1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) một số biện pháp nhằm nâng cao điểm thi tốt nghiệp THPT môn địa lí ở các lớp 12 ban cơ bản định hướng thi tốt nghiệp tại trường THPT triệu sơn 3

19 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 392 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua các năm dạy học và ôn thi tốt nghiệp THPT tại trường THPT Triệu Sơn 3, tôi nhận thấy ở các lớp 12 Ban cơ bản định hướng theo khối C00, C19, C20, D01, D15… điểm thi môn Địa lí luôn đạ

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài.

Từ năm 2016 Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thay đổi hình thức các môn thi Tốt nghiệp Trung học phổ thông (THPT), theo đó môn Địa lí chuyển sang thi theo hình thức trắc nghiệm Cũng bắt đầu từ đây các trường THPT trong Tỉnh đã có nhiều thay đổi trong cách dạy và học, nhiều trường đạt được kết quả cao trong kì thi Tốt nghiệp THPT qua đó được Bộ Giáo dục, Sở Giáo dục và Đào tạo khen thưởng trong đó có trường THPT Triệu Sơn 3

Qua các năm dạy học và ôn thi tốt nghiệp THPT tại trường THPT Triệu Sơn 3, tôi nhận thấy ở các lớp 12 Ban cơ bản định hướng theo khối C00, C19, C20, D01, D15… điểm thi môn Địa lí luôn đạt và vượt chỉ tiêu của Nhà trường giao, song còn ở các lớp 12 Ban cơ bản định hướng thi tốt nghiệp (phần lớn các

em chỉ thi tốt nghiệp, không xét vào Đại học, cao đẳng) kết quả điểm thi còn thấp, điều này luôn làm cho tôi suy nghĩ, trăn trở làm sao để nâng cao điểm thi ở các lớp này từ đó góp phần nâng cao điểm thi trung bình của môn Địa lí so với các trường THPT trong Tỉnh, qua đó góp phần nâng cao hơn nữa thứ hạng của trường THPT Triệu Sơn 3 so với các trường bạn

Từ thực tế trên, trong quá trình dạy học tôi luôn không ngừng đổi mới phương pháp dạy học Qua áp dụng một số biện pháp vào quá trình giảng dạy ở các lớp 12 Ban cơ bản định hướng thi tốt nghiệp năm học 2019 - 2020, năm học

2020 - 2021, tôi nhận thấy kết quả ở các lớp này đã có những tiến bộ vượt bậc

Vì vậy, trong năm học này tôi đã quyết định lựa chọn “Một số biện pháp nhằm nâng cao điểm thi Tốt nghiệp THPT môn Địa lí ở các lớp 12 Ban cơ bản định hướng thi tốt nghiệp tại trường THPT Triệu Sơn 3” để làm đề tài sáng kiến kinh

nghiệm

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Tạo được hứng thú học tập môn Địa lí cho học sinh lớp 12 nói riêng và toàn bộ học sinh trường THPT Triệu Sơn 3 nói chung

- Góp phần nâng cao điểm thi Tốt nghiệp THPT cho các lớp 12 Ban cơ bản định hướng thi tốt nghiệp, từ đó tạo ra nhiều cơ hội cho các em xét tuyển vào các trường Đại học, Cao đẳng

- Góp phần nâng cao thứ hạng điểm trung bình môn Địa lí so với các trường THPT trong Tỉnh

- Góp phần nâng cao thứ hạng điểm trung bình của trường THPT Triệu Sơn 3 so với các trường THPT trong Tỉnh

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

Vấn đề được nghiên cứu, tổng kết là: Hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp nhằm nâng cao điểm thi tốt nghiệp THPT môn Địa lí ở các lớp 12 Ban cơ bản định hướng thi tốt nghiệp tại trường THPT Triệu Sơn 3 Để đánh giá hiệu quả của việc áp dụng đề tài vào thực tế dạy học, tôi đã chọn 4 lớp 12 Ban cơ bản định hướng thi tốt nghiệp của Trường THPT Triệu Sơn 3

- Năm học 2019 - 2020: Lớp 12E7 và 12E8

Trang 2

- Năm học 2020 - 2021: Lớp 12G35 và 12H35.

