Có thể do xu thế chuộng các môn khoa học tự nhiên, xem nhẹ các môn khoa họcxã hội, trong đó có môn Lịch sử… Nhưng theo tôi một nguyên nhân vô cùng quan trọng là học lịch sử có nội dung k
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT ĐẶNG THAI MAI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ÔN
TẬP TRẮC NGHIỆM LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 12
Người thực hiện: Đỗ Thị Thu Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Lịch sử
THANH HÓA NĂM 2022
Trang 21.MỞ ĐẦU 1.1.Lí do chọn đề tài
Môn lịch sử trong trường THPT là môn học có ý nghĩa và vị trí quan trọng đối với việc đào tạo thế hệ trẻ theo mục tiêu giáo dục đã được Đảng và Nhà nước ta xác định Bởi lịch sử giúp học sinh nắm được những kiến thức cơ bản cần thiết về lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc làm cơ sở bước đầu cho sự hình thành thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào dân tộc, tình đoàn kết quốc tế Trên nền tảng kiến thức đã học môn lịch sử còn giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, hành động, có thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển con người Việt Nam trong công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước
Tuy nhiên, tình trạng học sử của học sinh ngày nay là một điều báo động Học sinh không thích học sử, vô cảm trước lịch sử, và như vậy sẽ có nguy cơ vô cảm trước vận mệnh dân tộc
Việc học sinh ngại học sử là một sự thật bởi nhiều căn nguyên khác nhau Có thể do cách học thực dụng, do quan niệm chưa đúng đắn của phụ huynh và học sinh Có thể do xu thế chuộng các môn khoa học tự nhiên, xem nhẹ các môn khoa họcxã hội, trong đó có môn Lịch sử… Nhưng theo tôi một nguyên nhân vô cùng quan trọng là học lịch sử có nội dung kiến thức nhiều, nặng nề về số liệu, sự kiện thời gian diễn ra dài và trải trên một không gian rộng lớn làm cho học sinh rất vất vả trong quá trình ôn tập
Bắt đầu từ kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia 2017, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định Lịch sử là một môn thi trắc nghiệm 100% trong tổ hợp khoa học xã hội thay cho bài thi truyền thống tự luận 180 phút Với hình thức thi này, giáo viên và học sinh không khỏi có tâm lý lo lắng trong cách dạy và học Nội dung thi chuyển từ “sâu” sang “rộng” với khối lượng kiến thức nhiều rải đều trong chương trình lớp 12 Đấy chính là một thách thức đối với cả thầy và trò
Năm 2021, Sở GD & ĐT Thanh Hóa đã lần đầu tiên thực hiện hình thức trắc nghiệm khách quan môn Lịch sử trong việc thi học sinh giỏi nên giáo viên
và học sinh có tâm lý đầu tư trong cách dạy và học Đặc biệt là đối với học sinh lớp 12, các em thường băn khoăn trong phương pháp ôn tập lịch sử theo hình thức trắc nghiệm như thế nào để đạt hiệu quả cao
Nhằm giúp học sinh ôn tập kiến thức lịch sử theo hình thức trắc nghiệm
và đáp ứng yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá hiện nay của Bộ Giáo dục và
Đào tạo, Sở GD & ĐT tôi chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng ôn tập trắc nghiệm Lịch sử Việt Nam 12” làm sáng kiến kinh nghiệm
1.2.Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng ôn tập trắc nghiệm Lịch sử Việt Nam 12” làm sáng kiến kinh nghiệm, trước hết giúp bản thân tôi hoàn thiện kỹ năng, phương pháp dạy học theo tinh thần đổi mới của Bộ Giáo dục & Đào tạo đồng thời tìm ra những biện pháp ôn tập Lịch sử có hiệu quả cho
