TRƯỜNG THPT BA ĐÌNHSÁNG KIẾN KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH VẬN DỤNG LÍ LUẬN VĂN HỌC VIẾT PHẦN MỞ BÀI CỦA BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC Người thực hiện: Mai Thị Thêu Chức vụ: Tổ phó chuyên
Trang 1TRƯỜNG THPT BA ĐÌNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH VẬN DỤNG LÍ LUẬN VĂN HỌC VIẾT PHẦN MỞ BÀI CỦA BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
Người thực hiện: Mai Thị Thêu Chức vụ: Tổ phó chuyên môn SKKN thuộc môn: Ngữ Văn
THANH HÓA, NĂM 2022
Trang 2Tên mục Trang
2.1.2 Các bước hướng dẫn học sinh vận dụng lí luận văn học vào
phần mở bài
4
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. 4
2.3 Một số giải pháp cụ thể đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5
2.3.1 Bồi dưỡng kiến thức lí luận văn học làm nền tảng
2.3.1.1 Bồi dưỡng nội dung gì
2.3.1.2 Bồi dưỡng như thế nào
2.3.1.3 Sưu tầm, tích lũy nhận định bàn về văn học
5566
2.3.2 Hướng dẫn học sinh vận dụng lí luận văn
học viết phần mở bài
2.3.2.1 Yêu cầu của mở bài vận dụng lí luận
2.3.2.2 Các cách mở bài vận dụng lí luận văn học
a Mở bài dẫn dắt từ quy luật, bản chất của văn học
b Mở bài dẫn dắt từ giá trị, chức năng của văn học
c Mở bài dẫn dắt từ lí luận về nhà văn
d Mở bài dẫn dắt từ đặc trưng thể loại
e Mở bài dẫn dắt từ chi tiết, hình tượng, không gian nghệ thuật
99121213141516
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo
dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC SÁNG KIẾN ĐÃ ĐƯỢC XẾP LOẠI
PHỤ LỤC
Trang 3Trong thời đại ngày nay, mục tiêu của giáo dục là phát triển toàn diện conngười: có nhân cách và năng lực cạnh tranh với xã hội Môn Ngữ văn giúp bồidưỡng nhân cách và hình thành, phát triển năng lực tư duy, năng lực giao tiếp –ngôn ngữ, năng lực sáng tạo… Đến với văn chương, các em sẽ cảm nhận được
vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống, hiểu người, hiểu đời, hiểu mình, sống tốt, sốngđẹp, sống nhân hậu, vị tha hơn
Nâng cao chất lượng công tác giảng dạy môn Ngữ văn vừa là mục tiêu giáodục vừa là yêu cầu, nhiệm vụ của mỗi giáo viên Là một giáo viên dạy môn Ngữvăn, bản thân tôi luôn có ý thức tìm tòi các biện pháp nâng cao chất lượng dạyhọc Thời gian qua, tôi luôn tự học đê nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ,đổi mới phương pháp dạy học, tìm tòi các phương pháp, kĩ thuật, biện pháp dạyhọc tích cực… Một trong số các biện pháp nâng cao chất lượng công tác giảng
dạy mà tôi thực hiện có hiệu quả trong quá trình giảng dạy là Hướng dẫn học sinh vận dụng lí luận văn học viết phần mở bài của bài văn nghị luận văn học.
