Sau những lần trực tiếp chấm thi môn Ngữ văn – kỳ thi THPT quốc gia tại tỉnh Thanh Hóa, tôi nhận ra một thực tế: bài viết của học sinh thường sa vào phân tích rất sâu những kiến thức văn
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT HẬU LỘC 3
******************
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHẦN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 12 TRONG BÀI THI TỐT NGHIỆP THPT BẰNG VIỆC VẬN DỤNG
VÀ LỒNG GHÉP KIẾN THỨC LÍ LUẬN VĂN HỌC
Người thực hiện: Trần Thị Lan
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn
SKKN môn: Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2022
Trang 2I.PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Môn Ngữ văn là môn khoa học xã hội cơ bản chiếm vị trí quan trọng trong nhà trường Môn học này không chỉ giáo dục về nhân cách sống như M Gooki từng nói “ Văn học là nhân học” mà còn có mặt trong tất các kì thi quan trọng của đời học sinh Ngay từ khi lọt lòng mẹ, mỗi người con đã được tiếp cận với tác phẩm văn chương ngọt ngào, kì thú qua lời ru, lời kể của bà của mẹ Vào mẫu giáo, con trẻ vẫn thẻ thọt câu được câu chăng qua những vần thơ những câu chuyện cổ tích của cô giáo Và khi vào bậc tiểu học rồi lên trung học các em không chỉ làm quen mà còn tiếp cận bộ môn từ dễ đến khó Vậy mới thấy chức năng của môn học này là không nhỏ Nhất là trong bối cảnh xa hội hiện đại ngày nay vấn đề kĩ năng sống đặt ra cho mỗi học sinh qua mỗi bài học văn là cấp thiết hơn bao giờ hết Song, dạy văn không chỉ có chức năng nhận thức, chức năng giáo dục và chức năng thẩm mĩ mà còn phải dạy các em cách tư duy mạch lạc, có hệ thống, có cơ sở để các em biết phân tích một vấn đề thấu tháo Qua đó, các em
có một nền tảng vững chắc về vốn sống để bước vào đời tự tin và bản lĩnh hơn
Trong những năm gần đây, môn Ngữ văn trong kì thi THPT Quốc gia có sự ổn định về cấu trúc đề thi Đề vẫn đảm bảo được cả kiến thức tiếng Việt, kiến thức xã hội
và kiến thức văn học Đồng thời đề cũng đảm bảo được cả các mức độ nhận thức, trí tuệ, kĩ năng của học sinh như: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao Trong đó câu 2 phần Nghị luận văn học chiếm 50% số điểm và cũng là câu khó với vận dụng cao là câu đòi hỏi sự tư duy và chất văn thật sự của bài làm Đây cũng là phần quyết định nhiều đến bài thi có đạt được điểm giỏi của học sinh
Như vậy làm thế nào để có một bài Nghị luận văn học vừa đúng, vừa hay và đạt điểm cao? Đó là sự trăn trở cho những giáo viên dạy văn như chúng tôi Một bài văn hay không chỉ làm sáng rõ vấn đề cần nghị luận mà phải là bài làm có chất văn truyền cảm,giàu tính sáng tạo,văn viết có chất lý luận Và một bài văn hay giống như một bông hoa đẹp vừa dậy hương vừa khoe sắc để hấp dẫn người đọc Nhưng nếu để học sinh tự học sẽ không bao giờ có được bài văn như mong muốn, mà để học sinh chạm tới và biết cách làm bài văn thật sự có chất văn phải bắt đầu từ người thầy Thực tế bấy lâu ta dạy chỉ quan tâm đến đối tượng học sinh mũi nhọn tham gia các kì thi học sinh giỏi các cấp mới đưa lí luận văn học lồng ghép vào bài văn Còn chất lượng đại trà có nhưng còn rất hạn chế Thế nên khi thi THPT học sinh đạt điểm cao phục vụ cho xét tuyển Đại học là rất khó khăn