Trang 3học sinh lớp 12 Từ đó góp phần nâng cao chất lượng học tập Lịch sử của học sinh trung học phổ thông
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài, tôi tập trung nghiên cứu về các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả ôn tập trắc nghiệm Lịch sử Việt Nam12 Do hạn chế về tài liệu và năng lực bản thân nên tôi chỉ chọn học sinh lớp 12 và phần lịch sử Việt Nam để thực nghiệm đề tài Trong các năm học tiếp theo tôi sẽ cố gắng hoàn chỉnh hơn về các biện pháp cũng như toàn bộ chương trình thi THPT
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận: để nghiên cứu đề tài, tôi đã tìm hiểu các tài liệu của Đảng, Nhà nước về đổi mới giáo dục, công trình nghiên cứu về lý luận dạy học hiện đại của các nhà giáo dục
- Phương pháp điều tra thực tế, thu thập thông tin qua việc điều tra, quan sát tình hình dạy học ở trường trung học phổ thông, trao đổi ý kiến, thăm dò giáo viên và học sinh trong việc sử dụng các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
ôn tập lịch sử theo hình thức thi trắc nghiệm khách quan
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu trong quá trình làm sáng kiến kinh nghiệm
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: tôi tiến hành ôn tập 1 số chủ đề theo các biện pháp của đề tài ở 2 lớp: 12A4, 12A5 Trường THPT Đặng Thai Mai để thấy rõ hiệu quả của đề tài trong ôn tập lịch sử theo hình thức thi trắc nghiệm khách quan
1.5 Điểm mới của sáng kiến
Đề tài đưa ra một số giải pháp ôn tập trắc nghiệm Lịch sử Việt Nam lớp
12, đề tài này phát triển thêm nhiều giải pháp cùng với việc sử dụng niên biểu trước đó Mặt khác đề tàikhông chỉ góp phần nâng cao chất lượng học môn lịch
sử mà còn giúp HS hứng thú ôn tập, tiếp thu kiến thức lịch sử một cách thuận lợi, dễ nhớ nhất
2 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 2.1.Cơ sở lí luận của sáng kiến
Trắc nghiệm khách quan “là phương pháp kiểm tra đánh giá bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan, cách cho điểm hoàn toàn khách quan không phụ thuộc vào người chấm” [4].Vì vậy đảm bảo tính khách quan và khoa học trong đánh giá kết quả học tập của học sinh
Từ các đề thi minh họa của Bộ Giáo dục & Đào tạo công bố đã cho thấy kiến thức các câu hỏi đề thi trắc nghiệm rải đều trên tất cả các phần, các chương của chương trình sách giáo khoa Lịch sử 12 hiện hành Các câu hỏi sẽ có các cấp
độ từ nhận biết đến thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao.Đề thi sẽ có sự phân hóa từ thấp đến cao, dễ đến khó
Việc đề ra những biện pháp ôn tập cho học sinh lớp 12 ôn tập lịch sử theo hình thức thi trắc nghiệm như trên là một vấn đề hết sức thiết thực, vì “Trong dạy học nói chung, dạy Lịch sử nói riêng, việc tổ chức cho học sinh ôn tập để củng cố, nâng cao kiến thức có vai trò quan trọng” [4]
Trang 4Để giúp học sinh có thể ôn tập tốt kiến thức Lịch sử dưới hình thức thi trắc nghiệm, nhiều nhà sư phạm, nhà nghiên cứu đã cho xuất bản nhiều tác phẩm như: Bài tập trắc nghiệm lịch sử 12-Nguyễn Ngọc Đạo, Nhà xuất bản giáo dục 2017; Đề kiểm tra theo chuẩn kiến thức, kỹ năng lịch sử 12- Nguyễn Xuân Trường (chủ biên), Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2011; Hướng dẫn ôn tập trắc nghiệm lịch sử 12- PGS.TS Hà Thị Thu Thủy-TS Nguyễn Thị Bích, Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên, 2017; Câu hỏi trắc nghiệm khách quan ôn thi trung học phổ thông Quốc gia môn Sử … và rất nhiều bài đăng trên các tạp chí