Các lớp được chọn tham gia nghiên cứu cho đề tài có nhiều điểm tương đồng nhau về tỉ lệ giới tính, độ tuổi, trình độ nhận thức

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

Để tiến hành nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Tôi đã nghiên cứu các văn bản, hướng dẫn, các tài liệu có liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài

- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Để có thông tin đánh giá, áp dụng sáng kiến vào giảng dạy, tôi đã tiến hành điều tra khảo sát thực trạng học sinh ở các lớp 12 Ban cơ bản định hướng thi tốt nghiệp về học lực bộ môn, về đặc điểm hoàn cảnh, tâm lí học sinh…

- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Tiến hành thống kê, xử lí các số liệu điều tra qua đó phân tích, đánh giá về hiệu quả của việc áp dụng đề tài

Trang 3

2 NỘI DUNG

2.1 Cơ sở lí luận.

2.1.1 Trắc nghiệm khách quan.

- Khái niệm: Trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra, đánh giá kết

quả học tập của học sinh bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan

- Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan.

+ Trắc nghiệm Đúng, Sai

+ Trắc nghiệm nhiều lựa chọn: Hiện nay đang được sử dụng phổ biến

+ Trắc nghiệm điền khuyết hoặc trả lời ngắn

+ Trắc nghiệm ghép đôi

2.1.2 Tâm lí học.

- Khái niệm: Tâm lý học là một ngành khoa học nghiên cứu tất cả các hiện

tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người gắn liền và điều hành mọi hành

vi, hoạt động của con người

- Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của học sinh THPT.

+ Đặc điểm về sự phát triển thể chất.

Tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cân đối

Cơ thể của các em đã đạt tới mức phát triển của người trưởng thành, nhưng sự phát triển của các em còn kém so với người lớn Các em có thể làm những công việc nặng của người lớn Hoạt động trí tuệ của các em có thể phát triển tới mức cao Khả năng hưng phấn và ức chế ở vỏ não tăng lên rõ rệt có thể hình thành mối liên hệ thần kinh tạm thời phức tạp hơn Tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí có điều kiện phát triển mạnh Ở tuổi này, các em dễ bị kích thích và

sự biểu hiện của nó cũng giống như ở tuổi thiếu niên Sự phát triển thể chất ở lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và nhân cách đồng thời nó còn ảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của các em

+ Điều kiện sống và hoạt động.

Vị trí trong gia đình.

Trong gia đình, các em đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm như người lớn, cha mẹ bắt đầu trao đổi với các em về một số vấn đề quan trọng trong gia đình Các em cũng thấy được quyền hạn và trách nhiệm của bản thân đối với gia đình Các em bắt đầu quan tâm chú ý đến nề nếp, lối sống sinh hoạt và điều kiện kinh

tế chính trị của gia đình Có thể nói rằng cuộc sống của các em trong độ tuổi này

là vừa học tập vừa lao động Do đó, gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình học tập và rèn luyện của học sinh

Vị trí trong nhà trường.

Ở nhà trường, học tập vẫn là hoạt động chủ đạo nhưng tính chất và mức độ thì phức tạp và cao hơn hẳn so với tuổi thiếu niên Đòi hỏi các em tự giác, tích cực độc lập hơn, phải biết cách vận dụng tri thức một cách sáng tạo Nhà trường lúc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nội dung học tập không chỉ nhằm trang

bị tri thức và hoàn chỉnh tri thức mà còn có tác dụng hình thành thế giới quan và

Trang 4

nhân sinh quan cho các em Việc gia nhập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong nhà trường đòi hỏi các em phải tích cực độc lập, sáng tạo, phải có tính nguyên tắc,

có tinh thần trách nhiệm, biết phê bình và tự phê bình

Vị trí ngoài xã hội.

Xã hội đã giao cho lứa tuổi học sinh THPT quyền công dân, quyền tham gia mọi hoạt động bình đẳng như người lớn Tất cả các em đã có suy nghĩ về việc chọn nghề Khi tham gia vào hoạt động xã hội các em được tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, quan hệ xã hội được mở rộng, các em có dịp hòa nhập và cuộc sống đa dạng phức tạp của xã hội giúp các em tích lũy vốn kinh nghiệm sống để chuẩn bị cho cuộc sống tự lập sau này Nếu gia đình là điểm tựa vững chắc, là tấm gương sáng thì việc tham gia vào xã hội sẽ dễ dàng cho các

em, còn nếu gia đình không phải là điểm tựa vững chắc thì khi tham gia vào xã hội các em rất dễ bị lôi kéo, cuốn vào các tệ nạn xã hội

2.2 Thực trạng vấn đề cần giải quyết.

Với đặc thù là một trường THPT nằm ở vùng Bán sơn địa, có một số xã như: Bình Sơn, Thọ Bình, Thọ Sơn, Triệu Thành… điều kiện phát triển kinh tế