Sau những lần trực tiếp chấm thi môn Ngữ văn – kỳ thi THPT quốc gia tại tỉnh Thanh Hóa, tôi nhận ra một thực tế: bài viết của học sinh thường sa vào phân tích rất sâu những kiến thức văn học mà quên đi lồng ghép kiến thức lý luận văn học và những bài văn đạt điểm giỏi là những bài biết vận dụng linh hoạt kiến thức lý luận văn học khiến cho bài viết có một lối đi riêng, có sự thăng hoa trong cảm xúc Vậy vận dụng kiến thức lý luận văn học vào bài văn nghị luận văn học là vô cùng cần thiết – đây là
Trang 3nền móng để bài viết đạt kết quả cao, là “chìa khóa” gỡ rối cho cả người dạy và người học Văn
Đó cũng là những lý do đưa tôi đến đề tài “ Nâng cao hiệu quả phần Nghị luận văn
hoc cho học sinh lớp 12 trong kì thi tốt nghiệp THPT bằng việc vận dụng và lồng ghép kiến thức lí luận văn học” Hy vọng những kinh nghiệm nhỏ này sẽ có tác dụng
hữu ích với đồng nghiệp và học sinh THPT
2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
- Nâng cao hiệu quả bài làm văn nghị luận văn học cũng như rèn kĩ năng viết bài văn vừa hay, vừa sâu sắc, thấu đáo cho học sinh trong kì thi THPT
- Tăng cường được khả năng thực hành cho học sinh thông qua hệ thống các đề thi minh họa
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
- Học sinh lớp 12 trường THPT Hậu Lộc 3 năm học 2020 – 2021
- Câu 2, phần II (Phần Làm văn) trong các đề thi minh họa THPT Quốc gia 2020,2021
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
- Nghiên cứu lý thuyết : Tập trung nghiên cứu lý thuyết về lý luận văn học ở phương diện khái niệm và các ý kiến, nhận định xoay quanh các vấn đề cơ bản sau:
+Thơ và đặc điểm của thơ
+Tình huống truyện
+Giá trị nhân đạo
+Giá trị hiện thực
+Cái tôi
+Tính sử thi
+ Chủ nghĩa anh hùng cách mạng
+Phong cách nghệ thuật
+ Chất thơ trong văn xuôi
…
- Nghiên cứu thực tiễn :
+ Nghiên cứu các đề minh họa THPT quốc gia 2019, 2020, 2021 của Bộ GD & ĐT cùng các đề thi của các đồng nghiệp trong tỉnh và ngoài tỉnh Thanh Hóa
+ Đọc, sửa chữa bài làm của học sinh lớp 12 trong các đợt khảo sát chất lượng ôn tập + Tổ chức cho học sinh làm đề trong các buổi ôn luyện, chấm và rút kinh nghiệm
5 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
- Đề tài sẽ đưa ra giải pháp và cách thức đưa lí luận văn học vào câu Nghị luận văn học cung cấp một “ cẩm nang” giúp người giáo viên trực tiếp giảng dạy ( nhất là giáo viên mới vào nghề)
- Giúp học sinh có kĩ năng, phương pháp làm bài (câu Nghị luận văn học 5,0 điểm) cho giáo viên và học sinh khi đối mặt với các kỳ thi tốt nghiệp THPT đạt kết quả cao
Trang 4II NỘI DUNG
1 CƠ SỞ LÍ LUẬN.
- Lý luận văn học là chuyên ngành nghiên cứu về mối liên hệ giữa văn học với đời sống, quan hệ văn học với các loại hình nghệ thuật khác, từ đó làm nổi bật đặc trưng, giá trị,
vị trí của văn học
- Lý luận văn học là cơ sở giúp ta hiểu sâu sắc hơn bản chất của vấn đề được đặt ra trong tác phẩm văn học cả ở hai phương diện nghệ thuật, nội dung- tư tưởng của tác phẩm
- Có lý luận sẽ giúp cho bài văn mượt mà, thấu đáo, đậm chất văn chương nhưng không phải học sinh nào cũng nắm vững kiến thức lý luận văn học và biết cách, có kĩ năng đưa vào trong quá trình làm bài
- Khi viết bài nghị luận văn học, học sinh cần tìm hiểu và nắm vững kiến thức lý luận văn học, để lồng ghép, găm cài vào việc mở bài, viết luận điểm, nghệ thuật, đánh giá và kết bài để ý kiến khi đưa ra bình luận, phân tích, cảm nhận có một cơ sở vững chắc, có chiều sâu tư duy, cảm xúc
2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ.
