Đối tượng nghiên cứu Mô hình lớp học đảo ngược trong dạy bài Phong cách ngôn ngữ báo chí để phát triển năng lực số cho học sinh.. Phạm vi nghiên cứu - Nội dung: Đề tài tập trung nghiên
Trang 1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC VÀO BÀI DẠY “PHONG CÁCH NGÔN NGỮ BÁO CHÍ”
NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO
Trang 21.5 Phương pháp nghiên cứu 1
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.2 Cơ sở thực tiễn khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 4
2.3 Thiết kế kế hoạch dạy học 10
Trang 3Trong bối cảnh đất nước ta đang trong “Cuộc chiến không tiếng súng” Đại dịch covid-19 vô cùng phức tạp, cùng với đó là sự phát triển của công nghệthông tin trên mọi lĩnh vực của xã hội, trong đó có giáo dục và sự thay đổichương trình giáo dục phổ thông mới, việc nâng cao kĩ năng số cho học sinh làđiều cần thiết
Mô hình lớp học đảo ngược là một trong những phương pháp dạy họchiện đại Trong đó ứng dụng công nghệ thông tin là điều kiện quan trọng đểtriển khai lớp học đảo ngược Tuy nhiên mô hình này chưa thực sự được ứngdụng nhiều trong quá trình dạy học môn Ngữ văn
- Trên thực tế, việc dạy và học phân môn tiếng Việt chưa thật sự được chútrọng ở trường phổ thông Việc học đang gắn với nội dung thi cử Bởi vậy, cácthầy cô giáo phần nhiều chỉ chú trọng vào dạy các văn bản văn học mà chưathực sự đầu tư để có những tiết dạy tiếng việt hấp dẫn cũng như phát huy nănglực, phẩm chất cho học sinh
Từ những lí do trên, tôi đề xuất sáng kiến Vận dụng mô hình lớp học đảo
ngược vào bài dạy phong cách ngôn ngữ báo chí nhằm phát triển năng lực số cho học sinh THPT (Cụ thể là HS THPT Nga Sơn)
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và vận dụng mô hình lớp học đảo ngược vào dạy bài phongcách ngôn ngữ báo chí nhằm phát triển năng lực số cho học sinh THPT
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Mô hình lớp học đảo ngược trong dạy bài Phong cách ngôn ngữ báo chí
để phát triển năng lực số cho học sinh
1.4 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn dạy họctheo mô hình lớp học đảo ngược, đề xuất quy trình tổ chức dạy bài Phong cáchngôn ngữ báo chí theo mô hình lớp học đảo ngược và xác định được những miềnnăng lực số phát triển cho học sinh
- Không gian nghiên cứu: Đề tài được triển khai nghiên cứu cho HS tạiTrường THPT Nga Sơn và các trường công lập, trung cấp nghề trên địa bànhuyện Nga Sơn
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài thực hiện trong năm học 2020 – 2021,
2021 – 2022
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện tôi sử dụng các nhóm phương pháp sau:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Phân tích, tổng hợp, so đối chiếu, suy luận
Trang 4sánh Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều trakhảo sát, phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp toán học thống kê
Dựa trên cơ sở thu thập những số liệu qua dự giờ trên lớp, tôi đi sâu phântích để làm cơ sở nghiên cứu và tổ chức dạy học theo mô hình lớp học đảongược để phát triển năng lực số cho học sinh Đồng thời, tiến hành so sánh cáctài liệu, các kết quả nghiên cứu để thấy được độ tin cậy, sự biến đổi Sau đó ápdụng phương pháp tổng hợp để có những nhận định, đánh giá và luận điểm phùhợp với những kết quả nghiên cứu đã đạt được
2 Nội dung sáng kiến 2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Mô hình lớp học đảo ngược, đặc điểm và vai trò của mô hình lớp học đảo ngược, nguyên tắc tổ chức hoạt động học tập theo mô hình lớp học đảo ngược.
