Việc dạy học lấy học sinh là trung tâm là nhiệm vụ quan trọng, trong đó áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực luôn được giáo viên đặt lên nhiệm vụ hàng đầu nhằm nâng cao chấ
Trang 1MỤC LỤC Trang
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2 2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3 2.3 Giải pháp pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 4
2.3.2 Sử dụng “Sơ đồ tư duy”vào ôn tập theo bài học 5
2.3.3 Sử dụng “Sơ đồ tư duy”vào việc hệ thống kiến thức đã học theo
chủ đề.
7
Trang 21 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT là kỳ thi quan trọng nhất của học sinh khối 12, vì để xét cả tốt nghiệp và đại học, nên việc dạy học và ôn thi để các em đạt được kết quả cao cũng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của giáo viên
Những năm học trước, kết quả thi THPT môn GDCD ở trường THPT Nga Sơn có điểm cao so với nhiều môn khác.Bên cạnh đó, số học sinh có điểm dưới
5 vẫn còn nhiều Đây là điều làm cho các giáo viên ôn thi tốt nghiệp chúng tôi luôn băn khoăn, trăn trở trong suốt thời gian qua
Xuất phát từ thực trạng trên, buộc cá nhân tôi phải nghiên cứu, tìm tòi các phương pháp và kỹ thuật dạy học mới tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình giảng dạy Việc dạy học lấy học sinh là trung tâm là nhiệm vụ quan trọng, trong
đó áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực luôn được giáo viên đặt lên nhiệm vụ hàng đầu nhằm nâng cao chất lượng,hiệu quả công tác giảng dạy Thực tế, trong quá trình dạy học tôi đã sử dụng kĩ thuật “sơ đồ tư duy” vào
ôn thi tốt nghiệp từ năm học 2019 - 2020 đến nay và đạt được kết quả khả quan, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy của bộ môn giáo dục công dân trong ôn thi tốt nghiệp THPT, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, khẳng định được vị thế môn học trong nhà trường
Với kết quả thi tốt nghiệp THPT được ghi nhận trong thực tiễn nhà trường, cá nhân tôi mong muốn được chia sẻ kinh nghiệm trong dạy học, trong
ôn thi tốt nghiệp THPT Vì vậy, tôi xin chia sẻ kinh nghiệm: “Sử dụng kĩ thuật
“sơ đồ tư duy” vào chủ đề: “Pháp luật và đời sống” góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả ôn thi tốt nghiệp môn Giáo dục công dân 12 ở Trường THPT Nga Sơn.
1.2 Mục đích nghiên cứu:
- Sử dụng kĩ thuật “sơ đồ tư duy” giúp học sinh chủ động, tích cực trong học tập, đặc biệt trong thời gian ôn thi tốt nghiệp THPT Khi các em đã có phương pháp học tập tốt sẽ giúp các em hiểu bài, nắm vững kiến thức trong quá trình ôn tập, quá trình luyện đề theo cấu trúc của Bộ giáo dục, mặt khác tạo được hứng thú trong quá trình học tập để đạt hiệu quả cao
- Chủ đề: “Pháp luật và đời sống” là một trong những chủ đề trọng tâm trong chương trình ôn thi tốt nghiệp THPT lớp 12, có rất nhiều câu hỏi trong đề thi với đủ các cấp độ trong ma trận đề Vì vậy, trong quá trình dạy học tôi sử dụng kĩ thuật “sơ đồ tư duy” để hướng dẫn các em có phương pháp học bài hiệu quả, giúp các em hiểu bài, nắm vững kiến thức, tự tin trong quá trình ôn thi tốt nghiệp THPT
1 3 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu mang tính thực tế cao, góp phần nâng cao chất
lượng và hiệu quả ôn thi tốt nghiệp THPT môn giáo dục công dân 12, có thể áp
Trang 3dụng rộng rãi cho giáo viên bộ môn và học sinh trong dạy, học, thi tốt nghiệp THPT
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Trong đề tài này, tôi đã vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp nghiên cứu nhằm phát huy hiệu quả tổng hợp ưu thế của các phương pháp Trong đó các phương pháp được sử dụng chủ yếu là:
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
- Phương pháp giải quyết vấn đề thực tiễn
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá
- Phương pháp thu thập, xử lí thông tin
- Phương pháp thảo luận nhóm
1.5 Những điểm mới của SKKN.
* Tính mục đích: Đề tài đã giải quyết được những băn khoăn, sự trăn trở
của giáo viên trong quá trình giảng dạy, đặc biệt trong ôn thi tốt nghiệp Tác giả viết SKKN nhằm mục đích nâng cao nghiệp vụ giảng dạy, ôn thi tốt nghiệp của bản thân, để trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp, để tham gia nghiên cứu khoa học
*Tính thực tiễn: Tác giả trình bày, chia sẻ biện pháp giảng dạy trong
thực tiễn ôn thi tốt nghiệp THPT bước đầu đạt được kết quả khả quan, điểm thi trung bình bộ môn GDCD của học sinh toàn trường đạt 8.96 điểm Thực tế đã khẳng định được chất lượng, hiệu quả ôn thi của bản thân, khẳng định được vị thế môn học trong nhà trường
* Tính sáng tạo, khoa học: Điểm nổi bật của đề tài chính là sử dụng kĩ
thuật “sơ đồ tư duy” để mã hóa giúp học sinh phân loại các cấp độ đề Đây là phương pháp giảng dạy rất quan trọng, khi học sinh xác định được các cấp độ
đề, tìm được cụm từ chìa khóa trong từng câu hỏi kết hợp với việc nắm vững
kiến thức đã học các em sẽ chọn được đáp án nhanh, chính xác nhất Vì vậy,
nghiên cứu đề tài này, bản thân mong muốn góp một phần nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả ôn thi tốt nghiệp THPT
2 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/ QĐ-BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh” Từ thực, tế công tác giảng dạy tại trường THPT Nga Sơn, tôi nhận thấy đa số học sinh chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học tập, đặc biệt ôn luyện cho kỳ thi TN THPT Nhiều học sinh cho rằng ôn thi là việc của cuối
Trang 4thực hiện các nhiệm vụ học tập, hoặc thực hiện bắt buộc, lấy lệ, hình thức điều
đó ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả dạy học của giáo viên và thi cử của học sinh
Do đó, công việc của người giáo viên lúc này là phải thay đổi suy nghĩ về vị trí của người dạy và người học Giáo viên nên lựa chọn các phương pháp, kĩ thuật dạy học mới để giúp học sinh có hứng thú, chủ động trong học tập, ôn tập, bổ sung
kịp thời những kiến thức còn yếu, còn thiếu, để có thể chủ động hơn trong các kỳ thi của mình Quá trình ôn tập, luyện đề, chính là quá trình củng cố, bổ sung kiến thức, tập dượt cho kỳ thi chính thức Chỉ khi có được kiến thức vững vàng thì các em mới có thể đạt được kết quả cao
Với SKKN, bản thân tôi muốn rèn cho học sinh biết cách nắm vững kiến thức đã học, có phương pháp ôn luyện tốt nhất trong quá trình học bài dưới sự hướng dẫn của giáo viên để bài thi của các em đạt kết quả cao nhất
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Bản thân tôi khi tham gia ôn thi THPT những năm trước, tôi sử dụng phương pháp dạy học truyền thống để ôn thi tốt nghiệp cho học sinh, đó là giáo viên nhắc lại kiến thức, còn học sinh thì lắng nghe, tiếp thu bài một cách thụ động Phần lớn học sinh lười học, ỷ lại vào giáo viên, chờ đợi vào kiến thức sẵn có mà giáo viên đưa ra, vì vậy hầu hết các em không biết vận dụng linh hoạt các kiến thức tổng hợp
để làm bài một cách chủ động, sáng tạo Chính vì vậy kết quả trong kì thi đạt được chưa cao Kết quả thi TN THPT của nhà trường năm học: 2018 - 2019 điểm trung bình bộ môn đạt 6.25 điểm
Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng nói trên là học sinh chưa có hứng thú học tập Quá trình tiếp thu, lĩnh hội tri thức còn thụ động, máy móc; khả năng khái quát, tổng hợp kiến thức chưa cao, không hứng thú trong học tập dẫn đến hiệu quả làm bài chưa cao
Xuất phát từ thực trạng trên, trong quá trình giảng dạy, cá nhân tôi đã đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản, có phương pháp học tập đáp ứng yêu cầu đổi mới trong kiểm tra, đánh giá và phù hợp với xu hướng thi trắc nghiệm trong kì thi tốt nghiệp THPT hiện nay Kết quả thi TN THPT của nhà trường năm 2020 điểm bình quân bộ môn GDCD đạt 8,26 xếp thứ 29 toàn tỉnh Mặc dù vậy, thứ hạng chung của toàn trường năm 2020 vẫn xếp thứ 59 trong toàn tỉnh
Từ những lí do trên, buộc tôi phải tìm các biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả trong quá trình giảng dạy phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, phù hợp với đối tượng học sinh trong kì thi tốt nghiệp và thực tiễn nhà trường nơi tôi đang công tác Kết quả thi TN THPT của nhà trường năm
2021 điểm bình quân bộ môn GDCD đạt 8,96 xếp thứ 15 trong toàn tỉnh Thanh Hóa Sở dĩ đạt được kết quả trên là nhờ trong quá trình giảng dạy tôi đã đổi mới phương pháp, sử dụng kĩ thuật “sơ đồ tư duy” trong ôn thi tốt nghiệp THPT Thực tế đã minh chứng được chất lượng, hiệu quả trong quá trình giảng dạy phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, phù hợp với đối tượng
Trang 5học sinh và thực tiễn nhà trường nơi tôi đang công tác qua kì thi tốt nghiệp THPT năm 2021
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Trong quá trình dạy học nói chung và ôn thi tốt nghiệp THPT môn giáo dục công dân nói riêng, để giúp các học sinh nắm vững kiến thức cơ bản và có phương pháp học tập hiệu quả, tôi đã sử dụng nhiều phương pháp dạy học Bản thân tôi thường xuyên sử dụng kĩ thuật “sơ đồ tư duy” trong suốt quá trình ôn thi tốt nghiệp THPT và đã đạt được kết quả bước đầu rất khả quan (số liệu đã minh chứng ở trên) Ở đề tài này, tôi xin minh chứng cụ thể vào chủ đề: “Pháp luật và đời sống” môn giáo dục công dân 12 ở Trường THPT Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
2.3.1 Sơ lược về kỹ thuật “Sơ đồ tư duy”
- Sơ đồ tư duy (còn được gọi là lược đồ tư duy, bản đồ khái niệm) là một sơ
đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng, kết quả làm việc của cá
nhân hay nhóm về một chủ đề Sơ đồ tư duy có thể được viết trên giấy, trên
bảng hay trên máy tính
- Cách thực hiện: Viết tên chủ đề ở trung tâm, hoặc một góc của tờ giấy chủ đề để từ đó phát triển ra các ý khác
+ Khi vẽ học sinh có thể sử dụng tất cả các màu sắc, hình họa để thể hiện ý tưởng của mình, điều này làm cho việc học rất thú vị
+ Từ chủ đề ở trung tâm, vẽ các nhánh chính Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm, một nội dung lớn của chủ đề (Cùng màu chữ, màu nhánh cùng kiểu)
+ Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ thể hiện nội dung thuộc nhánh chính đó (cùng kiểu nhánh, kiểu chữ, màu chữ khác với nhánh chính)
+ Tiếp tục như vậy ở các nhánh phụ tiếp theo
- Ứng dụng: Sơ đồ tư duy có thể ứng dụng trong tóm tắt nội dung bài học mới; ôn tập, hệ thống lại kiến thức, đã học một phần, một bài hoặc một chủ đề
- Ưu điểm của kỹ thuật này:
Các hướng tư duy được để mở ngay từ đầu, vì vậy các em học sinh có thể thêm những ý tưởng, kiến thức sáng tạo phong phú, sử dụng trí tưởng tưởng làm nổi bật thêm nội dung cần ghi nhớ