- Thực tế bấy lâu nay nhiều giáo viên dạy văn thường nghĩ, có đưa kiến thức lí luận vào bài Nghị luận văn học chỉ ở đối tượng học sinh giỏi các cấp và ở đối tượng trường chuyên, lớp chọn
- Một số giáo viên có thâm niên nghề nghiệp ít, chưa thực sự chú trọng vào trang bị kiến thức lý luận văn học cho học sinh, họ quan niệm: giờ dạy Ngữ văn chủ yếu là dạy đọc hiểu văn bản, bởi điều này góp phần lớn vào việc nâng cao chất lượng giáo dục Nhiều giáo viên Ngữ văn dạy lâu ngại, không chịu đầu tư thời gian cho việc dạy lí luận cho học sinh Thậm chí dạy các bài lí luận trong sách giáo khoa chỉ qua quýt cho xong chứ không hiểu bản chất của lí luận là để làm gì và áp dụng như thế nào Dẫn đến việc vận dụng kiến thức lý luận văn học vào bài nghị luận văn học của học sinh là hạn chế, thậm chí là không có
- Lối mòn ăn sâu trong tâm thức của người dạy và người học bài văn nghị luận văn học
đã được định hình theo từng tác phẩm riêng biệt và cách giải quyết phụ thuộc vào các sách tham khảo bài văn mẫu
- Xuất phát từ tâm lý chung của học sinh đều ngại học lý luận văn học vì sự ám ảnh đây
là mảng kiến thức khô khan
- Đa phần học sinh có tư tưởng: chỉ cần nắm được kiến thức văn học mà không ý thức được tầm quan trọng của việc sử dụng kiến thức lý luận văn học vào bài viết dẫn đến những tồn tại đối với học sinh khi làm bài văn nghị luận (sa vào liệt kê kiến thức đơn thuần, thậm chí ôm đồm kiến thức cho một bài viết)
Sự lúng túng cho cả người dạy và người học Thực trạng này đã khiến tôi trăn trở tìm tòi, phép “gỡ rối” giúp học sinh vận dụng kiên thức đó một cách linh hoạt và nhuần nhuyễn
3 GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Trang 53.1.TRANG BỊ LÍ THUYẾT CƠ BẢN VỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH
- Ngoài những kiến thức lý luận trong sách giáo khoa ( Lớp 11: Đọc kịch bản văn học,
đọc tiểu thuyết và truyện ngắn Lớp 12: Mấy ý nghĩ về thơ; Giá trị văn học và tiếp nhận văn học….)
- Thông qua giờ dạy, giáo viên cần cung cấp cho học sinh thêm một số khái niệm, định nghĩa và những vấn đề liên quan đến lý luận để học sinh có cái nhìn phong phú về lý luận
- Dạy kiến thức lý luận văn học theo từng chủ đề thông qua các buổi ôn luyện và dạy tự chọn Sau đây là phần lí luận văn học cơ bản mà bản thân tôi đã dạy và hướng dẫn học sinh vận dụng vào bài làm văn Thực tế ta có thể sử dụng nhiều hơn nữa trong quá trình thực hiên dạy và học
+ Thể thơ và đặc trưng của thơ:
++ “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu”
++ Thơ là tiếng nói của tình cảm con người, những rung động của trái tim trước cuộc
đời Lê Quý Đôn từng khẳng định: Thơ phát khởi từ lòng người ta, hay như nhà thơ Tố Hữu đã viết: Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật đầy Nhà thơ Pháp Alfret de Mussé chia sẻ:Hãy biết rằng chính quả tim ta đang nói và thở than lúc bàn
tay đang viết
+ + Các nhận định về thơ có thể sử dụng để găm cài và lồng vào bài làm văn:
+++ Thơ đối với cuộc sống được ví như người con gái đối với gia đình Cái để cho
người ta làm quen là nhan sắc, nhưng cái để sống với nhau lâu dài là đức hạnh
( Khuyết danh)
+++ Cũng như nụ cười và nước mắt, thực chất của thơ là phản ánh một cái gì đó
hoàn thiện từ bên trong (R.Tagore)
+ Nhân vật:
++ Khái niệm: Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Những con người này có thể được miêu tả kỹ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm ++ Chức năng: Nhân vật văn học có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục đích gán liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập đến trong tác phẩm
++ Các nhận định:
+++ Hình tượng nhân vật được sinh ra từ tâm trí của nhà văn nhưng chỉ thực sự
sống bằng tâm trí của người đọc ( Khuyết danh)
+++ Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm của nó chính là con
người (Nguyễn Minh Châu).