Lớp học đảo ngược - Flipped classroom là một mô hình dạy học ở Mỹtrong khoảng 10 năm trở lại đây, diễn ra rộng rãi ở các bậc học phổ thông và đạihọc, đã làm đảo ngược cách dạy truyền thống Lớp học đảo ngược là tất cả cáchoạt động dạy học được thực hiện “đảo ngược” so với thông thường Sự “đảongược” ở đây được hiểu là sự thay đổi với các dụng ý và chiến lược sư phạm thểhiện ở cách triển khai các nội dung, mục tiêu DH và các hoạt động DH khác vớicách truyền thống trước đây của người dạy và người học Ở LHĐN sẽ ngược lạivới mô hình lớp học truyền thống, học sinh xem trước tại nhà những bài giảng,những video về lý thuyết và bài tập cơ bản GV thực hiện và được chia sẻ quaInternet, trong khi thời gian ở lớp lại dành cho việc giải đáp thắc mắc của HS,làm bài tập khó hay thảo luận sâu hơn về kiến thức
Đây là mô hình dạy học rất linh hoạt, sáng tạo, người học có thể tự mìnhlựa chọn cách thức, thời gian, nơi học tập phù hợp với điều kiện cá nhân Vớikhông gian cho học sinh năng động, tiếp thu lĩnh hội tri thức và tự đánh giá kếtquả học tập của bản thân Đối với giáo viên thì có thể quan sát, hướng dẫn, giúp
đỡ học sinh chưa hiểu rõ bài giảng và đánh giá từng học sinh theo nhiều phươngdiện Với nguyên tắc dạy học lấy học sinh làm trung tâm ở mô hình lớp học đảongược luôn được đảm bảo thời gian học ở lớp; giúp học sinh chia sẻ, khám phá
và tạo ra những cơ hội học tập thú vị, bổ ích về các tri thức khoa học về chủ đềhọc tập của mình Việc truyền tải nội dung bài học thông qua nhiều kênh nhưnhững bài giảng giáo dục trực tuyến hoặc do giáo viên thiết kế Ứng dụngCNTT trong dạy học là điều kiện quan trọng để triển khai lớp học đảo ngược
2.1.2 Năng lực số, khung năng lực số của học sinh THPT, các yếu tố ảnh
hưởng đến phát triển năng lực số cho học sinh
Có khá nhiều khái niệm được sử dụng khi đề cập đến phát triển năng lực số
ở các quốc gia và tổ chức quốc tế, phổ biến là các khái niệm sau: Digital
Trang 5Literacy, Digital Skills, Digital Competences mỗi khái niệm mang một nghĩariêng để phù hợp với mục tiêu cụ thể của các nước, các tổ chức Tuy nhiên,chúng đều hướng đến một mục tiêu chung là phát triển các kĩ năng tìm kiếm,đánh giá, quản lý được thông tin; giao tiếp, hợp tác, giải quyết các vấn đề antoàn, hiệu quả Từ đó giúp mọi người có thể thành công trên môi trường số.Theo Stergioulas 2006, năng lực số là nhận thức, thái độ và khả năng của
cá nhân trong việc sử dụng hợp lý các công cụ và phương tiện kỹ thuật số để xácđịnh, tiếp cận, quản lý, tích hợp, đánh giá, phân tích và tổng hợp tài nguyên số,xây dựng kiến thức mới, tạo ra các hình thức truyền thông và giao tiếp với ngườikhác trong các tình huống đời sống cụ thể nhằm tạo điều kiện cho hoạt động xãhội mang tính xây dựng và suy ngẫm về quy trình này
Theo UNESCO (2018), khái niệm năng lực công nghệ số là khả năng tiếpcận, quản lý, hiểu, tích hợp, giao tiếp, đánh giá và tạo thông tin một cách an toàn
và hợp lý thông qua công nghệ kỹ thuật số phục vụ cho việc làm và lập nghiệp.Năng lực công nghệ số bao gồm các năng lực khác nhau liên quan đến kĩ năngcông nghệ thông tin - truyền thông (CNTT- TT), kiến thức thông tin và truyềnthông
Năm 2018, Ủy ban Châu Âu sử dụng khái niệm năng lực số: “Năng lực sốliên quan đến việc sử dụng cũng như tham gia vào công nghệ số một cách tự tin,chủ động và có trách nhiệm phục vụ cho học tập, làm việc và tham gia vào xãhội Năng lực số gồm có kiến thức về thông tin và số liệu, truyền thông và hợptác, kiến thức truyền thông, tạo nội dung số (bao gồm cả lập trình), an toàn (baogồm cả lợi ích và năng lực số liên quan đến an ninh mạng) và các vấn đề liênquan đến sở hữu trí tuệ, giải quyết vấn đề và tư duy phản biện
Khái niệm năng lực số của UNICEF – 2019 như sau: Năng lực số (DigitalLiteracy) đề cập đến kiến thức, kỹ năng và thái độ cho phép trẻ phát triển vàphát huy tối đa khả năng trong thế giới công nghệ số ngày càng lớn mạnh trênphạm vi toàn cầu, một thế giới mà trẻ vừa được an toàn, vừa được trao quyềntheo cách phù hợp với lứa tuổi cũng như phù hợp với văn hóa và bối cảnh địaphương
- Khung NLS của học sinh trung học bao gồm 7 miền năng lực, 26 năng
lực thành phần (dựa trên Khung năng lực của UNESCO-2019)
- Quy trình triển khai khung NLS cho HS THPT: Đánh giá ban đầu, sửdụng khung NLS, hướng dẫn vận hành, triển khai thực hiện, đánh giá tác động
- Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển năng lực số cho học sinh: Môitrường xã hội của học sinh, cơ sở hạ tầng, hoàn cảnh gia đình, nhà trường,cánhân trong việc hỗ trợ phát triển năng lực số cho trẻ em ngày càng được thừanhận.Ngoài ra, các công ty đa quốc gia , vai trò của môn Tin học trong việc hìnhthành năng lực số Khác với môn học khác, các mạch kiến thức về kĩ năng số
Trang 62.2 Cơ sở thực tiễn vận dụng mô hình lớp học đảo ngược vào dạy bài Phong cách ngôn ngữ báo chí để phát triển năng lực số cho học sinh ở một số trường trên địa bàn
2.1.1 Thực trạng thiết kế dạy bài phong cách ngôn ngữ báo chí ở một số trường
THPT trên địa bàn hiện nay: Giáo án truyền thống, giáo án theo công văn 5512.