-xã hội còn nhiều khó khăn Vì vậy, chất lượng đầu vào của học sinh trường THPT Triệu Sơn 3 nhìn chung còn thấp so với mặt bằng các trường trong Huyện

và trong Tỉnh So với các trường trong Huyện thì năm nào điểm trúng tuyển vào lớp 10 cũng đứng ở vị trí thấp nhất

Qua điều tra, khảo sát, tìm hiểu học sinh ở các lớp 12 Ban cơ bản định hướng thi tốt nghiệp trường THPT Triệu Sơn 3, phần lớn học sinh có học lực trung bình, thậm chí có nhiều học sinh học lực yếu Một bộ phận không nhỏ học sinh có hoàn cảnh rất đặc biệt (bố mẹ li hôn; bố mẹ hay bất đồng, cãi nhau; bố hoặc mẹ hay chơi bài bạc, lô đề, cá độ bóng đá; hộ nghèo, cận nghèo, học sinh thuộc vùng điều kiện kinh tế khó khăn…) Điều này đã có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý học tập và rèn luyện của học sinh Đây cũng là một trong các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến kết quả học tập và rèn luyện của các em còn thấp

Kết quả điều tra, khảo sát các môn thi TN-THPT lần 1 ở các lớp 12 Ban

cơ bản định hướng thi tốt nghiệp như sau: Lưu ý: Đề các lần khảo sát toàn

trường là do chuyên môn Nhà trường phân công đến tận giáo viên Vì vậy, đề thi luôn đảm bảo tính bảo mật, khách quan, đúng ma trận, cấu trúc mà chuyên môn Nhà trường yêu cầu

2.2.1 Năm học 2019 - 2020: Lớp 12E7 và 12E8.

Bảng 1: Kết quả điểm khảo sát chất lượng các môn thi TN-THPT lần 1,

môn Địa lí.

Trang 5

Tổng 39 100,0

2.2.2 Năm học 2020 - 2021: Lớp 12G35 và 12H35.

Bảng 2: Kết quả điểm khảo sát chất lượng các môn thi TN-THPT lần 1,

môn Địa lí.

12G35 43

12H35 36

Qua bảng số 1 và bảng số 2 cho thấy:

- Trong năm học 2019 – 2020: Có 78 học sinh được khảo sát, thống kê thì

số học sinh đạt từ 8 điểm trở lên là không có; số học sinh đạt từ 5 – 6,75 điểm chiếm tới 50/78 học sinh (chiếm 64.1%); số học sinh dưới 5 điểm chiếm 20/78 học sinh (chiếm 25.6%); số học sinh đạt từ 7 – 7,75 điểm chỉ chiếm 8/78 học sinh (chiếm 10.3%)

- Trong năm học 2020 – 2021: Có 79 học sinh được khảo sát, thống kê thì

số học sinh đạt từ 8 điểm trở lên cũng không có; số học sinh đạt từ 5 – 6,75 điểm chiếm tới 48/79 học sinh (chiếm 60.7%); số học sinh dưới 5 điểm chiếm 22/79 học sinh (chiếm 27.8%); số học sinh đạt từ 7 – 7,75 điểm chỉ chiếm 9/79 học sinh (chiếm 11.5%)

Như vậy, phần lớn học sinh ở các lớp 12 theo Ban cơ bản định hướng thi tốt nghiệp điểm khảo sát lần 1 là rất thấp, chủ yếu học sinh đạt từ 5 – 6,75 và dưới 5,0 điểm Từ thực trạng trên tôi đã tiến hành áp dụng một số biện pháp vào quá trình dạy học, kết quả là học sinh có sự tiến bộ vượt bậc rất đáng ghi nhận

2.3 Các biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề.

Trang 6

2.3.1 Biện pháp 1: Tìm hiểu hoàn cảnh, tư vấn giúp đỡ học sinh.

Với phương châm “Cô giáo như mẹ hiền - Thầy, cô như người cha, người

mẹ thứ hai của học sinh” Trong quá trình dạy học tôi luôn quan niệm giáo viên

không chỉ dạy kiến thức cho các em mà còn lồng ghép dạy đạo đức, dạy cách làm người cho học sinh, để các em luôn cảm nhận mình được thầy cô quan tâm,

động viên, chia sẻ Từ đó các em cảm thấy “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” Đây cũng là mục tiêu mà trường THPT Triệu Sơn 3 đã và đang xây dựng thành “Trường học hạnh phúc”.

