức mới

Hướng dẫn học sinh tìm hiểu vài

nét về tiểu sử của Bác

- Thao tác 1: Tìm hiểu vài nét về

tiểu sử

+ GV: Yêu cầu học sinh đọc

nhanh mục Tiểu sử trong SGK

+ GV: Kết hợp với những hiểu biết

của mình, trình bày ngắn gọn tiểu

sử của Hồ Chí Minh?

+ HS đọc SGK và trả lời.

PHẦN MỘT: TÁC GIẢ

I Vài nét về tiểu sử:

- Xuất thân: Sinh ngày 19-5-1890,

trong một gia đình nhà nho yêu nước

- Quê quán: làng Kim Liên, xã Kim

Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

- Song thân:

+ Cha là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc + Mẹ là cụ bà Hoàng Thị Loan

- Học vấn:

+ Thời trẻ, học chữ Hán ở nhà + Học chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp tại trường Quốc học Huế

+ Có thời gian dạy học ở trường Dục Thanh (Phan Thiết)

- Thao tác 2: Hướng dẫn học sinh

tìm hiểu quá trình hoạt động cách

mạng của Bác.

- Quá trình hoạt động cách mạng: + 1911: ra đi tìm đường cứu nước.

+ 1919: gởi tới Hội nghị Véc-xây “Bản

Trang 7

HOẠT ĐỘNG CỦA GV HOẠT ĐỘNG CỦA HS

+ GV: Nêu những mốc thời gian

hoạt động Cách mạng của Bác?

+ HS suy nghĩ và trời

+ GV cung cấp thêm: Năm 1990, kỉ

niệm 100 năm ngày sinh của chủ

tịch Hồ Chí Minh, Tổ chức giáo

dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp

quốc (UNESCO) suy tôn là “Anh

hùng giải phóng dân tộc Việt Nam,

nhà văn hóa”

 Sự nghiệp chính là sự nghiệp

cách mạng, nhưng người cũng để lại

một sự nghiệp văn học to lớn

yêu sách của nhân dân An Nam”

+ 1920: Dự đại hội Tua, là một trong

những thành viên sáng lập Đảng cộng sản Pháp

+ 1923 - 1941: Hoạt động ở Liên Xô,

Trung Quốc và Thái Lan, tham gia thành lập nhiều tổ chức cách mạng: Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội (1925), Chủ trì hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản trong nước tại Hương Cảng, Đảng cộng sản Việt Nam

+ 1941: Về nước lãnh đạo cách mạng + 1942 – 1943: bị chính quyền Tưởng

Giới Thạch bắt và giam giữ ở các nhà ngục Quảng Tây, Trung Quốc

+ Sau khi ra tù: về nước, lãnh đạo

cách mạng

+ 1946: được bầu làm chủ tịch nước

VNDCCH

+ 2 – 9 – 1969: Người từ trần.

GV cho HS xem thước phim

GV: Em hãy đánh giá vai trò, vị trí của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam?

HS xem thước phim và trả lời

Trang 8

HOẠT ĐỘNG CỦA GV HOẠT ĐỘNG CỦA HS

 Vị lãnh tụ vĩ đại, đồng thời là nhà văn, nhà thơ lớn với di sản văn học quý giá

Hướng dẫn học sinh tìm hiểu sự

nghiệp văn học của Hồ Chí Minh.

- Thao tác 1: Hướng dẫn học sinh

tìm hiểu quan điểm sáng tác của

Bác

+ GV: Giải thích khái niệm quan

điểm sáng tác:

+ GV: Quan điểm sáng tác của Hồ

Chí Minh có những nội dung nào?

+ HS suy nghĩ, thảo luận và trả lời

II Sự nghiệp văn học:

1 Quan điểm sáng tác:

a Văn học là một thứ vũ khí lợi hại phụng sự cho sự nghiệp cách mạng, nhà văn là người chiến sĩ xung phong trên mặt trận văn hoá tư tưởng:

- “Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong”

(Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”).

- “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”

(Thư gửi các hoạ sĩ nhân dịp triển lãm hội hoạ 1951)

+ GV: Vì sao Hồ Chí Minh lại đề

cao tính chân thực và tính dân tộc

của văn học?

+ HS suy nghĩ và trả lời

+ GV: Người còn nhắc nhở giới văn

nghệ sĩ điều gì để thể hiện được tính

dân tộc trong tác phẩm văn chương?

+ HS suy nghĩ, thảo luận và trả lời

b Tính chân thực và tính dân tộc trong văn học:

- Tính chân thực: cảm xúc chân thật,

phản ánh hiện thực xác thực + Người nhắc nhở những tác phẩm:

“chất mơ mộng nhiều quá, mà cái chất thật của sự sinh hoạt rất ít”

+ Người căn dặn: “miêu tả cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn”, phải “giữ tình cảm chân thật”

- Tính dân tộc:

+ Người nhắc nhở giới nghệ sĩ: phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt khi viết, “nên chú ý phát huy cốt cách dân tộc”

+ Người đề cao sự sáng tạo của văn nghệ sĩ: “chớ gò bó họ vào khuôn, làm mất vẻ sáng tạo”

+ GV: Bốn câu hỏi Hồ Chí Minh tự

đặt ra khi cầm bút sáng tác văn học

là gì?