Lĩnh vực báo chí là nhân tố, là phương tiện có sức mạnh đặc biệt to lớntrong việc định hướng nhận thức, hình thành dư luận xã hội Báo chí không chỉcung cấp thông tin thời sự mà còn phản ánh dư luận và ý kiến của quần chúngđồng thời nêu lên quan điểm, chính kiến của tờ báo Thông qua báo chí nhiềuvấn đề tiêu cực trong cuộc sống được phát hiện đề cập và lên án nhưng cũng córất nhiều hình ảnh đẹp về lối sống nhân ái sẵn sàng chia sẻ giúp đỡ những người
có hoàn cảnh khó khăn được ca ngợi và nêu gương sáng Thông qua đó báo chí
đã góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội
Trong giáo án truyềng thống nhóm các tiết học thuộc bài phong cách ngônngữ báo chí được sắp xếp riêng biệt, được bố trí riêng lẻ trong PPCT dạy học.Với mục tiêu cần đạt:
Về kiến thức: Hiểu biết sơ bộ về một số loại báo chí; phân biệt theophương tiện, theo định kì xuất bản, theo lĩnh vực ; ngôn ngữ báo chí: ngôn ngữđược dùng trong các thể loại chủ yếu của báo chí, với chức năng cơ bản là thôngbáo tin tức thời sự và dư luận xã hội theo một chính kiến nhất định
Về kĩ năng: Nhận diện một số thể loại báo chỉ chủ yếu và các loại báokhác nhau về phương tiện, định kì, lĩnh vực, đối tượng; nhận biết và phân tíchnhững biểu hiện về ba đặc trưng cơ bản của PCNN báo chí phân biệt với cácPCNN khác; phân tích đặc điểm của PCNN báo chí về từ ngữ, câu văn, biệnpháp tu từ; bước đầu viết một tin ngắn, một thông báo, một bài phỏng vấn đơngiản
Về thái độ: Bồi dưỡng và nâng cao tình cảm yêu quý vốn từ ngữ phongphú, giàu sức biểu hiện của tiếng Việt
Trong giáo án theo công văn 5512, các bài học trong phong cách ngônngữ báo chí được xây dựng thành một chủ đề; giảm thời lượng học lý thuyết đểtăng thời gian thực hành, giúp học sinh có điều kiện để thực hành nghề làm báo,trải nghiệm cảm giác của một phóng viên, biên tập viên, dẫn chương trình thực
sự Đồng thời giúp các em học sinh rèn luyện năng lực tiếp nhận và sẵn sàngthực hiện nhiệm vụ học tập; năng lực tích cực chủ động, sáng tạo, hợp tác củahọc sinh trong việc thực hiện các nhiệm vụ học tập; năng lực trình bày, trao đổi,thảo luận về kết quả thực hiện các nhiệm vụ học tập
Việc thay đổi phương pháp dạy học truyền thống bằng phương pháp dạyhọc tích cực, phát triển một cách toàn diện năng lực của người học, biến nhữngtiết học nặng về lý thuyết khô khan trở thành một quá trình học tập sinh động,
Trang 7gắn liền với thực tiễn Sau khi thực hiện xong chủ đề, học sinh không chỉ hiểukiến thức cơ bản về phong cách ngôn ngữ báo chí, đặc điểm thể loại văn bản báochí: bản tin, phóng sự, tiểu phẩm, phỏng vấn mà còn có những trải nghiệmthực tế với vai trò của một người làm báo, thấy được trách nhiệm của người làmbáo; từ đó khiến các em HS hiểu hơn, trân trọng hơn nghề báo, định hướng hìnhthành phẩm chất năng lực công dân và góp phần giáo dục hướng nghiệp cho HSthông qua các tiết học này.
Để đánh giá thực trạng lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học nhómbài thuộc phong cách ngôn ngữ báo chí, tôi đã tiến hành khảo sát 6 giáo viêngiảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT Nga Sơn, kết quả cụ thể như sau:
Vấn đề
Mức độ Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Không bao giờ
Thầy (cô) có thường xuyên đi tập
huấn về đổi mới phương pháp dạy
học không?
Trong quá trình dạy học nhóm bài
thuộc Phong cách ngôn ngữ báo
chí các thầy (cô) có áp dụng đổi
mới phương pháp không?
Dạy học nhóm bài thuộc Phong
cách ngôn ngữ báo chí thầy (cô)
có tổ chức cho học sinh tham gia
các hoạt động trải nghiệm không?
Thầy (cô) có ứng dụng CNTT khi
dạy học nhóm bài thuộc Phong
cách ngôn ngữ báo chí không?
Thầy (cô) soạn và dạy học nhóm
bài thuộc Phong cách ngôn ngữ
báo chí theo giáo án truyền thống.
Thầy (cô) soạn và dạy học nhóm
bài thuộc Phong cách ngôn ngữ
báo chí theo công văn 5512
Qua việc khảo sát thực trạng dạy học nhóm bài thuộc Phong cách ngôn
ngữ báo chí ở trường THPT Nga Sơn cho thấy GV có nhận thức đúng đắn vai
trò và ý nghĩa của việc dạy đổi mới PPDH trong bộ môn Ngữ văn, đặc biệt trong
dạy nhóm bài thuộc Phong cách ngôn ngữ báo chí nói riêng Song vẫn còn gặp
những khó khăn trong quá trình triển khai, việc rèn luyện kĩ năng, phát triểnnăng lực của HS vẫn chưa được chú ý đúng mức Đặc biệt là khi giáo viên thiết
Trang 8kế và dạy học theo giáo án truyền thống vẫn còn Như vậy, đổi mới PPDH theo
CV 5512 hướng đến phát triển năng lực HS chưa thực sự được toàn diện Đểviệc đổi mới PPDH đạt hiệu quả cao, cần phải có sự đổi mới từ hình thức đếnnội dung, phương pháp Đồng thời, bản thân GV và HS cũng phải có ý thứctrách nhiệm trong việc trau dồi kiến thức, trình độ chuyên môn, đào sâu kiếnthức, áp dụng các phương pháp dạy học kĩ thuật hiện đại vào trong dạy học bộmôn, như vậy mới khơi dậy sự hứng thú, yêu thích của HS đối với môn Ngữvăn
2.1.2.Thực trạng vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học môn Ngữ văn ở ba phân môn: Đọc văn bản, làm văn, tiếng việt ở một số trường THPT
trên địa bàn hiện nay theo các mức độ: thường xuyên, ít khi, chưa sử dụng
2.1.2.1.Thực trạng việc vận dụng PPDH tích cực tại các trường THPT trên địa bàn huyện Nga Sơn.