Có thể nói đây là biện pháp được xem là quan trọng nhất, quyết định đến

sự thành công của đề tài khi áp dụng vào các lớp 12 Ban cơ bản định hướng thi tốt nghiệp tại trường Qua phối hợp với giáo viên chủ nhiệm tìm hiểu thì ở các lớp này nhiều học sinh có hoàn cảnh gia đình đặc biệt từ đó có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lí, thái độ, động cơ, mục đích học tập của các em Để có biện pháp quan tâm, giúp đỡ phù hợp nhất đến các em trong quá trình học tập và rèn luyện, tôi chia học sinh thành các nhóm dựa trên hoàn cảnh gia đình Cụ thể như sau:

- Nhóm học sinh có bố, mẹ li hôn hiện đang ở với bố hoặc mẹ hoặc ở với ông, bà: Học sinh ở nhóm này thường có tâm lí chán nản, bất cần hoặc mặc cảm, ngại tiếp xúc với các bạn Đối với nhóm này tôi đã phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, Ban cán sự lớp, dành thời gian nói chuyện, tâm sự, phân tích, động viên

để các em vượt qua mặc cảm tâm lí, quyết tâm học tập thật tốt để thay đổi chính bản thân mình Giáo viên cần chú ý những học sinh bố mẹ li hôn từ cấp 2 các

em thường thể hiện bất cần, ham chơi, đua đòi…còn đối với các em bố mẹ mới

li hôn thì biểu hiện chán nản, mặc cảm, buồn rầu…Vì vậy, giáo viên cần nắm rõ đặc điểm hoàn cảnh học sinh trong từng giai đoạn để có biện pháp quan tâm, giúp đỡ các em phù hợp, kịp thời

- Nhóm học sinh trong gia đình bố, mẹ hay có bất đồng, cãi nhau trong cuộc sống hằng ngày: Học sinh ở nhóm này hay có biểu hiện trên lớp ngồi buồn, không tập trung, hay khóc Ở nhóm này, tôi đã phối hợp với Ban cán sự lớp, các bạn trong lớp tâm sự, động viên, an ủi để giúp học sinh tập trung vào học tập Mặt khác phối hợp cùng giáo viên chủ nhiệm trao đổi với phụ huynh để phụ huynh nhận ra được việc đang xảy ra hàng ngày trong gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lí, thái độ học tập của các em trên lớp Nếu để tình trạng đó kéo dài

sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lí, động cơ học tập của các em

- Nhóm học sinh có bố hoặc mẹ hay chơi bài bạc, lô đề, cá độ bóng đá… Cha mẹ luôn là tấm gương để các con soi vào mà học tập Ở một số địa phương hiện nay, các tệ nạn xã hội như trên còn khá phổ biến đã có ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lí học sinh, thậm chí một bộ phận không nhỏ học sinh đã trực tiếp tham gia và lôi kéo các bạn tham gia vào các tệ nạn xã hội trên dẫn đến học sinh

nợ nần, bỏ bê việc học tập Để giúp đỡ học sinh thuộc nhóm này thật sự là rất khó khăn, bởi vì các em bị ảnh hưởng rất lớn ngay trong gia đình, thậm chí trong nhóm này có học sinh đã phải bỏ học Do đó giáo viên cần phải rất kiên trì, một mặt phối hợp với giáo viên chủ nhiệm gặp gỡ, phân tích, động viên phụ huynh từ bỏ các tệ nạn xã hội Đặc biệt đi sâu phân tích cho phụ huynh thấy

Trang 7

được rằng tất cả tiền bạc, của cải làm ra cuối cùng cũng chỉ để dành cho con nhưng nếu cách kiếm tiền đó làm ảnh hưởng đến con, thậm chí làm hư hỏng con thì tất cả chỉ là vô nghĩa, hậu quả thật nặng nề, gia đình có thể phải li tán, tù tội…Mặt khác giáo viên phân tích cho học sinh thấy được hậu quả tai hại nếu tham gia vào các tệ nạn xã hội này, từ đó giúp đỡ các em vượt qua những cám