Tôi chọn đề tài này xuất phát từ những lí do sau:
Một là, bài văn hay là một bài văn có sự thống nhất, logic chặt chẽ giữa
ba phần: mở bài, thân bài và kết bài Trong đó, phần mở bài được đánh giá rấtquan trọng, là “con mắt”, là linh hồn của bài văn Mở bài hay, độc đáo sẽ tạo ấntượng tốt đẹp đối với người đọc Ấn tượng - cảm xúc ban đầu ấy sẽ đi theongười đọc suốt qúa trình đọc bài văn
Hai là, lí luận văn học là “gốc rễ” của văn chương Vận dụng kiến thức lýluận cho phần mở bài trở thành “điểm hút” thú vị, tạo ấn tượng tốt với người đọc
Ba là, việc dẫn một cách hợp lý những nhận định về lí luận văn học sẽ tạotính vững chắc, sắc sảo, thuyết phục cho bài viết Bản thân những nhận định ấycũng giàu chất văn, vì thế sẽ khiến cho bài văn hấp dẫn hơn, ghi được điểm caohơn
Bốn là, dạy cách vận dụng lí luận vào phần mở bài sẽ bồi dưỡng đượcnăng lực tư duy, năng lực ngôn ngữ, phát huy được khả năng văn chương củacác em Đây là một việc làm cần thiết và quan trọng
Năm là, thực tế học sinh chưa biết cách mở bài, đặc biệt chưa biết cách
vận dụng lí luận vào phần mở bài Xưa nay, học sinh chủ yếu đi theo một hướngtruyền thống là mở bài trực tiếp (đi vào giới thiệu tác giả, tác phẩm) Cách mởbài dễ gây cho người đọc sự nhàm chán và khô khan
Sáu là, bản thân tôi đã thực hiện biện pháp này và đạt được kết quả khảquan, nhất là trong việc ôn luyện cho học sinh thi tốt nghiệp THPT, thi đại học,thi học sinh giỏi tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng đại trà cũng như chất lượngmũi nhọn của nhà trường
Bảy là, hiện tại chưa có các tài liệu nghiên cứu nào bàn sâu về vấn đề này,đồng nghiệp, nhà trường chưa có kinh nghiệm để giải quyết, khắc phục
Chính vì thế, đề tài sáng kiến kinh nghiệm này mang tính cấp thiết trongthực tế dạy học môn Ngữ văn Hi vọng rằng những kinh nghiệm nhỏ này giúpanh chị em đồng nghiệp tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong quá trìnhgiảng dạy
Trang 41.2 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lí luận, cơ sở pháp lí của việc hướng dẫn học sinh vận
dụng lí luận viết phần mở bài của bài văn nghị luận văn học
- Đánh giá thực trạng của việc vận dụng lí luận viết phần mở bài trong bài
văn nghị luận văn học của học sinh trường THPT Ba Đình
- Đề xuất giải pháp vận dụng lí luận viết phần mở bài của bài văn nghị luậnvăn học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Ba Đìnhnói riêng, các trường THPT nói chung
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Hướng dẫn học sinh vận dụng lí luận vào phần mở bài của bài văn nghịluận văn học
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Phân tích và tổnghợp lý thuyết; phân loại và hệ thống hóa lý thuyết; giả thuyết, lịch sử và logic
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin gồm: Quan sát,điều tra, thu thập số liệu, phân tích, so sánh, tổng hợp, thực nghiệm
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Xác xuất thống kê, tổng kết kinhnghiệm
2 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Mở bài có cấu trúc ba phần:
Mở đầu đoạn: Viết những câu dẫn dắt liên quan gần gũi với vấn đề chính
sẽ nêu Tùy nội dung vấn đề chính mà người viết sẽ lựa chọn những câu dẫn dắtphù hợp
Phần giữa đoạn: Nêu vấn đề chính sẽ bàn trong phần thân bài, tức là luận
đề Vấn đề chính này có thể đã được chỉ rõ trong đề bài, có thể người viết tự rút
ra, tự khái quát Dù vấn đề nghị luận nào thì người viết (học sinh) cũng cần nêu
ấn tượng bao trùm, đánh giá về vấn đề cần nghị luận
Phần kết đoạn: Nêu phạm vi tư liệu sẽ trình bày và phương thức nghịluận Phần này đề bài thường đã xác định sẵn Người viết chỉ việc giới thiệuhoặc ghi lại đoạn trích, câu trích ở đầu bài