Về phía giáo viên:
Qua quá trình dự giờ, thăm lớp, các giờ thao giảng, hội giảng hay dự giờrút kinh nghiệm tại đơn vị nơi tôi công tác, tôi nhận thấy: Tronng quá trình tổchức các hoạt động dạy học, GV vận dụng các PPDH tích cực vào giảng dạycòn nhiều hạn chế GV thường sử dụng PPDH truyền thống là chủ đạo Điều đóxuất phát từ các nguyên nhân:
- Đa số GV ngại tìm hiểu các PPDH mới
- Với GV bộ môn Ngữ văn thì trình độ CNTT còn hạn chế nên còn ngại đổimới PPDH có ứng dụng công nghệ thông tin
- Một số GV thiếu kiên trì trong việc vận dụng cái mới vào thực tiễn Bởilẽ: Dạy học truyền thống có phần đơn giản, nhẹ nhàng, dạy đọc - chép Còn thựchiện dạy học theo PPDH mới: dạy học theo chủ đề, dạy học tích hợp, liên môn,dạy học dự án…thì bắt buộc GV phải tốn nhiều thời gian, phải vất vả tìm tòi,sáng tạo trong khâu thiết kế nội dung bài dạy Thực tiễn dạy học như vậy sẽ làmcho bài giảng kém phần sinh động, không kích thích được sự tích cực, chủ động,sáng tạo của HS, từ đó làm cho HS không hứng thú với bộ môn Ngữ văn
2.1.2.2 Cơ sở vật chất của nhà trường, của GV Trường THPT Nga Sơn
Do đặc thù trường học là ngôi trường thành lập sau cùng trên địa bànhuyện Nga Sơn nên cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc đổi mớiPPDH còn nhiều thiếu thốn Trong nhiều bài dạy, GV muốn có thêm một sốphương tiện, vật dụng, đồ dùng học tập khác thì không đáp ứng được, trong điều
Trang 9kiện có nhiều áp lực, cuộc sống của GV chủ yếu phụ thuộc vào lương, vì thế, đểđầu tư làm đồ dùng học tập còn nhiều khó khăn.
2.1.2.3 Kết quả khảo sát đổi mới PPDH trong môn Ngữ văn dưới mô hình Lớp học đảo ngược.
Để tìm hiểu và đánh việc đổi mới PP DH chúng tôi đã tiến hành khảo sáttại trường THPT Nga Sơn
Chúng tôi áp dụng phương pháp khảo sát nhanh thông qua bảng câu hỏi vềviệc đã đổi mới PPDH dưới mô hình Lớp học đảo ngược đã sử dụng chưa? GVtham gia khảo sát tương đối toàn diện và ngẫu nhiên Kết quả tổng hợp, phântích, đánh giá từ các phiếu khảo sát sẽ giúp phản ánh khách quan thực trạng đổimới PPDH môn Ngữ văn
Đối tượng khảo sát Chưa đổi mới theo
hình thức lớp học đảo ngược
Đã thực hiện đổi mới theo hình thức lớp học đảo ngược
Ý kiến khác
Trước tình hình đó, vấn đề đặt ra cho GV là cần phải thay đổi phươngpháp, cách thức tổ chức dạy học để phát huy được các năng lực bản thân
1.2.3.Thực trạng về năng lực số của học sinh và giáo viên trên địa bàn hiện nay 1.2.3.1 Học sinh đánh giá về vai trò của sử dụng CNTT trong học tập, mức độ
và mục đích sử dụng CNTT trong học tập, những năng lực số của bản thân.