dỗ, hướng tới học tập tốt để thay đổi cuộc đời của mình sau này

- Nhóm học sinh có bố mẹ đi làm kinh tế ở xa, các em ở với ông bà: Học sinh thuộc nhóm này do bố mẹ lo đi làm kinh tế ít quan tâm đến các em dẫn đến học sinh đua đòi theo bạn, ham chơi, bỏ bê học tập Đối với nhóm này tôi đã kết hợp với giáo viên chủ nhiệm trao đổi với phụ huynh, giúp phụ huynh nhận ra ở lứa tuổi các em rất cần sự có mặt của cha mẹ bên cạnh để là điểm tựa, là người bạn giúp đỡ các em có những bước đi, định hướng đúng đắn cho tương lai Yêu cầu phụ huynh thường xuyên liên lạc với giáo viên chủ nhiệm để nắm bắt kịp thời, phối hợp với giáo viên chủ nhiệm trong công tác quản lí, giáo dục học sinh

- Nhóm học sinh có hoàn cảnh kinh tế khó khăn (hộ cận nghèo, hộ nghèo, học sinh thuộc thôn, xóm khó khăn…) Đây là nhóm có khá nhiều học sinh, đối với nhóm này giáo viên cần có sự quan tâm khéo léo, tế nhị để các em không cảm thấy bị thương hại, mặc cảm Thông qua các đợt chia khó của Nhà trường, Đoàn thanh niên… Tôi đã động viên các em cả về vật chất và tinh thần để khích

lệ các em học tập và rèn luyện tốt Bên cạnh đó tôi cũng kết hợp thêm với giáo viên chủ nhiệm cùng tập thể lớp đến thăm nhà tạo ra động lực, niềm tin cho các

em Món quà của các đợt chia khó, động viên như: Xe đạp, quần áo, sách vở, bàn học, đèn học, cặp sách, giầy, dép…Đây không phải là những món quà có giá trị vật chất to lớn, nhưng đối với các em nó là nguồn động viên vô giá để các

em vươn lên trong học tập, luôn vững niềm tin “Trường THPT Triệu Sơn 3 luôn đồng hành cùng các con”

Tóm lại: Lứa tuổi học sinh THPT là giai đoạn các em đang phát triển và hoàn thiện về thể chất, về tâm sinh lí Mọi tác động tâm lí ở giai đoạn này đều

có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình học tập và rèn luyện của các em Vì vậy, trong quá trình dạy học ở các lớp này, giáo viên cần nắm rõ đặc điểm hoàn cảnh của từng học sinh, hết sức chú ý đến sự thay đổi tâm lí của các em từ đó có các biện pháp phối hợp, giúp đỡ, tư vấn kịp thời cho học sinh

2.3.2 Biện pháp 2: Đổi mới giờ dạy nhằm tạo tâm lí yêu thích, hứng thú cho môn học.

Mỗi giờ học bản thân tôi luôn trăn trở, tìm tòi để áp dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực phù hợp cho từng tiết dạy Để có thể tạo ra

được tâm lí cho học sinh là luôn chờ đợi được học giờ Địa lí, luôn mong muốn đến giờ học Địa lí, trong giờ học thì luôn hào hứng, sôi nổi, hiệu quả Để làm

được điều này tôi đã

Thứ nhất: Đổi mới hình thức kiểm tra bài cũ Theo thông tư sửa đổi, bổ

sung số 26 của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì điểm kiểm tra, đánh giá thường xuyên có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như: hỏi - đáp, viết, thuyết trình, thực hành, thí nghiệm, sản phẩm học tập Trước đây giáo viên

Trang 8

kiểm tra bài cũ thường mở sổ gọi học sinh lên bảng trả lời câu hỏi, làm cho nhiều học sinh có tâm lí do lắng, hồi hộp, ít đứng trước đám đông… khi lên bảng hay quên đôi khi làm cho giờ học trở nên căng thẳng, kém đi phần sôi nổi nhất là đối với các lớp có nhiều học sinh có học lực trung bình, yếu Do đó thay bằng cách kiểm tra bài cũ như trên tôi đã kiểm tra bằng nhiều cách:

- Trong quá trình học bài mới tôi đặt câu hỏi nếu học sinh luôn có tinh thần xung phong xây dựng bài và trả lời tốt thì tôi cho điểm các em, điều này đã chứng tỏ các em có đọc bài và chuẩn bị bài ở nhà trước

- Kết thúc tiết học trước đó tôi yêu cầu các em về nhà vẽ sơ đồ tư duy bài học hoặc sưu tầm một số hình ảnh, video, bài viết… có liên quan đến bài học gửi vào Zalo của giáo viên sau đó đến giờ học tiếp theo cho học sinh lên trình bày trước lớp để lấy điểm Đây cùng là một biện pháp rèn luyện khả năng trình bày trước đám đông cho học sinh