có liên quan Đây là những tài liệu bổ ích, giúp giáo viên và học sinh khai thác,
sử dụng trong quá trình giảng dạy và ôn tập lịch sử
Tuy nhiên, viết riêng về biện pháp ôn tập lịch sử theo hình thức thi trắc nghiệm thì chưa có một đề tài nào hoàn thiện một cách có hệ thống Vì thế khi viết sáng kiến, bản thân tôi đúc rút dựa trên kinh nghiệm tích lũy trong quá trình giảng dạy là chủ yếu
2.2.Thực trạng của sáng kiến
Đối với giáo viên:Giai đoạn hiện nay, trước nhu cầu nâng cao chất lượng
dạy và học đòi hỏi phải luôn có những giải pháp hữu hiệu, phù hợp Tuy nhiên,
để hướng dẫn học sinh ôn tập theo hình thức kiểm tra đánh giá này thật sự có hiệu quả thì không ít giáo viên làm được vì phần thiếu tài liệu tham khảo, phần
do tích lũy kinh nghiệm giảng dạy theo hình thức kiểm tra đánh giá trắc nghiệm khách quan chưa nhiều Vì thế, mỗi giáo viên cần tìm ra biện pháp ôn tập có hiệu quả để học sinh không phải áp lực khi học Lịch sử
Đối với học sinh: Với hình thức thi trắc nghiệm, các em không phải thuộc
lòng quá nhiều kiến thức lịch sử trong sách giáo khoa, chỉ cần khai thác tốt sách giáo khoa, hiểu bài và biết kết nối các vấn đề, suy luận để lựa chọn các đáp án là
có thể hoàn thiện bài thi Nhưng để làm được điều này, các em nhất là học sinh lớp 12 trước ngưỡng cửa của kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia cần có phương pháp ôn tập thật hữu hiệu
Xuất phát từ thực trạng trên đây, tôi chọn đề tài“Một số giải pháp nhằm
nâng chất lượng ôn tập trắc nghiệm Lịch sử Việt Nam 12” làm sáng kiến
kinh nghiệm là rất cần thiết với bản thân và để hướng dẫn học sinh 12 ôn tập Lịch sử theo hình thức thi trắc nghiệm khách quan Mặt khác phần lịch sử Việt Nam chiếm một số lượng lớn trong đề (70%) nên tôi tập trung vào phần lịch sử này
Để nâng cao hiệu quả ôn tập trắc nghiệm Lịch sử 12 tôi xin đề ra một số biện pháp sau:
2.3.Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ôn tập trắc nghiệm Lịch sử Việt Nam 12
2.3.1.Yêu cầu học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản Lịch sử Việt Nam 12 và
ôn tập theo từng chủ đề lịch sử cụ thể.
Việc nắm vững kiến thức cơ bản Lịch sử Việt Nam 12 là điều không đơn giản Vì Lịch sử Việt Nam 12 có dung lượng kiến thức lớn, bao gồm toàn bộ lịch sử Việt Nam từ 1919-2000 Để ôn tập một cách hiệu quả, học sinh cần hệ
Trang 5thống kiến thức thành các vấn đề và xâu chuỗi vấn đề, tránh nắm sự kiện lịch sử một cách rời rạc, chắp vá
Trước khi ôn tập từng nội dung cụ thể Lịch sử lớp 12 học sinh cần nắm một cách khái quát về tiến trình lịch sử với những sự kiện lịch sử chính
Phần Lịch sử Việt Nam từ 1919-2000, giáo viên hướng dẫn học sinh học theo từng giai đoạn lịch sử trong một quá trình liên tục theo trình tự thời gian:
- Giai đoạn 1919 -1930: Quá trình vận động thành lập Đảng cộng sản + Chuyên đề 1: Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp và những chuyển biến về kinh tế, xã hội VN
+ Chuyên đề 2: Phong trào dân tộc dân chủ (1919-1930) với những nội dung chính như nguyên nhân, điều kiện bùng nổ, biểu hiện phong trào dân tộc dân chủ khuynh hướng dân chủ tư sản và khuynh hướng vô sản, đặc điểm Phong trào dân tộc dân chủ
- Giai đoạn 1930 – 1945: Quá trình đấu tranh giành chính quyền cách mạng
+ Phong trào cách mạng 1930 - 1931