Quá trình đổi mới giáo dục hiện nay, việc sử dụng CNTT trong dạy và học
đã trở nên phổ cập và mang tính thường nhật Trong công tác giảng dạy, CNTT
có tác dụng mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp dạy và học Nhờ đó mà họcsinh hứng thú học tập hơn, kết quả là học sinh tiếp thu bài tốt hơn Công nghệthông tin hiện nay được vận dụng nhiều trong dạy học, trong tất cả các khâu từdạy - học đến kiểm tra đánh giá Các bài học Ngữ văn có đặc trưng là mối liên
hệ logic theo thời gian, các bài học gắn kết với nhau theo đúng trình tự trước saukhông thể thay đổi Để nắm được bài học mới, học sinh cần có tâm thế thoải máinhất khi bước vào bài học Ứng dụng công nghệ thông tin cho các nội dungtrong bài học sẽ tạo hứng thú, hấp dẫn cho học sinh, tạo hưng phấn cho các emvào bài học mới
Trang 10Nội dung trong môn Ngữ văn là những cái đã xảy ra, không lặp lại, khôngthể thí nghiệm, thử nghiệm như các bộ môn khoa học khác Muốn khôi phục lạibức tranh Ngữ văn chân thực, sinh động muôn màu muôn vẻ, giúp học sinh nhậnthức được và rút ra những đánh giá nhận xét được những sự kiện, hiện tượng đãxảy ra không hề dễ dàng Ứng dụng công nghệ thông tin sẽ tái hiện sinh độngbức tranh quá khứ ấy, giúp cho học sinh hiểu quá khứ và rút ra quy luật, đánhgiá, từ đó có thái độ và hành động đúng đắn, phát huy năng lực cho học sinh.Chuyển đổi số trong giáo dục là quá trình chuyển đổi hoạt động giáo dục từ
không gian truyền thống sang không gian số thông qua công nghệ mới, thay đổi
phương thức dạy học, kiểm tra đánh giá và quản lí quá trình dạy học nhằm đápứng nhu cầu học tập, giảng dạy, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.Trong chương trình Giáo dục phổ thông 2018 được ban hành kèm theoThông tư số 32/TT-BGDĐT, ngày 26/12/2018 của Bộ GDĐT Theo đó, các kĩnăng chuyển đổi đã được tích hợp trong 5 phẩm chất: yêu nước, nhân ái, chămchỉ, trung thực, trách nhiệm; 3 năng lực cốt lõi: tự chủ và tự học, giao tiếp vàhợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo và 07 năng lực đặc thù: ngôn ngữ, toánhọc, khoa học, công nghệ, tin học, thẩm mỹ và thể chất
Kĩ năng chuyển đổi được hình thành và phát triển trong suốt quá trình họctập của các em học sinh ở trường cũng như những trải nghiệm của mình trongcuộc sống sinh hoạt hàng ngày
Giáo viên đánh giá về vai trò của công nghệ thông tin trong giảng dạy, mức độ và mục đích sử dung công nghệ thông tin, những năng lực số của bản thân.
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giáo dục hiện nay, việc bồi dưỡngchuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên cũng đang được Bộ GD&ĐT, các cấp cácngành giáo dục quan tâm hàng đầu Đặc biệt là việc áp dụng công nghệ thông tintrong giảng dạy và học tập là khâu đột phá của chuyển đổi số trong giáo dục.Nếu như trước đây, tài liệu bồi dưỡng cho giáo viên được in trên giấy gây khókhăn cho việc nghiên cứu theo thời gian, thì ngày nay các tài liệu, học liệu bồidưỡng cho GV được số hóa và lưu trữ trên các không gian mạng Các tài liệunày được GV sử dụng ở mọi lúc, mọi nơi Các lớp bồi dưỡng, tập huấn giáoviên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông cốt cán được tổ chức theo phươngthức trực tuyến kết hợp với trực tiếp thông qua lớp học ảo
Theo lộ trình đổi mới giáo dục, việc chuyển đổi số không chỉ là vấn đề củamột tổ chức, một cá nhân hay một trường học, mà đã trở thành vấn đề toàn cầu
Do đó, giáo dục và đào tạo không thể nằm ngoài quy luật chuyển đổi để kịp thờinắm bắt những thành tựu của khoa học kỹ thuật, thành tựu của cuộc cách mạngcông nghiệp lần thứ tư để nâng cao chất lượng dạy và học
Trang 11Do sự tác động của dịch bệnh COVID-19 trong ba năm nay, việc áp dụngcông nghệ thông tin trong dạy và học trong trường đã có những chuyển biến tolớn Bộ GD&ĐT cũng có nhiều văn bản, hướng dẫn để áp dụng những thành tựukhoa học công nghệ trong dạy và học Trong quá trình giảng dạy, GV đã ứngdụng các phần mềm trong dạy học, kiểm tra đránh giá khi học sinh phải chuyểnhình thức học trực tiếp sang học trực tuyến, đây vừa là thách thức cũng là điềukiện tiên quyết để GV bồi dưỡng kỹ năng sử dụng CNTT, từ đây việc sử dụngCNTT trong dạy học của GV đã có những tiến triển rõ rệt Nhiều GV sử dụngCNTT chưa thành thạo nay buộc phải nghiên cứu để thực hiện trong quá trìnhdạy học trực tuyến, vì vậy kỹ năng sử dụng CNTT của GV cũng được nâng cao Thời đại phát triển CNTT, môi trường kĩ thuật số ngày càng phổ biến, giáoviên cần nỗ lực để khai thác thế mạnh kĩ thuật số nhằm phát triển năng lực số và
kĩ năng chuyển đổi cho học sinh, giúp các em có thể sống, học tập, làm việc vàthành công trong cuộc sống sau này Muốn vậy, GV cần: có đủ năng lực để tíchhợp CNTT trong dạy học để đảm bảo công bằng và chất lượng hiệu quả của quátrình giáo dục, cần có khả năng khai thác CNTT để phát triển các kĩ năngchuyển đổi như: Tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, giao tiếp và hợp tác Khung năng lực số của GV bao gồm: sáu miền năng lực: ICT trong giáodục; Chương trình, kiểm tra đánh giá; Phương pháp sư phạm; Ứng dụng kĩ năng
số ; Tổ chức và quản lí; Phát triển chuyên môn và ba mức độ: Chiếm lĩnh Trithức; Đào sâu Tri thức; Sáng tạo tri thức Với khung năng lực số như vậy, hiệnnay GV cũng chưa hiểu rõ và thực hiện một cách đầy đủ và thường xuyên Vì
thế, để thực hiện tốt khung năng lực số GV cần nắm rõ Quy trình triển khai
Khung năng lực cho học sinh.