- Nếu tiết học đó lượng kiến thức nhiều và khó tôi không kiểm tra bài cũ

mà vào phần khởi động để học bài mới luôn

Thứ hai: Đổi mới phần khởi động Phần khởi động là phần mở đầu cho

một tiết học Vì vậy, phần khởi động luôn phải tạo ra được sự yêu thích, sôi nổi, hứng thú học tập cho học sinh, do đó phần khởi động tôi luôn đa dạng các hình thức như: Kể một câu chuyện ngắn, đọc một đoạn thơ, hát một bài hát, chơi một trò chơi nhỏ, thi vẽ một bức tranh, cho học sinh xem một video, một số hình ảnh…liên quan đến nội dung bài học

Thứ ba: Phần tìm hiểu bài mới Các nội dung của bài học tôi luôn đặt học

sinh vào tình huống có vấn đề, sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để tiết học trở nên sôi nổi, sinh động, hấp dẫn Đặc biệt phần chuẩn kiến thức tôi luôn tăng cường sử công nghệ thông tin, các phương pháp trực quan như: Sơ đồ tư duy, bảng biểu, biểu đồ, hình ảnh, video…

Thứ tư: Đổi mới phần luyện tập Phần này tôi tăng cường áp dụng các

dạng sơ đồ tư duy, điền khuyết, nối các cột thích hợp với nhau, cho xem video, hình ảnh… để giúp các em nhớ và nắm được kiến thức bài học ngay trên lớp

Thứ năm: Đổi mới phần bài tập, mở rộng Lâu nay khi kết thúc tiết học

giáo viên hay yêu cầu học sinh về nhà làm câu hỏi, bài tập cuối bài Thực ra nếu phần luyện tập học sinh thực hiện tốt các em đã nắm vững và thuộc bài ngay trên lớp Vì vậy ở phần bài tập, mở rộng tôi thường xuyên cho các em lập sơ đồ

tư duy của bài học, từ đó giúp các em khắc sâu kiến thức của bài học Học sinh hoàn thành chụp ảnh gửi vào Zalo của giáo viên

Thứ sáu: Sử dụng phương pháp đánh giá cả quá trình học tập của học

sinh Để đánh giá đúng, toàn diện và khách quan về kết quả học tập của học sinh, giáo viên phải theo dõi nắm bắt chặt chẽ cả quá trình học tập của học sinh Bởi trong thực tế có rất nhiều học sinh trong các lần kiểm tra, đánh giá thường xuyên, kiểm tra, đánh giá định kì vì một lí do nào đó đã không phản ánh đúng quá trình học tập của học sinh Ví dụ: Có học sinh trong quá trình học tập giáo viên nhận thấy em rất tích cực xây dựng bài, luôn có sự chuẩn bị bài tốt, năng lực học tập tốt nhưng khi kiểm tra, đánh giá em lại bị điểm thấp thì giáo viên

Trang 9

cần xem xét, trao đổi với học sinh để đánh giá phù hợp, đúng với năng lực của

em lâu nay đã thể hiện trong cả quá trình học tập Ngược lại có học sinh lâu nay trong quá trình học tập em chưa tích cực, còn ham chơi, lười học nhưng khi kiểm tra, đánh giá vì lí do nào đó mà điểm lại cao bất thường thì giáo viên có thể xem xét trao đổi với học sinh để đánh giá phù hợp với năng lực của em

2.3.3 Biện pháp 3: Củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng thông qua phương pháp “Sơ đồ tư duy” và “Làm đề có thưởng”.

Ở các buổi học thêm, để củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng cho học sinh tôi đã tiến hành áp dụng phương pháp sơ đồ tư duy và làm đề có thưởng

Cụ thể tôi chia thành các giai đoạn như sau:

- Giai đoạn 1: Củng cố kiến thức bằng sơ đồ tư duy và câu hỏi trắc

nghiệm

+ Sau mỗi bài học, để củng cố kiến thức tôi yêu cầu học sinh về nhà vẽ sơ đồ tư duy bài học, sau đó vào các buổi học thêm tôi yêu cầu các em lên bảng trình bày, các em còn lại bổ sung, hoàn thiện Giáo viên dùng sơ đồ tư duy trên máy tính, máy chiếu hoặc trên giấy Ao chuẩn kiến thức cho học sinh

+ Làm câu hỏi trắc nghiệm theo từng bài, theo chủ đề, chuyên đề: Phần này tôi

đã đầu tư sưu tầm, tham khảo sách trắc nghiệm của các thầy, cô có nhiều kinh nghiệm như thầy Lê Thông, cô Nguyễn Minh Tuệ, Thầy Nguyễn Đức Vũ….để biên soạn thành ngân hàng tài liệu phong phú, có chất lượng theo từng bài, chuyên đề

- Giai đoạn 2: Hướng dẫn kĩ năng làm đề thi trắc nghiệm.