+Phong trào dân chủ 1936 - 1939
+ Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tháng Tám
- Giai đoạn 1945 - 1954: Cuộc kháng chiến chống Pháp
- Giai đoạn 1954 - 1975: Cuộc kháng chiến chống Mĩ
- Giai đoạn 1975 - 2000: Xây dựng và bảo vệ tổ quốc Xã hội chủ nghĩa Dựa vào sự phân kỳ lịch sử này, học sinh tiến hành xác định những sự kiện lịch sử chính gắn liền với từng giai đoạn lịch sử cụ thể
Ví dụ: Ôn tập giai đoạn 1919-1930, giáo viên hướng dẫn học sinh xác định những sự kiện chính sau:
Thời gian Nội dung sự kiện
6/1919 Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Vécxai bản yêu sách của nhân d
ânAn Nam
1919 Phong trào chấn hưng nội hóa, bài trừ ngoại hóa của giai cấp tư
sản dân tộc
1920 Công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn thành lập Công hội đỏ
7/1920 Nguyễn Ái Quốc đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về
vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I Lênin
12/1920 Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản
và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tua
1921 Hội Liên hiệp thuộc địa ở Pari thành lập
1923 Phong trào chống độc quyền cảng Sài Gòn và xuất khẩu lúa gạo
Nam Kì của tư sản dân tộc
6/1923 Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội Quốc tế nông dân ở Liên Xô
6->7/1924 Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản
11/1924 Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc)
8/1925 Công nhân thợ máy xưởng Ba Son đấu tranh, đánh dấu bước tiến
Trang 6mới của phong trào công nhân 6/1925 Thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên
25/12/1927 Việt Nam Quốc dân đảng ra đời
1928 Phong trào vô sản hóa của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên 2/1929 Tổ chức ám sát tên trùm mộ phu Badanh ở Hà Nội
3/1929 Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Bắc Kì ra đời
17/6/1929 Đông Dương Cộng sản đảng được thành lập
8/1929 Thành lập An Nam Cộng sản đảng
9/1929 Thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn
6/1>8/2/1930 Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng cộng sản Việt
Nam
9/2/1930 Khởi nghĩa Yên Bái bùng nổ và thất bại
Việc xác định được các mốc sự kiện từng nội dung, từng thời kỳ sẽ giúp học sinh nắm vững được kiến thức cơ bản của chương trình Lịch sử 12 một cách
dễ dàng nhất
Giáo viên cũng có thể hướng dẫn học sinh nắm kiến thức cơ bản bằng việc học theo chủ đề lịch sử cụ thể có cùng đặc điểm, liên quan với nhau Lịch
sử Việt Nam 12 - chương trình chuẩn nhiều mảng kiến thức có thể xếp ôn theo chủ đề như: “Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam từ 1919-1945”; “Các hình thức mặt trận của Đảng từ 1930-1919-1945”; “Chủ trương đấu tranh của Đảng từ 1939-1945”; “Chủ quyền dân tộc qua các hiệp định: Hiệp định Sơ
bộ, Hiệp định Giơne vơ và Hiệp định Pari”; “Các chiến lược chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Nam Việt Nam từ 1954-1975
Ví dụ: Ôn tập chủ đề “Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam từ 1919-1945”, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh nắm được những nội dung sau:
- Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc
- Người chuẩn bị về tư tưởng chính trị (1920-1924) và tổ chức (1925-1927) cho việc thành lập một chính đảng vô sản ở Việt Nam