Khi vẽ sơ đồ tư duy nội dung được trình bày rất cô đọng, súc tích, mà vẫn đầy đủ thông tin, thậm chí cả những thông tin chi tiết nhất Vì thế với một lượng kiến thức lớn nhưng chỉ cần một trang giấy là có thể chuyển tải hết, giúp học sinh thuộc bài dễ dàng, đầy đủ Điều này là rất thuận lợi, phù hợp với xu hướng thi trắc nghiệm hiện nay
2.3.2 Sử dụng “Sơ đồ tư duy” vào ôn tập theo bài học:
Trang 6- Sử dụng “Sơ đồ tư duy” vào giảng dạy: “Bài 2: Thực hiện pháp luật”-GDCD lớp 12 hiện hành
* Mục tiêu:
- Học sinh nêu được khái niệm thực hiện pháp luật, các hình thức thực hiện
pháp luật
- Hiểu được thế nào là vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí; các loại vi pháp luật và trách nhiệm pháp lí
- Có thái độ tôn trọng pháp luật, ủng hộ những hành vi thực hiện đúng pháp luật và phê phán những hành vi làm trái quy định của pháp luật
* Cách tiến hành:
Giáo viên yêu cầu học sinh hệ thống kiến thức đã học bằng sơ đồ tư duy ở
bài 2: Thực hiện pháp luật
* Học sinh nhận nhiệm vụ và làm việc theo nhóm đã được phân công, hết thời gian thảo luận trình bày sản phẩm của nhóm mình trên bảng Học sinh các nhóm nhận xét, bổ sung
(Hình ảnh minh họa sản phẩm của học sinh)
GV nhận xét, chuẩn kiến thức chiếu nội dung trên máy chiếu củng cố kiến
Trang 7thức bài học.
Như vậy, sau khi hệ thống kiến thức bằng sơ đồ tư duy, giáo viên hướng dẫn học sinh làm bài tập trắc nghiệm, bám sát vào cấu trúc đề minh họa với các cấp độ như: nhận biết (NB); thông hiểu (TH); vận dụng (VD) và vận dụng cao (VD cao) bằng cách trả lời các câu hỏi sau:
Ví dụ:
Câu 1 (NB): Một trong những dấu hiệu cơ bản xác định hành vi vi phạm
pháp luật là:
A chủ thể đại diện phải ẩn danh B người ủy quyền được bảo mật.
C người vi phạm phải có lỗi D chủ thể làm chứng bị từ chối Câu 2 (NB): Công dân tích cực, chủ động làm những gì mà pháp luật quy
định phải làm là hình thức
A sử dụng pháp luật B tuân thủ pháp luật.
C thi hành pháp luật D áp dụng pháp luật.
Câu 3 (TH): Người có năng lực trách nhiệm pháp lí phải chịu trách nhiệm
hành chính khi thực hiện hành vi nào sau đây?
A Lấn chiếm hè phố để kinh doanh B Từ chối nhận di sản thừa kế.
C Tranh chấp quyền lợi khi li hôn D Tổ chức mua bán nội tạng người Câu 4 (TH): Quan hệ nhân thân là đối tượng điều chỉnh của ngành luật nào dưới đây?
A Luật Hình sự B Luật Hành chính.
Câu 5 (VD): Cán bộ sở X là chị K bị tòa án tuyên phạt tù về tội vi phạm
Trang 8quy định về đầu tư công trình xây dựng gây thiệt hại ngân sách nhà nước 3 tỉ đồng Chị K đã phải chịu trách nhiệm pháp lí nào sau đây?
A Hành chính và kỉ luật B Hành chính và dân sự.
C Hình sự và hành chính D Hình sự và kỉ luật
Câu 6 (VD cao): Các anh N, X, G cùng làm việc tại một công trường Mặc
dù bị bà Y ép giá, anh G vẫn ký hợp đồng thuê ngôi nhà bỏ không của bà Y trong thời hạn hai năm làm nơi ở Tại đây, anh G bí mật tổ chức kinh doanh thể thao qua mạng và đồng thời nhận cá độ của nhiều người với tổng số tiền là 1 tỷ đồng Nghe anh G tư vấn, anh N lấy lí do phải chữa bệnh để vay 150 triệu đồng của anh X rồi dùng số tiền này cá độ bóng đá và bị thua Liên tục bị anh N tránh mặt với mục đích trốn nợ, anh X đã tạt sơn làm bẩn tường nhà anh N Trong khi
đó, do quá hạn ba tháng mà không nhận được tiền cho thuê nhà, cũng không liên lạc được với anh G, bà Y đã làm đơn tố cáo Những ai sau đây vừa phải chịu trách hiệm hình sự vừa phải chịu trách nhiệm dân sự ?