+ HS suy nghĩ và trả lời

c Sáng tác xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung

và hình thức của tác phẩm:

Người luôn đặt 4 câu hỏi:

- “Viết cho ai?” (Đối tượng),

- “Viết để làm gì?” (Mục đích),

- “Viết cái gì?” (Nội dung)

Trang 9

HOẠT ĐỘNG CỦA GV HOẠT ĐỘNG CỦA HS

- “Viết thế nào?” (Hình thức)

 Tuỳ trường hợp cụ thể, Người vận dụng phương châm đó theo những cách khác nhau  Tác phẩm của Người có

tư tưởng sâu sắc, nội dung thiết thực, hình thức sinh động, đa dạng

- Thao tác 2: Hướng dẫn học sinh

tìm hiểu di sản văn học của Bác.

+ GV: Những bài văn chính luận

được Bác viết ra nhằm mục đích gì?

+ HS suy nghĩ và trả lời

2 Di sản văn học:

a Văn chính luận:

- Cơ sở: Khát vọng giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ

- Mục đích: Đấu tranh chính trị, tiến công trực diện kẻ thù, giác ngộ quần chúng và thể hiện những nhiệm vụ cách mạng của dân tộc qua những chặng đường lịch sử

+ GV: Nêu và phân tích một số tác

phẩm văn chính luận tiêu biểu của

Bác?

+ HS suy nghĩ và trả lời

+ GV: Nội dung của những tác

phẩm này nêu lên điều gì?

+ GV: Tác phẩm này lay động tình

cảm người đọc nhờ vào cách viết

như thế nào?

+ GV: Văn bản này có những giá

trị gì?

+ HS suy nghĩ, thảo luận và lần lượt

trả lời

+ GV: Những văn bản này có ý

nghĩa gì?

+ HS suy nghĩ và trả lời

- Tác phẩm tiêu biểu:

+ “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925)

Tố cáo đanh thép tội ác của thực dân Pháp ở thuộc địa

Lay động người đọc bằng những sự việc chân thật và nghệ thuật châm biếm,

đả kích sắc sảo, trí tuệ

+ “Tuyên ngôn độc lập” (1945) Một văn kiện có ý nghĩa lích sử trọng đại và là một áng văn chính luận mẫu mực (bố cục ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, giàu tính biểu cảm)

Thể hiện tình cảm cao đẹp của Bác với dân tộc, nhân dân và nhân loại) + Các tác phẩm khác: “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (1946); “Không có

gì quý hơn độc lập, tự do” (1966) …

 Được viết trong những giờ phút thử thách đặc biệt của dân tộc, thể hiện tiếng gọi của non sông đất nước, văn phong hòa sảng, tha thiết, làm rung lòng người

Trang 10

HOẠT ĐỘNG CỦA GV HOẠT ĐỘNG CỦA HS

+ GV: Những tác phẩm truyện và

kí của Bác được viết nhằm mục

đích gì? Kể tên những tác phẩm

truyện và kí tiêu biểu của Bác?

+ HS suy nghĩ và trả lời

b Truyện và kí:

- Mục đích:

+ Vạch trần bộ mặt tàn ác, xảo trá, bịp bợm của chính quyền thực dân, châm biếm sâu cay vua quan phong kiến ôm chân thực dân xâm lược,

+ Bộc lộ lòng yêu nước nồng nàn và tự hào về truyền thống anh dũng bất khuất của dân tộc

- Tác phẩm tiêu biểu:

+ Pa-ri (1922), + Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922),

+ “Vi hành” (1923), + Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925),

+ Nhật kí chìm tàu (1931), + Vừa đi đường vừa kể chuyện (1963) + GV: Những tác phẩm này có

những đặc điểm gì nổi bật?

+ HS suy nghĩ và trả lời

- Đặc điểm nổi bật:

Chất trí tuệ và tính hiện đại, ngòi bút châm biếm vừa sâu sắc, vừa đầy tính chiến đấu, vừa tươi tắn, hóm hỉnh + GV: Tác phẩm được Bác viết

trong khoảng thời gian nào, nhằm

mục đích gì?

+ HS suy nghĩ và lần lượt trả lời

+ GV: Tác phẩm đã ghi lại những

gì? Nêu ví dụ một tác phẩm tiêu

biểu của Bác?

+ HS suy nghĩ và trả lời

+ GV: Qua một số bài thơ đã học,

em hiểu được những gì về Bác?

Nêu một số ví dụ tiêu biểu

+ HS suy nghĩ, thảo luận và trả lời

c Thơ ca:

* Nhật kí trong tù:

- Mục đích:

Sáng tác trong thời gian bị cầm tù trong nhà giam Tưởng Giới Thạch từ mùa thu

1942 đến mùa thu 1943  “ngày dài ngâm ngợi cho khuây”

- Nội dung:

+ Ghi lại chân thật, chi tiết những điều mắt thấy tai nghe trong nhà tù và trên đường đi đày

+ Bức chân dung tự hoạ về con người tinh thần Hồ Chí Minh:

nghị lực phi thường;

tâm hồn khao khát hướng về Tổ quốc; vừa nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, dễ xúc động trước nỗi đau của con người;

vừa tinh tường phát hiện những mâu

Ngày đăng: 05/06/2022, 10:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w