Trang 6+ Phong cách nghệ thuật:
++ Khái niệm: Phong các là nét riêng, nét độc đáo có sự thống nhất và vận động trong quátrình sáng tác của nhà văn Biểu hiện tài nghệ của người nghệ sĩ ngôn từ trong việc đem đến cho người đọc 1 cái nhìn mới mẻ chưa từng có về cuộc sống, con người,thông qua hình tượng nghệ thuật độc đáo và những phương thức, phương tiện thểhiện đặc thù
in đậm dấu ấn cá nhân của chủ thể sáng tạo Phong cách khi đã địnhhình thường có tính bền vững
++ Đặc trưng:
+++ Bản chất của lao động nghệ thuật là sáng tạo Vì vậy tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó là bản sao của người khác, hay không đem lại điều gì mới mẻ cho sự cảm thụ thẩm mĩ của conngười
+++ Thể hiện được cái tôi cá tính
+++ Nhàvăn phải có những cách nhìn, cách khám phá mới
++ Các câu nhận định về phong cách và cá tính sáng tạo:
+++ Huygô đã từng nói: Cái tầm thường là cái chết của văn chương nghệ thuật.
+++ Nam Cao: Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm nên một
vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có.
+ Tình huống truyện:
++ Khái niệm: Tình huống truyện là sự kiện, là hoàn cảnh, tình thế của câu chuyện Tình huống này chứa đựng những mâu thuẫn, bất thường, thậm chí là nghịch lý trong cuộc sống của nhân vật
++ Ý nghĩa :
+++ Tình huống truyện đóng vai trò vô cùng quan trọng Đối với cốt truyện, tình huống góp phần thúc đẩy cốt truyện phát triển, tạo kịch tính
+++ Không chỉ vậy, đối với nhân vật, tình huống này còn thể hiện tính cách, tâm lí nhân vật 1 cách rõ nét, chân thật nhất
+++ Ngoài ra, tình huống truyện còn giúp chúng ta làm sáng rõ tư tưởng, chủ đề tác phẩm Mỗi tác phẩm nghệ thuật đều truyền tải 1 thông điệp nào đó Vì thế, chỉ thông qua tình huống truyện, mới có thể làm nổi bật yếu tố ý nghĩa đằng sau
++ Các câu nhận định về tình huống truyện:
+++ Tình huống truyện là 1 lát cắt trên thân cây mà qua đó thấy được trăm năm đời
thảo mộc ( Nguyễn Minh Châu)
+ Giá trị hiện thực:
++ Khái niệm: Giá trị hiện thực của tác phẩm văn học là toàn bộ hiện thực được nhà văn phản ánh trong tác phẩm văn học, tùy vào ý đồ sáng tạo mà hiện thực đó có thể đồng nhất với thực tại cuộc sống hoặc có sự khúc xạ ở những mức độ khác nhau Tuy nhiên, hầu hết hiện thực trong các tác phẩm văn chương đều là hiện thực được hư cấu Nó có ý nghĩa phản ánh hiện thực của một thời kỳ trên nhiều phương diện khác nhau hơn là các hiện thực cụ thể
Trang 7++ Đặc điểm:
+++Phản ánh trung thực đời sống xã hội lịch sử +++Khắc họa trung thực đời sống và nội tâm của con người +++ Giá trị hiện thực có sức mạnh tố cáo (hay ca ngợi) xã hội, chế độ
++ Các câu nhận định về giá trị hiện thực:
+++ Cuộc sống còn tuyệt vời biết bao trong thực tế và trên trang sách Nhưng cuộc
sống cũng bi thảm biết bao Cái đẹp còn trộn lẫn niềm sầu muộn, cái nên thơ còn lóng lánh những giọt nước mắt ở đời ( Nguyễn Văn Thạc)
+++ Nhà văn không phải là diễn viên trên sàn diễn Nhà văn không phải là loài có
cánh Nhà văn phải đứng bằng hai chân giữa mặt đất đầy hiểm họa, giữa thập loại chúng sinh ( Nguễn Minh Châu)
+ Giá trị nhân đạo
++ Khái niệm: Giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản của những tác phẩm văn học chân chính được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc của nhà văn với nỗi đau của những con người, những cảnh đời bất hạnh trong cuộc sống Đồng thời, nhà văn còn thể hiện sự nâng niu, trân trọng với những nét đẹp trong tâm hồn và niềm tin khả năng vươn dậy của con người dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào của cuộc đời
++ Đặc điểm:
- Tố cáo xã hội: Đây chính là cái hoàn cảnh chung mà ở đó nhân vật bị đẩy vào các hoàn cảnh bi đát, đau khổ Thông thường ở phương diện tố cáo, các nhà văn thường thể hiện quan điểm lên án, phê phán tầng lớp thống trị, những kẻ chà đạp cuộc sống con người và làm băng hoại các giá trị đạo lý
- Ca ngợi: có thể ca ngợi một truyền thống tốt đẹp nào đó hoặc ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của một con người hoặc một lớp người trong xã hội Đây chính là những vẻ đẹp
bị lấp vùi bởi sự thống trị, đàn áp
- Thương cảm, bênh vực: xuất phát từ việc phát hiện, khám phá được những nét đẹp tiềm tàng của nhân vật, hoặc nhận thức được hoàn cảnh đã đẩy những người tốt đẹp, lương thiện vào đường cùng, hoặc đẩy họ vào con đường tội lỗi nên các nhà văn bày tỏ niềm thương cảm với họ, tạo ra những tình huống, hoặc xây dựng những nhân vật phụ
để làm chỗ dựa, bênh vực, che chở cho họ, giúp họ vượt qua những khó khăn, thách thức và vươn lên khẳng định bản thân, khẳng định niềm tin, ước mơ và khát vọng trong cuộc sống
- Chỉ ra con đường, lối thoát cho nhân vật: Đặc điểm này không hoàn toàn có trong tất
cả các tác phẩm Nó phụ thuộc vào nhận thức và khả năng dự đoán trước hiện thực của nhà văn, nhờ đó nhà văn chỉ ra được con đường giải quyết những bế tắc của số phận nhân vật, hoặc tạo ra những chi tiết viễn tưởng, kỳ ảo như một lối thoát cho nhân vật khi
mà mọi nẻo đường ở thực tại hay ở chốn nhân gian đều không có khả năng thay đổi được hoàn cảnh
++ Các câu nhận định về giá trị nhân đạo :
+++ Một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu Tình yêu con người, ước mơ
cháy bỏng vì một xã hội công bằng, bình đẳng, bác ái luôn luôn thôi thúc các nhà
Trang 8văn sống và viết, vắt cạn kiệt những dòng suy nghĩ, hiến dâng máu nóng của mình cho nhân loại (Lev Tolstoy)
+++ Con hãy lắng nghe nỗi buồn của cành cây héo khô, của chim muông què quặt,
của hành tinh lạnh ngắt Nhưng trước hết con hãy lắng nghe nỗi buồn của con người (Nadimetlicmet)
+ Chất thơ trong tác phẩm văn xuôi:
++Khái niệm:
+++ Chất thơ hay còn gọi là “thi vị” tức là có tính chất gợi cảm và gây hứng thú trong thơ
+++ Nói một tác phẩm văn xuôi có chất thơ tức là những ý văn, câu văn, đoạn văn tạo nên sự rung cảm trước cái đẹp của thiên nhiên, cuộc sống con người và nó có khả năng truyền những rung cảm ấy đến với người đọc
++ Biểu hiện: Ở văn xuôi chất thơ có ở trong nhiều cấp độ: từ ngữ; bức tranh thiên nhiên; hình tượng nhân vật vượt lên trên thực tại của đời sống, của hoàn cảnh để hướng đến vẻ đẹp của nhân cách, tâm hồn
…
3.2 HỆ THỐNG KIẾN THỨC CÁC BÀI ĐỌC VĂN THEO TỪNG GIAI ĐOẠN, MẢNG ĐỀ TÀI, TRÀO LƯU, XU HƯỚNG, THỂ LOẠI.
- Hệ thống theo từng giai đoạn:
Hệ thống lại, hoàn cảnh lịch sử, xã hội ,nội dung, đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam hiện đại qua từng giai đoạn với mục đích: Giúp học sinh nắm kiến thức một cách khái quát nhất về một giai đoạn văn học, đó sẽ là cơ sở ở học sinh nắm bắt các bài đọc văn được sáng tác trong giai đoạn ấy một cách bài bản, khoa học, sâu sắc nhất Ngược lại, khi giáo viên giảng các bài đọc văn cụ thể cần gắn với nét chính của giai đoạn văn học ấy và xem đó như một dẫn chứng làm sáng tỏ phần nào giai đoạn văn học
Rõ ràng đó là một mối quan hệ hữu cơ với nhau và nó sẽ phục vụ rất nhiều cho việc làm
một bài văn Nghị luận về một ý kiên bàn về văn học Ví dụ :Thơ những năm kháng
chiến chống Pháp đạt được nhiều thành tựu xuất sắc Tình yêu quê hương , đất nước, lòng căm thù giặc, ca ngợi kháng chiến và con người kháng chiến là những cảm hứng chính” ( SGK lớp 12- Ban cơ bản- tập1, Nhà xuất bản Giáo dục, tr5) Trong
chương trình Ngữ văn 12 có 2 tác phẩm học chính khóa là Tây Tiến ( Quang Dũng);Việt Bắc ( Tố Hữu)
- Hệ thống theo trào lưu, xu hướng văn học.