+ Kĩ năng làm câu hỏi thực hành: Giáo viên hướng dẫn cho học sinh: Kĩ năng

sử dụng Atlat Địa Lí Việt Nam, kĩ năng câu hỏi biểu đồ, kĩ năng câu hỏi bảng số liệu

+ Kĩ năng làm câu hỏi lý thuyết

+ Kĩ năng tô trong phiếu trả lời trắc nghiệm

+ Kĩ năng phân chia thời gian làm bài…

- Giai đoạn 3: Làm đề có thưởng theo cấu trúc đề thi của Bộ Giáo dục và

Đào tạo

+ Giáo viên cần đầu tư sưu tầm, biên soạn… để có một ngân hàng đề phong phú, có chất lượng, đảm bảo bám sát với cấu trúc đề thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo từng năm

+ Tổ chức cho học sinh làm đề: Mỗi đề tôi chia thành 6 mã, trong quá trình làm

đề tôi giám sát chặt chẽ, nghiêm túc Khi làm đề học sinh sẽ tô vào phiếu trả lời trắc nghiệm nhằm tập các kĩ năng tô vào phiếu tròn, đậm, không tô nhầm, lệch đáp án giữa các câu, phân chia thời gian…

+ Chấm và lấy điểm vào sổ điểm ôn thi TN-THPT: Tôi dùng phần mềm chấm

trắc nghiệm trên điện thoại thông minh như: TN Maker, App QM… để chấm

bài, lấy điểm vào sổ để theo dõi sự tiến bộ của học sinh qua từng đề Những học sinh có sự tiến bộ vượt bậc tôi cộng điểm vào điểm kiểm tra, đánh giá thường xuyên cho các em Qua đó tạo ra động lực, khuyến khích các em thi đua học tập trong lớp, giữa các lớp với nhau

Trang 10

Sổ điểm ôn thi TN-THPT năm học…Lớp…Trường THPT Triệu Sơn 3.

Đề số:……

Stt Họ và tên Điểm Câu sai Các lỗi học sinh

1

2

3

Đặc biệt những học sinh trong quá trình làm đề mà đạt từ 9 điểm trở lên tôi thưởng cho các em một món quà nhỏ để động viên, khích lệ sự nỗ lực phấn đấu của học sinh

Câu khẩu hiệu “Teem Địa chín, mười của lớp chúng mình”.

Quà Bút mực, bút chì, cục tẩy, kẹo… Thẻ điện thoại mệnh giá 10.000 đ

- Nếu em nào đạt từ 3 điểm 9 đến 9,75 liên tiếp thì phần thưởng là 1 thẻ điện thoại mệnh giá 50.000 đ

- Nếu em nào đạt từ 3 điểm 10 liên tiếp thì phần thưởng là 1 thẻ điện thoại mệnh giá 100.000 đ

+ Sửa đề cho học sinh: Đây là bước rất quan trọng và mất nhiều thời gian, đôi khi phải mất hai buổi mới sửa xong một đề cho các em Khi sửa đề, mỗi câu hỏi tôi luôn đặt ra 3 câu hỏi để học sinh trả lời, giải thích

 Câu 1: Em chọn đáp án nào?

 Câu 2: Vì sao em lại chọn đáp án đó ?

 Câu 3: Đáp án đó thuộc bài mấy, mục nào…?