Lí luận là “hệ thống những tư tưởng được khái quát từ kinh nghiệm thực
tiễn, có tác dụng chỉ đạo thực tiễn” (Từ điển Tiếng Việt) Lí luận văn học (tiếng
Anh: theory of literature) “có nhiệm vụ nghiên cứu bản chất, chức năng xã hội
Trang 5và thẩm mĩ, quy luật phát triển của sáng tác văn học, có tác dụng xác địnhphương pháp luận và phương pháp phân tích văn học Các vấn đề của lí luận vănhọc bao gồm ba nhóm lí thuyết: lí thuyết về các đặc trưng phản ánh đời sốnghiện thực bằng hình tượng nghệ thuật, lí thuyết về cấu trúc của tác phẩm văn học
và lí thuyết về quá trình văn học” (Từ điển thuật ngữ văn học) Lí luận văn học
là những lí thuyết, những nhận định, đánh giá khái quát nhất, cung cấp nhữngquy luật chung nhất về văn học, trong đó bao gồm đặc trưng, bản chất, chứcnăng của văn học, nhà văn và quá trình sáng tạo, phong cách văn học, đặc trưngngôn từ, thể loại, phương pháp luận và phân tích văn học…
Lí luận là gốc rễ của văn chương, vận dụng lí luận viết văn văn sẽ khiếncho luận điểm được vững chắc, thuyết phục, tạo tính trí tuệ, uyên bác cho bàivăn và do đó tạo ấn tượng mạnh đối với người đọc Mở bài là linh hồn của bàivăn, vận dụng lí luận vào phần mở bài sẽ tạo ấn tượng đầu tiên cho người đọc,
ấn tượng ấy sẽ theo suốt quá trình đọc bài văn Mở bài giống như một đóa hoa,vận dụng lí luận sẽ khiến bông hoa ấy rực rỡ sắc màu, ngào ngạt hương thơm
Nghị luận văn học : Theo Từ điển Tiếng Việt nghị luận là “bàn và đánh giá cho rõ về một vấn đề nào đó” Nghị luận văn học là bàn bạc, đánh giá các
vấn đề về văn học, là thể văn dùng lí lẽ phân tích, giải quyết làm sáng rõ các sựkiện và vấn đề văn học Căn cứ vào nội dung nghị luận có thể chia làm 3 loạitheo cách chia của GS Nguyễn Đăng Mạnh:
- Loại yêu cầu hiểu và cảm thụ tác phẩm văn học
- Loại yêu cầu nắm được một vấn đề văn học sử
- Loại yêu cầu hiểu được một vấn đề lí luận văn học
Trong Sách giáo khoa hiện hành, có các dạng văn nghị luận văn học sau:
- Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
- Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi
- Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học
Vận dụng lí luận viết phần mở bài của bài văn nghị luận văn học là
dùng những kiến thức lí luận để dẫn dắt, giới thiệu vấn đề cần nghị luận ở phần
mở bài của bài văn nghị luận văn học
Ở sáng kiến kinh nghiệm này tôi tập trung vào việc trình bày những côngviệc tôi đã làm trong việc hướng dẫn đưa lí luận vào việc dẫn dắt trong phần mởbài ở nhiều dạng đề khác nhau
2.1.2 Các bước hướng dẫn học sinh vận dụng lí luận văn học vào phần mở bài
Từ khái niệm đã nêu, hướng dẫn học sinh vận dụng lí luận vào viết phần
mở bài của bài văn nghị luận văn học tuân theo các bước sau:
Một là, bồi dưỡng kiến thức lí luận cho học sinh giúp các em hiểu các vấn
đề về bản chất, giá trị, chức năng của văn học, các vấn đề thể loại văn học, vềquá trình sáng tác, vai trò thiên chức, phong cách nghệ thuật của nhà văn, yêucầu đối với người nghệ sĩ… Từ việc hiểu các em mới có thể thực hành viết được
và viết tốt
Hai là, hướng dẫn các em các cách vận dụng kiến thức lí luận vào phần
mở bài Có nhiều cách dẫn dắt: dẫn trực tiếp (trích dẫn trực tiếp ý kiến, nhận
Trang 6định của một nhà văn nhà thơ, nhà lí luận phê bình văn học): dẫn gián tiếp (dẫncác kiến thức về lí luận có liên quan bằng lời lẽ của bản thân người viết); dẫn dắt
từ các vấn đề cụ thể của lí luận văn học: dẫn từ bản chất, quy luật của văn học,
từ giá trị chức năng của văn học, từ lí luận về nhà văn, từ đặc trưng thể loại…