-Trực tiếp chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản tháng 2-1930, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam và soạn ra Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, đặt cơ sở cho đường lối cách mạng Việt Nam từ đó về sau
- Người chủ trì và hoàn chỉnh chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc
ở Hội nghị 8 (5-1941)
- Cùng với toàn Đảng, toàn dân xây dựng chính trị (sáng lập Mặt trận Việt Minh ngày 19-5-1941), lực lượng vũ trang (thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ngày 22-12-1944), căn cứ địa cách mạng (thành lập Khu giải phóng Việt Bắc ngày 4-6-1945)
- Chớp thời cơ và lãnh đạo nhân dân giành chính quyền trong Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám 1945
- Đọc Tuyên ngôn Độc lập (2-9-1945), khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Trang 7Đặc điểm của lịch sử là diễn ra liên tục, kết quả của sự kiện trước có liên
hệ đến sự kiện sau Do đó, nếu giáo viên định hướng cho học sinh học cả một chuỗi sự kiện có liên hệ với nhau trong cùng một giai đoạn lịch sử là một cách giúp học sinh ôn tập có hiệu quả hơn
Ví dụ: Cách mạng Việt Nam từ 1939-1945 xoay quanh 4 sự kiện lớn là Hội nghị Trung ương 6 (11/1939), Hội nghị Trung ương 8 (5/1941), Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng (9/3/1945) và Hội nghị toàn quốc của Đảng (14 đến 15/8/1945) Nếu nhóm 4 sự kiện này lại (từ bối cảnh đến nhận định tình hình, xác định kẻ thù, đề ra chủ trương và quá trình triển khai các chủ trương) thì học sinh sẽ thấy được quá trình phát triển liên tục của cách mạng Việt Nam
từ 1939-1945: từ chỗ bảo toàn lực lượng (chủ trương của Hội nghị Trung ương 6) đến chuẩn bị lực lượng (chủ trương của Hội nghị 8), khởi nghĩa từng phần (chủ trương của Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng 9/3/1945) và tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền (chủ trương của Hội nghị toàn quốc 14 đến 15/8/1945)
Hoặc trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954), giáo viên hướng dẫn học sinh nhóm 4 kế hoạch của giặc Pháp: Bôlaec (1947), Rơve (1949), Đờlát Tát xinhi (1950), Na va (1953) Các em sẽ thấy mỗi kế hoạch đều bị quân dân ta đánh bại bằng những chiến thắng cụ thể và thấy được thực trạng các kế hoạch của Pháp đề ra theo kiểu “thua keo này, bày keo khác” Sau một lần thất bại của
kế hoạch trước, thực dân Pháp thay tướng và đưa ra một kế hoạch mới nhưng rốt cục đều bị quân dân ta đánh bại, buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ (1954) rút quân về nước
Trong kháng chiến chống Mỹ, đối với các chiến dịch: Tây Nguyên (4-24/3/1975), Huế-Đà Nẵng (23->29/3/1975), Hồ Chí Minh (26/4 >30/4/1975), học sinh đặt trong mối liên hệ của chủ trương và kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam Các em sẽ thấy, lúc đầu, Đảng đề ra kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam trong 2 năm nhưng sau khi chiến dịch Tây Nguyên diễn ra, Đảng đã liên tục điều chỉnh, rút ngắn kế hoạch giải phóng miền Nam Kết quả, trong vòng chưa đầy 3 tháng, ta đã giải phóng hoàn miền Nam
Thực tế giảng dạy của bản thân cho thấy, việc hướng dẫn học sinh học và
ôn tập theo cách học chủ đề lịch sử cùng đặc điểm hoặc nhóm những sự kiện lịch sử có liên hệ với nhau là biện pháp hữu hiệu giúp học sinh ghi nhớ lịch sử tốt hơn
2.3.2.Ôn tập trắc nghiệm Lịch sử với kĩ năng khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức bằng các bảng niên biểu.