Sau khi học sinh trả lời, tôi chuẩn đáp án, phân tích, giải thích cho các em hiểu và yêu cầu các em ghi chú câu hỏi số 3 bên cạnh đáp án đúng (nếu có) Điều này sẽ giúp các em đọc lại bài và khắc sâu thêm kiến thức của bài học + Sau khi sửa mỗi đề, tôi yêu cầu học sinh về nhà ghi lại các câu hỏi mình làm

sai vào vở, trong đó đáp án đúng được ghi bằng bút đỏ Cứ sau 5 đề tôi thu vở

kiểm tra việc thực hiện của học sinh Yêu cầu này sẽ giúp các em ghi nhớ sâu những nguyên nhân mình đã làm sai để hôm sau gặp lại các em không mắc lỗi nữa

2.3.4 Biện pháp 4: Chia học sinh theo nhóm năng lực để củng cố, ôn tập.

Sau một thời gian làm đề, theo dõi điểm số của các em đạt được, giáo viên có thể phân học sinh thành các nhóm theo năng lực, lên kế hoạch tăng cường củng cố, ôn tập cho các em (Kế hoạch phải được xây dựng chi tiết và xin

ý kiến của Ban giám hiệu) Giai đoạn đầu thường ôn tập 1 buổi/tuần, về sau có thể tăng lên 2 buổi/tuần, tùy vào điều kiện thời gian, cơ sở vật chất, sự kết thúc của các môn học không thi tốt nghiệp…

Thường trong một khóa có khoảng 2 lớp 12 theo Ban cơ bản định hướng thi tốt nghiệp nên giáo viên cũng có thể dựa vào năng lực để chia các lớp này thành 2 nhóm, tương đương với 2 lớp

- Nhóm học sinh có học lực khá:

Ngày đăng: 05/06/2022, 10:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Qua bảng số 1 và bảng số 2 cho thấy: - (SKKN 2022) một số biện pháp nhằm nâng cao điểm thi tốt nghiệp THPT môn địa lí ở các lớp 12 ban cơ bản định hướng thi tốt nghiệp tại trường THPT triệu sơn 3
ua bảng số 1 và bảng số 2 cho thấy: (Trang 5)
Bảng 2: Kết quả điểm khảo sát chất lượng các môn thi TN-THPT lần 1, môn Địa lí. - (SKKN 2022) một số biện pháp nhằm nâng cao điểm thi tốt nghiệp THPT môn địa lí ở các lớp 12 ban cơ bản định hướng thi tốt nghiệp tại trường THPT triệu sơn 3
Bảng 2 Kết quả điểm khảo sát chất lượng các môn thi TN-THPT lần 1, môn Địa lí (Trang 5)
Bảng 4: Kết quả các lần khảo sát môn Địa lí và điểm thi chính thức TN-THPT lớp 12E8. - (SKKN 2022) một số biện pháp nhằm nâng cao điểm thi tốt nghiệp THPT môn địa lí ở các lớp 12 ban cơ bản định hướng thi tốt nghiệp tại trường THPT triệu sơn 3
Bảng 4 Kết quả các lần khảo sát môn Địa lí và điểm thi chính thức TN-THPT lớp 12E8 (Trang 13)
Qua số liệu của bảng số 3 và số 4 cho thấy: Trong năm học 2019-2020 học sinh ở lớp 12E7 và 12E8 điểm số của các em đã có sự tiến bộ vượt bậc, đặc biệt là ở kết quả thi tốt nghiệp THPT - (SKKN 2022) một số biện pháp nhằm nâng cao điểm thi tốt nghiệp THPT môn địa lí ở các lớp 12 ban cơ bản định hướng thi tốt nghiệp tại trường THPT triệu sơn 3
ua số liệu của bảng số 3 và số 4 cho thấy: Trong năm học 2019-2020 học sinh ở lớp 12E7 và 12E8 điểm số của các em đã có sự tiến bộ vượt bậc, đặc biệt là ở kết quả thi tốt nghiệp THPT (Trang 15)
Bảng 5: Kết quả các lần khảo sát môn Địa lí và điểm thi chính thức TN-THPT lớp 12G35. - (SKKN 2022) một số biện pháp nhằm nâng cao điểm thi tốt nghiệp THPT môn địa lí ở các lớp 12 ban cơ bản định hướng thi tốt nghiệp tại trường THPT triệu sơn 3
Bảng 5 Kết quả các lần khảo sát môn Địa lí và điểm thi chính thức TN-THPT lớp 12G35 (Trang 15)
Bảng 6: Kết quả các lần khảo sát môn Địa lí và điểm thi chính thức TN-THPT lớp 12H35. - (SKKN 2022) một số biện pháp nhằm nâng cao điểm thi tốt nghiệp THPT môn địa lí ở các lớp 12 ban cơ bản định hướng thi tốt nghiệp tại trường THPT triệu sơn 3
Bảng 6 Kết quả các lần khảo sát môn Địa lí và điểm thi chính thức TN-THPT lớp 12H35 (Trang 16)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w