A Anh N và anh G B Anh N và anh X.
C Anh G, anh N và anh X D Anh G, anh X và bà Y.
2.3.3 Sử dụng “Sơ đồ tư duy” vào việc hệ thống kiến thức đã học theo chủ đề.
Trong sách giáo khoa GDCD12, khi dạy chủ đề: “Pháp luật và đời sống” gồm có 2 bài gộp lại đó là bài 1: Pháp luật và đời sống; bài 2: Thực hiện pháp luật Lúc này, tôi sử dụng sơ đồ tư duy để cho học sinh hoàn thiện kiến thức đã học vào sơ đồ mà giáo viên đưa ra:
* Cách tiến hành:
Bước 1: Chia chủ đề thành 3 phần kiến thức, tương đương 3 nhánh lớn của
sơ đồ xuất phát từ ô chính (từ khóa) là “chủ đề 1: Pháp luật và đời sống”
Bước 2: Chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm hoàn thành vẽ các nhánh nội dung lớn thuộc một hoặc 2 phần kiến thức của bài Thời gian làm việc: 5 phút
Nhiệm vụ cụ thể:
Nhóm 1 Hệ thống kiến thức phần I (mục 1 Khái niệm pháp luật; mục
2.Bản chất của pháp luật) Nhóm 2 Hệ thống kiến thức phần I (mục 3 Mối quan hệ giữa pháp luật
với kinh tế, chính trị, đạo đức; mục 4 Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội )
Nhóm 3 Hệ thống kiến thức phần II Thực hiện pháp luật
Nhóm 4 Hệ thống kiến thức phần III Vi phạm pháp luật và trách nhiệm
pháp lí
Trang 9Bước 3: Các nhóm thực hiện nhiệm vụ: thảo luận và tiến hành vẽ trên bảng phụ học tập những nội dung kiến thức được phân công của mình:
(Hình ảnh học sinh làm việc thảo luận nhóm)
Lưu ý: khi nhiều nhóm làm chung một chủ đề giáo viên cho các em thống nhất màu mực, kiểu chữ cho từng bậc nhánh kiến thức
Bước 4: Các nhóm dán kết quả lên bảng tạo thành một sơ đồ hoàn chỉnh, đại diện các nhóm lên trình bày phần nội dung của mình Các nhóm khác góp ý, nhận xét
(Hình ảnh học sinh đang thuyết trình) (Hình ảnh GV đang kết luận)
Trang 10Bước 5: Giáo viên nhận xét, đánh giá, chuẩn kiến thức: sử dụng sơ đồ tư duy giáo viên đã chuẩn bị, trình chiếu trên máy chiếu)
(Hình ảnh sơ đồ tư duy giáo viên kết luận trên máy chiếu )
Như vậy, sau khi hệ thống kiến thức chủ đề 1: Pháp luật và đời sống Để củng cố kiến thức và vận dụng kiến thức đã học giáo viên hướng dẫn các em làm một số câu hỏi trắc nghiệm
Ví dụ: Ở bài 1: Pháp luật và đời sống (thuộc nhánh I, trong sơ sơ đồ tư
duy) gồm có các câu hỏi ứng với các cấp độ đề gồm: dạng nhận biết (NB), dạng thông hiểu (TH), dang vận dụng (VD) như sau:
Câu 1 (TH): Nội dung nào dưới đây không phải là đặc trưng của pháp
luật?
A Tính quy phạm phổ biến
B Tính thuyết phục, nêu gương
C Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
D Tính quyền lực, bắt buộc chung
Câu 2 (VD): Việc anh A bị xử phạt hành chính vì mở cơ sở kinh doanh
nhưng không chịu nộp thuế là thể hiện:
A tính quy phạm phổ biến của pháp luật.
B tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức của pháp luật.
C tính quyền lực, bắt buộc chung của pháp luật.
D tính xác định chặt chẽ về nội cung của pháp luật.
Ví dụ: Ở bài 2: Thực hiện pháp luật (thuộc nhánh II, III trong sơ sơ đồ tư
duy) như sau:
Câu 1 (NB): Tuân thủ pháp luật là việc cá nhân, tổ chức