Ba là, thường xuyên luyện viết mở bài vận dụng lí luận và chấm, trả bàicho học sinh: chỉ ra chỗ được, chưa được, điểm hay, chưa hay, góp ý, địnhhướng khắc phục giúp các em có những mở bài làm hài lòng bất kì giám khảokhó tính nào
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Trong suốt 18 năm kể từ khi ra trường cho đến nay, tôi đã đón nhiều lứahọc sinh đủ các các khối A,B, C, D thì hầu như không có em nào biết viết mởbài dẫn dắt từ lí luận văn học, phần đa các em mở bài trực tiếp (đi thẳng vào tácgiả, tác phẩm), một phần dẫn từ đề tài, chủ đề, từ cuộc sống, trong đó một phầnkhông nhỏ các em không biết cách mở bài Điều đó được thể hiện qua bảng số
liệu sau về kì thi khảo sát đầu năm lớp 10 ở một số lớp, với cùng một đề bài: Về một bài thơ mà anh/ chị yêu thích:
Lớp/khóa/sĩ số
Cách mở bài
10A (khóa 2017-2020)
Sĩ số: 45
10D (khóa 2017- 2020)
Sĩ số: 42
10C (khóa 2020-2023)
Sĩ số: 42
10D (khóa 2020-2023)
Sĩ số: 45
10H (khóa 2020-2023)
Sĩ số: 34 Số
Trang 7cách thức bồi dưỡng ra sao, bồi dưỡng vào thời gian nào trong khi phân phốichương trình chỉ dành cho việc dạy các nội dung trong sách giáo khoa mà nộidung lí luận trong chương trình sách giáo khoa quá ít ỏi Các em chưa biết cách
tự học lí luận, sưu tầm, tích lũy các ý kiến, nhận định bàn về văn học
Một thực tế rất rõ là các em không biết cách vận dụng lí luận viết phần
mở bài nói riêng, bài văn nói chung Đây cũng là thực trạng chung của phần đahọc sinh ở các trường THPT, trong đó có trường THPT Ba Đình Nhiều thầy côquan niệm chỉ nên hướng dẫn cho học sinh giỏi vì chỉ có các em mới có đủ khảnăng làm điều này Có một phần học sinh được thầy cô hướng dẫn viết mở bàivận dụng lí luận nhưng chưa thường xuyên, thậm chí các em chưa được khuyếnkhích mở bài vận dụng lí luận
Thực trạng trên đặt ra vấn đề cần phải hướng dẫn các em vận dụng lí luậnviết phần mở bài trong bài văn nghị luận văn học Đây là đề tài sáng kiến kinhnghiệm mà tôi đã áp dụng hiệu quả cho học sinh trường THPT Ba Đình
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Bồi dưỡng kiến thức lí luận văn học làm nền tảng
2.3.1.1 Bồi dưỡng nội dung gì
Muốn đưa được lí luận vào phần mở bài, các em cần hiểu một cách cơ bảnnhững kiến thức lí luận văn học Vậy trách nhiệm của người thầy là trang bị chocác em những kiến thức lí luận văn học thiết thực giúp các em có một “vốnliếng” nhất định tạo nền tảng cho việc vận dụng thành thạo kĩ năng đưa lí luậnvào mở bài Đây là hành trang giúp các em có thể viết được những mở bài ấntượng, hấp dẫn, thuyết phục nhất Xuất phát từ thực trạng đã nêu trên, trong thờigian tùy từng đối tượng học sinh, tôi đã lựa chọn bồi dưỡng cho học sinh cácchuyên đề lí luận sau:
- Bản chất của văn học
- Giá trị, chức năng của văn học
- Tác phẩm văn học
- Phong cách nghệ thuật
- Thể loại thơ, truyện ngắn
- Vai trò, thiên chức của nhà văn
- Tiếp nhận văn học
- Nhà văn - tác phẩm - bạn đọc
- Không gian, thời gian nghệ thuật…
Song song với việc giảng dạy, tôi định hướng, chuyển một số file tài liệu,bài viết về lí luận văn học cho các em tự đọc, nghiên cứu thêm
2.3.1.2 Bồi dưỡng như thế nào
Lí luận văn học là một vấn đề khó, không phải học sinh nào cũng muốnhọc, muốn hiểu Vì thế, tùy từng đối tượng học sinh mà tôi lựa chọn mức độ,cách thức, thời gian bồi dưỡng phù hợp
Đối với đối tượng học sinh đại trà (thi tốt nghiệp) tức là các lớp theo khối
A, B, A1, tôi chỉ chọn bồi dưỡng những đơn vị kiến thức cơ bản, thiết thực nhất,
Trang 8hướng dẫn các em sưu tầm một số ý kiến, nhận định văn học đơn giản, ngắngọn, dễ hiểu, dễ nhớ.