Trong dạy học Lịch sử, phương pháp lập bảng hệ thống hóa kiến thức có vai trò hết sức quan trọng vì lập bảng niên biểu sẽ tạo hứng thú học tập, khắc sâu kiến thức, phát triển các thao tác tư duy và khả năng sáng tạo lịch sử cho học sinh Hệ thống kiến thức bằng bảng niên biểu giúp HS nắm chắc kiến thức, tạo điều kiện cho tư duy lôgic, liên hệ tìm ra bản chất của sự kiện, nội dung của lịch
sử [5] Từ đó, các em vận dụng làm tốt các bài tập đòi hỏi kỹ năng tư duy, tổng hợp kiến thức
Trang 8Có 3 dạng niên biểu mà giáo viên thường sử dụng hướng dẫn học sinh ôn tập là: Niên biểu tổng hợp, niên biểu chuyên đề và niên biểu so sánh
2.3.2.1 Niên biểu tổng hợp: Là bảng liệt kê những sự kiện lớn xảy ra trong thời
gian dài Loại niên biểu này không chỉ giúp học sinh ghi nhớ những sự kiện chính mà còn nắm được các mốc thời gian đánh dấu mối quan hệ của các sự kiện quan trọng
Ví dụ: Ôn tập giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1946-1954), giáo viên
có thể sử dụng bảng niên biểu tổng hợp về những thắng lợi tiêu biểu trên mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao của nhân dân ta như sau:
Các
mặt
trận
Thời gian Những thắng lợi tiêu biểu
Quân sự
12/1946->2/1947
Cuộc chiến đấu ở các đô thị Bắc vĩ tuyến 16 Tạo điều cho cả nước đi vào cuộc kháng chiến lâu dài
10/1947->12/1947
Chiến dịch Việt Bắc thu-đông
- Loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6000 giặc, cơ quan đầu não của ta được bảo toàn
- Buộc giặc Pháp phải chuyển từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh lâu dài”
9/1950->10/1950
Chiến dịch Biên giới thu-đông -Tiêu diệt được hơn 8000 giặc, giải phóng biên giới Việt Trung, chọc thủng hành lang Đông-Tây, làm phá sản kế hoạch Rơve
- Khai thông con đường liên lạc của ta với các nước chủ nghĩa xã hội Quân dân ta giành quyền chủ động trên chiến trường chính
Đông-Xuân
1953-1954
- Các chiến dịch Lai Châu, Trung Lào, Thượng Lào, Bắc Tây Nguyên
- Chuẩn bị về vật chất và tinh thần cho ta mở cuộc tiến công quyết định vào Điện Biên Phủ 3/1954->5/1954
Chiến dịch Điện Biên Phủ -Tiêu diệt được 16200 tên địch Kế hoạch Nava
bị phá sản
- Giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của giặc Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh ở Đông Dương, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta giành thắng lợi Chính
trị
11->19/2/1951 Đại hội đại biểu lần thứ hai của Đảng diễn ra
Là “Đại hội kháng chiến thắng lợi”
Ngoại
giao
1950 Các nước chủ nghĩa xã hội lần lượt công nhận
và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam
21/7/1954
Thực dân Pháp ký Hiệp định Giơnevơ
- Là văn kiện pháp lý quốc tế ghi nhận các
Trang 9quyền cơ bản của nhân dân Đông Dương.
-Pháp chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút quân
về nước Mỹ thất bại trong âm mưu kéo dài, mở rộng, quốc tế hóa chiến tranh xâm lược Đông Dương
=>Đánh dấu cuộc kháng chiến của nhân dân ta thắng lợi
Từ bảng niên biểu tổng hợp trên, học sinh sẽ nắm chắc được sự phát triển, thấy rõ mối liên hệ giữa các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao của cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954)
2.3.2.2 Niên biểu chuyên đề: Niên biểu này đi sâu trình bày một vấn đề quan
trọng nổi bật nào đó của một thời kỳ lịch sử nhất định, nhờ đó học sinh hiểu được bản chất sự kiện một cách toàn diện, đầy đủ
Ví dụ : Lập niên biểu về những khó khăn, biện pháp giải quyết, kết quả
-ý nghĩa của những chính sách của Đảng và chính phủ ta trong những năm đầu tiên sau cách mạng tháng Tám 1945
Những khó khăn Biện pháp giải quyết Kết quả - ý nghĩa
Nạn đói: Đến đầu
1945 hơn 2 triệu