1 Công cụ đánh giá
sơ bộ
2 Sử dụng Khung năng lực số
3 Hướng dẫn vận hành
4 Triển khai thực hiện
5 Đánh giá tác động
Trang 122.3 Thiết kế kế hoạch dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược vào dạy bài Phong cách ngôn ngữ báo chí để phát triển năng lực số cho học sinh THPT 2.3.1 Đặc điểm bài dạy phong cách ngôn ngữ báo chí
2.3.1.1 Đặc điểm phân môn:
Trong nhóm bài thuộc nội dung kiến thức về chủ đề Phong cách ngôn
ngữ báo chí trong PPCT do Bộ GD&ĐT ban hành gồm 9 tiết học được phân
bố riêng biệt từ tiết 40 đến tiết 48 trong chương trình Ngữ văn 11, ban Cơbản, học kì I, cụ thể gồm các bài:
+ Phong cách ngôn ngữ báo chí
+ Phong cách ngôn ngữ báo chí (tiếp)
2.3.1.2 Đặc điểm cấu trúc: Bao gồm kiến thức các bài học về Phong cách ngôn
ngữ báo chí, Bản tin, Luyện tập viết bản tin, Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn,Luyện tập phỏng vấn và trả lời phỏng vấn trong chương trình Ngữ văn 11
2.3.1.3 Đặc điểm kiến thức:
- Giúp học sinh nắm được khái niệm, đặc trưng ngôn ngữ báo chí vàphong cách ngôn ngữ báo chí Phân biệt được ngôn ngữ báo chí với ngôn ngữ ởvăn bản khác được đăng tải trên báo
- Giúp học sinh nắm được các phương tiện diễn đạt và các đặc trưng củangôn ngữ báo chí
- Giúp học sinh bước đầu nắm được mục đích, yêu cầu, cách làm một sốthể loại báo chí thông thường từ đó tập làm “phóng viên” qua những bài tập thựchành
2.3.1.4 Đặc điểm kỹ năng:
Chủ đề dạy học sẽ giúp học sinh rèn luyện các kĩ năng sau:
- Kĩ năng thuyết trình
- Kĩ năng phỏng vấn và trả lời phỏng vấn
- Kĩ năng lập kế hoạch cá nhân
- Kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin
- Kĩ năng làm việc nhóm, tổ chức sự kiện
- Kĩ năng giao tiếp, tuyên truyền
Trang 132.3.2 Nguyên tắc lựa chọn nội dung năng lực số
Cuốn tài liệu về “Chuyển đổi số” cho GV đã xác định nguyên tắc xây dựng
khung năng lực số cho GV như sau:
- Phù hợp với đặc điểm tâm lý của giáo viên
- Kế thừa các hệ thống nguyên tắc của khu vực và thế giới, được bối cảnhhóa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam,
- Tính mở, cho phép cập nhật và mở rộng phù hợp với sự tiến bộ của côngnghệ kĩ thuật số
- Kết nối với lĩnh vực khoa học liên quan đến chuyển đổi số: Phân tích dữliệu lớn (Big Data Analytics), Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence), Internetkết nối vạn vật (Internet of Things), công nghệ chuỗi khối (Blockchain), điệntoán đám mây (Cloud Computing), … các nền kinh tế dựa trên số liệu, ra quyếtđịnh dựa trên thuật toán và các hình thức tự động hóa khác sẽ tạo ra một tìnhhuống trong đó các kỹ năng quan trọng nhất có thể không liên quan đến việc sửdụng trực tiếp công nghệ số, nhưng sẽ liên quan đến nhận thức về cách côngnghệ số ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta
- Phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội địa phương
- Năng lực số có thể được hình thành ở gia đình, xã hội và ở nhà trường Ởnhà trường năng lực số được hình thành thông qua các môn học, hoạt động giáodục và đặc biệt ở môn Tin học
2.3.3 Thiết kế kế hoạch dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược vào bài Phong cách ngôn ngữ báo chí để phát triển năng lực số cơ bản cho học sinh
THPT (Xem Phụ lục 1)
2.4 Thực nghiệm sư phạm
2.4.1 Mục đích, yêu cầu của thực nghiệm
Quá trình thực nghiệm nhằm đánh giá tính khả thi, tính hiệu quả của đề tài
qua giờ dạy học chủ đề Phong cách ngôn ngữ báo chí Kết quả thu được từ thực
nghiệm sự phạm sẽ là cơ sở chứng minh tính khoa học, tính đúng đắn, tính khả thi của đề tài
2.4.2 Nội dung thực nghiệm
2.1.Bài dạy thực nghiệm: Phong cách ngôn ngữ báo chí
2.2 Đối tượng, địa bàn thực nghiệm
Đối tượng để chọn thực nghiệm là HS lớp 11C và lớp đối chứng là 11Dtrường THPT Ba Đình nằm trên địa bàn huyện Nga Sơn HS ở 2 lớp có học lựcnhư nhau, 100% HS có học lực từ trung bình trở lên
2.3.Thời gian thực nghiệm: trong học kỳ 1 - năm học 2021 – 2022
2.4.3 Tiến hành thực nghiệm
2.4.3.1 Chuẩn bị thực nghiệm
a Giáo viên:
Trang 14- Giáo án Word, PowerPoint, sổ ghi chép thông tin, phiếu học tập, bút dạ, phiếu theo dõi dự án.