Giáo viên phải giúp học sinh phương pháp nắm bắt từng văn bản cụ thể trên tinh thần của từng trào lưu, xu hướng văn học Để học sinh vừa nắm được đặc trưng, xu hướng của từng trào lưu văn học, có nghĩa từ đó các em có thể làm sáng tỏ nó ở từng tác phẩm cụ thể Ví dụ như: Với văn xuôi chống Mĩ là đề cập đến chất sử thi và chủ nghĩa anh hùng cách mạng; Văn học sau năm 1975 mang cảm hứng thế sự - đời tư
Trang 9- Hệ thống theo thể loại văn học.
Giáo viên giúp học sinh hệ thống các bài đọc văn có cùng một thể loại, bởi khi đã cùng chung một thể loại thường có những nét tương đồng về nghệ thuật Cùng với việc học sinh đã nắm kĩ từng văn bản, học sinh có thể so sánh nét giống nhau và khác nhau
để chỉ ra sự độc đáo trong nghệ thuật sáng tạo của nhà văn Ví dụ bài Tùy bút Người lái
đò Sông Đà ( Nguyễn Tuân) và bài Bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? ( Hoàng Phủ
Ngọc Tường) ta có thể nhận thấy chúng có nét tương đồng của thể kí.Đó là bằng ngòi bút phóng khoáng, tự do các nhà văn thoải mái ghi chép lại những sự vật, sự việc, con người cụ thể bằng phong cách nghệ thuật tài hoa, uyên bác
- Hệ thống theo chủ đề.
Giáo viên sẽ dạy và ôn luyện cho học sinh các tác phẩm văn học 12 theo chủ đề
để tiện cho áp dụng kiến thức lý luận Bởi các em có thể sử dụng một đơn vị kiến thức
lý luận cho nhiều tác phẩm Và nếu người dạy hướng học sinh đến cùng một chủ đề học sinh sẽ dễ dàng vận dụng và vận dụng nhiều lần sẽ biến thành kĩ năng trong quá trình
làm bài Ví dụ như: Vợ chồng A Phủ ( Tô Hoài); Vợ nhặt ( Kim Lân) đều viết về số
phận của người nông dân trong chế độ cũ với giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc
3.3 HƯỚNG DẪN CỤ THỂ CHO HỌC SINH CÁCH ĐƯA LÍ LUẬN VĂN HỌC VÀO BÀI VĂN.
- Trước hết các em phải nắm bắt kĩ lí thuyết và bản chất từng khái niệm của lí luận
- Có cẩm nang về các nhận định, ý kiến lý luận văn học ở các vấn đề khác nhau Cần chọn mỗi một vấn đề một vài nhận định, ý kiến hay, xuất sắc, tiêu biểu ( Các em có thể tham khảo trên các trang mạng xã hội theo từng chủ đề khác nhau)
- Định hình được đề thi vào tác phẩm nào thuộc giai đoạn văn học, xu hướng, mảng đề tài, thể loại gì và vấn đề cần nghị luận ra sao để có thể lựa chọn vấn đề lí luận và nhận định lồng vào cho phù hợp
+ Ví dụ:
++ Mảng lí luận về thơ: Học sinh có thể vận dụng vào các tác phẩm thơ như Tây Tiến,
Việt Bắc, Đất Nước, Sóng…
++ Mảng lí luận về phong cách nhà văn có thể vận dụng vào thể kí như: Người lái đò
Sông Đà, Ai đã đặt tên cho dòng sông?
++ Mảng lí luận về giá trị hiện thực, nhân đạo có thể vận dụng vào các tác phẩm văn
xuôi như: Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt, Người đàn bà hàng chài
++ Mảng lí luận chất thơ trong văn xuôi có thể vận dụng vào các bài : Ai đã đặt tên cho
dòng sông?; Vợ chồng A Phủ.