đồng bào miền Bắc
chết đói
-Vận động tương trợ, nhường cơm, sẻ áo
-Tăng gia sản xuất
- Nạn đói bị đẩy lùi
Nạn dốt: hơn 90%
dân số mù chữ
-8-9-1945: Lập nha bình dân học vụ
- Một năm xóa mù chữ cho 2,5 triệu người Khó khăn về tài
chính: ngân sách
trống rỗng
- Phát động lập “Quỹ độc lập” và “tuần lễ vàng”
- Phát hành đồng tiền Việt Nam
- Quyên góp được 370kg vàng, 60 triệu đồng tiền mặt
Ngoại xâm và nội
phản: Cùng một lúc
có nhiều kẻ thù như
quân Trung Hoa dân
quốc, Anh, Pháp,
Nhật và bọn tay sai
- Củng cố chính quyền:
Tổng tuyển cử bầu quốc hội, chính phủ, hội đồng nhân dân các cấp
- Từ 2/9/1945 -> đến trước ngày 6/3/1946: Kháng chiến chống Pháp, tạm thời hòa hõa với quân Trung Hoa dân quốc
- Từ ngày 6/3/1946 đến trước ngày 19/12/1946: Hòa với Pháp (kí hiệp định Sơ
bộ, tạm ước 14/9/1946) đuổi quân Trung Hoa dân quốc về nước
- Giữ vững và phát huy vai trò của chính quyền cách mạng
- Đánh bại được âm mưu chia rẽ và phá hoại của bọn phản cách mạng
-Tránh một lúc phải chiến đấu với nhiều kẻ thù
- Tạo điều kiện để bước vào cuộc kháng chiến lâu dài
Qua bảng trên học sinh dễ dàng nắm được những vấn đề cơ bản của nước
ta sau cách mạng tháng Tám một cách lô gic từ khó khăn, biện pháp giải quyết,
Trang 10kết quả - ý nghĩa Các em cũng thấy được nước Việt Nam sau cách mạng tháng Tám trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” đã từng bước vượt qua những khó khăn dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ Học sinh rất dễ học và làm những câu hỏi của bài học theo lô gic trên
2.3.2.3 Niên biểu so sánh: Dùng để đối chiếu so sánh các sự kiện xảy ra cùng 1
lúc trong lịch sử hoặc thời gian khác nhau nhưng có điểm tương đồng, khác biệt
để làm nổi bật bản chất, đặc trưng của các sự kiện đó hoặc để rút ra một kết luận khái quát Trong chương trình Lịch sử Việt Nam 12-chương trình chuẩn, giáo viên sử dụng niên biểu so sánh để hướng dẫn học sinh ôn tập trong nhiều bài có hiệu quả
Ví dụ1 : So sánh chủ trương, sách lược của cách mạng của Đảng, hình thức đấu tranh thời kỳ 1930-1931 với thời kỳ 1936-1939, giáo viên hướng dẫn học sinh lập bảng:
Nội dung Thời kỳ 1930-1931 Thời kỳ 1936-1939
Kẻ thù Đế quốc Pháp và phong kiến
tay sai
Bọn phản động thuộc địa và tay sai
Nhiệm vụ Độc lập dân tộc và người cày
có ruộng
Tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình
Lực lượng Chủ yếu là công-nông Đông đảo các giai cấp tầng lớp
nhân dân trong xã hội
Hình thức
đấu tranh
-Bí mật
-Biểu tình, khởi nghĩa vũ trang
-Công khai, bán công khai, hợp pháp, bán hợp pháp
-Đấu tranh chính trị hòa bình Tập hợp lực
lượng
Liên minh công -nông Mặt trận dân chủ Đông Dương
(3-1938) Dựa vào bảng, học sinh thấy được sự khác biệt về chủ trương, sách lược của Đảng trong 2 thời kỳ 1930-1931 và 1936-1939 Sự khác biệt này là do tình hình thế giới và trong nước có sự thay đổi, Đảng đã nhạy bén, sáng tạo và linh hoạt để đề ra chủ trương đấu tranh phù hợp
Ví dụ 2: So sánh những điểm khác nhau giữa chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” với chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (Ôn tập bài 22 Nhân nhân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất), giáo viên hướng dẫn học sinh lập bảng:
Nội dung Chiến tranh đặc biệt Chiến tranh cục bộ
Lực lượng
tham gia
Quân đội Sài Gòn là chủ yếu
Quân Mỹ và quân đồng minh là chủ yếu
Âm mưu
Dùng “người Việt đánh người Việt”
Tạo ra ưu thế về binh lực, hỏa lực để áp đảo quân chủ lực của
ta, giành lại quyền chủ động trên chiến trường
Thủ đoạn Dồn dân lập ấp chiến lược Mở các cuộc “tìm diệt”, “bình
định” Quy mô Ở miền Nam Việt Nam Bình định miền Nam, tiến hành