- Một số video, hình ảnh, tư liệu sưu tầm dẫn chứng cụ thể minh họa, tham khảo tài liệu liên quan đến bài giảng để liên hệ mở rộng kiến thức cho HS
- Đọc chuẩn kiến thức kỹ năng, SGK, SBT, SGV
- Phiếu học tập A4, bút dạ, băng đĩa
- Máy chiếu
b Học sinh
- Sách giáo khoa, Sách bài tập, Tài liệu tham khảo
- Sưu tầm các thể loại văn bản báo chí dưới dạng viết (báo in, báo mạng, tranh ảnh) hay dạng nói (báo phát thanh, báo truyền hình)
- Đọc văn bản, tập trả lời các câu hỏi ở phần luyện tập
- Bảng phân công nhiệm vụ các thành viên trong nhóm, Sổ theo dõi thực hiện dự án
- Máy tính, máy chụp ảnh, kịch bản, nội dung chương trình
- Luyện tập diễn tiểu phẩm, hoàn thành phóng sự, bản tin
2.4.3.2.Tiến hành thực nghiệm
Bước 1: Chuẩn bị thực nghiệm, bao gồm các công việc chính như soạn thảonội dung, chương trình thực nghiệm, giáo án thực nghiệm
Bước 2: Tiến hành thực nghiệm
Đây là bước chủ yếu quyết định kết quả của thực nghiệm
Chúng tôi thực nghiệm tiến hành dạy học theo giáo án đã thiết kế; thời gian
từ trong học kỳ I, năm học 2021 - 2022
Bước 3: Xử lý kết quả thực nghiệm Đây là bước cuối cùng nhằm rút ra kếtquả thực nghiệm Các công việc chính trong bước này bao gồm:
- Chấm các bài kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS
- Thống kê, so sánh và rút ra kết luận về kết quả của việc áp dụng quy trìnhdạy học của sáng kiến
2.4.3.3.Thiết kế giáo án thực nghiệm.(Xem phụ lục 2)
chuẩn do Bộ Giáo dục và Đào đề ra Cụ thể, dạy bài Phong cách ngôn ngữ báo
chí Tiêu chí bài kiểm tra thể hiện được sự phù hợp và đúng đắn, bởi dựa trên
Trang 15mục tiêu yêu cầu bài học của chương trình chuẩn do Bộ Giáo dục và Đào tạo đề
ra chứ không phải do người viết sáng kiến tự đặt ra
Hình thức bài kiểm là Tự luận (Viết báo theo các thể loại: bản tin, tiểuphẩm, phóng sự, bài phỏng vấn)
Cách đánh giá bài kiểm tra: xây dựng được một sản phẩm theo thể loại tùychọn Bài kiểm tra chấm điểm theo thang điểm 10 và kết quả như sau:
Kết quả
Số HS
Kết quả thực nghiệm Điểm
Bảng 1: Khảo sát về mức độ nhận thức của HS sau thực nghiệm
Bảng tổng hợp kết quả kiểm tra mức độ nhận thức của HS lớp thựcnghiệm và lớp đối chứng dựa trên thang điểm giỏi, khá, TB và yếu Kết quảthống kê trên được thể hiện dưới dạng biểu đồ như sau:
Biểu đồ 1 So sánh kết quả kiểm tra nhận thức HS sau khi dạy thực nghiệm.
Biểu đồ đã biểu thị sự so sánh kết quả kiểm tra lớp thực nghiệm và lớp đối
chứng sau khi dạy thực nghiệm Kết quả thực nghiệm đã cho chúng tôi thấy sựkhác biệt giữa kết quả học tập của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Mức độ
Trang 16đạt được kiến thức ở 2 lớp có sự chệnh lệch nhau rõ ràng Ở lớp đối chứng, tỉ lệ
HS đạt điểm khá và giỏi chiếm 57.8%; trong khi đó, ở lớp thực nghiệm tỉ lệ HSđiểm khá và giỏi chiếm 85.3%, hơn 27.5 % so với lớp đối chứng Điểm TB ởlớp đối chứng chiếm tỉ lệ cao lên tới 26.3% và có 15.7% HS đạt điểm yếu Cònlớp đối chứng số HS đạt điểm yếu không có HS nào và số HS đạt điểm TBchiếm tỉ lệ ít trong tổng số HS, chiếm 14.7% Như vậy, với kết quả đó có thể
khẳng định Vận dụng mô hình lớp học đảo ngược vào bài dạy phong cách ngôn
ngữ báo chí nhằm phát triển năng lực số cho học sinh THPT đã đem lại hiệu
quả và có tính khả thi
2.4.4.2 Kết quả về mức độ hứng thú của HS sau khi thực nghiệm (Xem phụ lục 4)
Để khẳng định giờ học thực sự không gây nhàm chán, khó khăn cho cho
HS, chúng tôi đã khảo sát HS thông qua 3 câu hỏi
Câu hỏi đầu tiên chúng tôi khảo sát các mức độ: rất thích; thích học; khôngthích học Kết quả như sau:
Nhìn vào kết quả, bảng khảo sát cho thấy, tỉ lệ số HS rất thích và thích học
khi học tác phẩm chiếm 87 % Điều đó cho thấy việc Vận dụng mô hình lớp học
đảo ngược vào bài dạy phong cách ngôn ngữ báo chí nhằm phát triển năng lực
số cho học sinh THPT đem lại hiệu quả cao, có tính khả thi.