++Mảng lí luận tình huống truyện có thể vận dụng vào các truyện ngắn: Vợ nhặt,
Người đàn bà hàng chài.
- Lí luận cần đưa vào các phần của bài làm gồm:
+ Mở bài: Đây chính là mở bài gián tiếp, thường mở bài bằng một nhận định văn học
để hấp dẫn giám thị ngay từ những con chữ đầu tiên
Trang 10+ Luận điểm: các luận điểm cũng phải có đan cài nhận định của lí luận để có cái nhìn
vừa mang tính khái quát, vừa nhấn vào trọng tâm vấn đề
+ Nghệ thuật: Để thấy một tác phẩm văn học là sự thống nhất và hoàn chỉnh bởi hai
mặt không chỉ nội dung mà còn ở hình thức nghệ thuật
+ Nhận xét: Đây là phần rất rõ khi nhật xét về tài năng hoặc cái tâm , hoặc tư tưởng,
tình cảm của nhà văn nên lí luận cả về lí thuyết cả về nhận định, ý kiến sẽ lồng vào phần này chiếm số lượng lớn
+ Kết bài: Rất cần một nhận định, một ý kiến lí luận để khái quát khép lại vấn đề nghị
luận và gợi ra dư vang của bài văn
3 4 THỰC HÀNH.
Giáo viên sẽ làm mẫu để học sinh học tập và dần dần hình thành cho mình kĩ năng Từ một mở bài của một đề đề của một tác phẩm, học sinh có thể hiểu để biết cách chọn nhận định, ý kiến lí luận nào đó tương tự các đề khác cùng một tác phẩm hoặc tác phẩm cùng một chủ đề, một xu hướng
- Đưa lí luận vào mở bài.
+ Ví dụ
++ Đề bài Phân tích hình tượng nhân vật Mị trong đoạn văn bản sau: Ai ở xa về…
cõng Mị đi ( Trích Vợ chồng A Phủ- Tô Hoài)
Từ đó nhận xét về giá trị hiện thực nhà văn Tô Hoài thể hiện trong đoạn trích
++ Lồng lí luận vào mở bài:
+++ Mở bài 1: Sinh thời Lep- toi- xtoi đã từng viết: “Một tác phẩm nghệ thuật là kết
quả của tình yêu Tình yêu con người, ước mơ cháy bỏng vì một xã hội công bằng, bình đẳng, bác ái luôn luôn thôi thúc các nhà văn sống và viết, vắt cạn kiệt những dòng suy nghĩ, hiến dâng máu nóng của mình cho nhân loại” Đúng vậy, thiên chức
của người nghệ sĩ chân chính là sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật hướng tới cuộc sống nhân sinh thông qua hình tượng nhân vật Nhân vật là linh hồn của tác phẩm nghệ thuật và là kết tinh tài năng, tâm huyết, trái tim của người nghệ sĩ Vì thế, hình tượng nhân vật xuất sắc sẽ in dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả, nói lên tư tưởng , tình cảm của nhà văn cũng như giúp tác phẩm văn học trở thành một bài ca đi cùng năm
tháng Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài cũng là một trong số những bài ca đẹp
với hình tượng nhân vật Mị đã vượt lên sự băng hoại của thòi gian Mị đại diện cho số phận bi đát cũng như sức sống tiềm tàng mãnh liệt của những người lao động miền núi Tây Bắc trong chế độ cũ Trong đó, phần nào số phận, cuộc đời của nhân vật Mị được
Tô Hoài tái hiện trong đoạn văn bản: Ai ở xa về… cõng Mị đi
+++ Mở bài 2: Nadimetlicmet đã từng bày tỏ: “Con hãy lắng nghe nỗi buồn của cành
cây héo khô, của chim muông què quặt, của hành tinh lạnh ngắt Nhưng trước hết con hãy lắng nghe nỗi buồn của con người” Đúng vậy, với người nghệ sĩ, con người
là tâm điểm để ngòi bút họ hướng đến bằng cả một tấm lòng yêu thương, nâng đỡ khi họ rơi vào con đường cùng, tuyệt lộ Đó cũng là thiên chức của người nghệ sĩ, với tâm huyết, tài năng và cả một bầu máu nóng sục sôi, họ sáng tạo nên những hình tượng nghệ