Đối tượng
khảo sát
Số phiếu
Rất thích
Thích học
Không thích học
Không rõ quan điểm
Quan điểm khác
411.8 %
12.9 % 0
Bảng 2:Kết quả về mức độ hứng thú của HS sau khi thực nghiệm
3 Kết luận, kiến nghị 3.1 Kiến luận
- Giáo viên chủ động trong việc truyền đạt kiến thức Bồi dưỡng năng lực
và kỹ thuật sử dụng CNTT trong dạy học
- Học sinh nắm được kiến thức cơ bản và chủ động trong quá trình thưchiện nhiệm vụ Biết vận dụng CNTT trong thực hiện nội dung được giao
Từ kết quả học tập của học sinh tôi nhận thấy việc đổi mới phương phápdạy học hiện nay theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực số làmột việc làm hết sức cần thiết, có hiệu quả rõ rệt đối với học sinh Giúp các emhọc sinh không những giỏi một môn mà cần biết cách kết hợp kiến thức các mônhọc lại với nhau để trở thành một con người phát triển toàn diện Đồng thời việc
Trang 17thực hiện sáng kiến này sẽ giúp người giáo viên dạy bộ môn không ngừng traudồi kiến thức của các môn học khác từ đó nâng cao chất lượng dạy học Đúngnhư KhaIiI Gibran – một nhà văn, nhà thơ, nhà họa sĩ người Liban từng viết:
“Người thầy thực sự hiểu biết không bắt bạn bước vào ngôi nhà tri thức của
thầy, mà hướng dẫn bạn đến ngưỡng cửa của tư duy và tri thức của bạn”; hay
câu nói của Uyliam Bato Dit: "Nhà giáo không phải là người nhồi nhét kiến thức
mà đó là công việc của người khơi dậy ngọn lửa cho tâm hồn"
3.2 Kiến nghị: không
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 02 tháng 05 năm 2022
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,không sao chép nội dung của người khác
Người viết SKKK
Mai Thị Thúy
Trang 18
1 Sách giáo khoa ngữ văn 11 (NXB Giáo dục)
2 Thiết kế bài giảng ngữ văn 11(Nguyễn Văn Đường – NXB Hà Nội)
3 Tài liệu tập huấn phương pháp và kĩ thuật tổ chức hoạt động học theonhóm và hướng dẫn học sịnh tự học (Bộ GD&ĐT)
4 Các bài viết trên trang mạng xã hội
5 Qua các Mudun đã được tập huấn chương trình thay sách
6 Giáo trình Nghiên cứu thị trường, 2011 ( Tiến sĩ Nguyên Đình Thọ)
Trang 19ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ
CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Mai Thị Thúy
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường THPT Nga Sơn
Cấp đánh giá xếp loại (Phòng, Sở, Tỉnh )
Kết quả đánh giá xếp loại (A, B, hoặc C)
Năm học đánh giá xếp loại
1
Dạy – Học bài “Mộ”( Chiều
tối – Hồ Chí Minh) theo
hướng phát triển năng lực
người học và tích hợp tư
tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh
Sở GD&ĐT C 2017 - 2018
Trang 20
Chủ đề: PHONG CÁCH NGÔN NGỮ BÁO CHÍ
I MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1 Năng lực:
1.1 Năng lực chung: Bài học góp phần phát triển năng lực tự học, năng lực
sáng tạo và giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực số của HS
- Chủ động tiếp nhận và thực hiện các nhiệm vụ được GV phân công, hướng dẫnthông qua mô hình “Lớp học đảo ngược”
- Dựa trên những tri thức tiếp nhận được từ bài học để sáng tạo những sản phẩmnghệ thuật mới
- Có trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ nhóm được phân công và phối hợp nhịpnhàng với các thành viên trong nhóm
- Phát triển kĩ năng xử lí thông tin, kĩ năng sử dụng các phần mềm công nghệthông tin, các thiết bị kĩ thuật số để ứng dụng vào việc tạo nội dung kĩ thuật số,nhằm đa dạng hóa hình thức tiếp thu bài học
- Biết tạo lập một bài quảng cáo hấp dẫn thu hút
- Giúp học sinh nắm được khái niệm, đặc trưng ngôn ngữ báo chí và phong cáchngôn ngữ báo chí Phân biệt được ngôn ngữ báo chí với ngôn ngữ ở văn bảnkhác được đăng tải trên báo
- Giúp học sinh nắm được các phương tiện diễn đạt và các đặc trưng của ngônngữ báo chí
- Giúp học sinh bước đầu nắm được mục đích, yêu cầu, cách làm một số thể loạibáo chí thông thường từ đó tập làm “phóng viên” qua những bài tập thực hành
2 Phẩm chất: Bài học góp phần phát triển phẩm chất chăm chỉ và trách nhiệm
của HS:
- HS siêng năng hoàn thành nhiệm vụ học tập và tích cực rèn luyện để phát triểncác kĩ năng xử lí thông tin, tạo nội dung kĩ thuật số, sử dụng các thiết bị kĩ thuậtsố…
- HS biết chịu trách nhiệm với những quyết định của bản thân, dù đó là quyếtđịnh phải hi sinh những giá trị trước mắt
II CHUẨN BỊ BÀI HỌC
1 Hình thức tổ chức lớp học: “Lớp học đảo ngược”
2 Thiết bị dạy học và học liệu:
Đối với mô hình “Lớp học đảo ngược”, GV và HS cần chuẩn bị các thiết
bị dạy học và học liệu sau:
- Facebook học tập môn Ngữ văn của lớp
- Video bài giảng của GV