Về thời gian bồi dưỡng rất linh hoạt, có thể bồi dưỡng trong các các buổi
học thêm hoặc lồng trong các buổi dạy chính khóa
Về cách thức bồi dưỡng cũng linh hoạt: Ở trường THPT Ba Đình, không
phải lớp đại trà nào cũng được học bồi dưỡng môn Ngữ văn, do đó tôi tranh thủtrau dồi kiến thức lí luận, cách mở bài dẫn dắt từ lí luận trong các tiết đọc văn,làm văn, đặc biệt các tiết trả bài Chẳng hạn, trong tiết đọc văn, dạy phần tácgiả, tôi lồng kiến thức về phong cách nghệ thuật, quá trình sáng tác…; dạy phầnđọc – hiểu văn bản, lồng kiến thức về bản chất, quy luật, giá trị chức năng củavăn học, kiến thức về hình tượng nhân vật khi tìm hiểu nhân vật, kiến thức vềchi tiết, ngôn ngữ, thời gian, không gian nghệ thuật…; lồng kiến thức về đặctrưng thể loại khi dạy thơ, truyện, kịch, tiểu thuyết; các tiết làm văn dạy kĩ nănglồng, dẫn dắt lí luận vào phần mở bài nói riêng, bài văn nói chung, khen ngợi,cho đọc trước lớp các bài văn có vận dụng lí luận của chính các em (nếu có)
Đối với học sinh chuyên (thi đại học khối C, D và thi học sinh giỏi), tôi
cũng bồi dưỡng những kiến thức lí luận cơ bản, thiết thực nhất nhưng mức độsâu hơn, kĩ hơn, hướng dẫn em sưu tầm đa dạng, phong phú các nhận định, ýkiến bàn về văn học, càng nhiều càng tốt
Về thời gian và cách thức bồi dưỡng cũng linh hoạt giống như nhóm đối
tượng học sinh đại trà Tuy nhiên, ở đối tượng này, các em có những buổi họcbồi dưỡng nên tôi dạy sâu vào các chuyên đề đã nêu ở phần 2.3.1.1 Đồng thời,tôi phân chia thành 3 nhóm học sinh: nhóm học lực giỏi, nhóm học lực khá,nhóm học lực trung bình Căn cứ vào năng lực của các em, tôi sẽ bồi dưỡng ởnhững mức độ khác nhau, có định hướng, yêu cầu khác nhau Đối với nhóm họclực giỏi (học sinh đội tuyển học sinh giỏi giỏi tỉnh và có khả năng đạt 9 điểmvăn) tôi cố gắng dạy sâu, dạy kĩ kiến thức lí luận nhất có thể
2.3.1.3 Sưu tầm, tích lũy nhận định bàn về văn học
Để khắc phục sự “bí tắc” cũng như giúp các em dễ dàng mở bài và viếtđược những mở bài hay, ấn tượng thì giáo viên cần hướng dẫn học sinh sưu tầm,tích lũy các ý kiến bàn về văn học Các kiến thức về lí luận cộng với các câunhận định sẽ tạo “vốn liếng” phong phú Khi đã có sẵn “kho báu” này, bất kì mởbài nào các em cũng có ngay các câu lí luận để vận dụng Muốn vậy, cần giúpcác em làm các công việc sau:
Tạo các “ngăn tủ” văn chương : Mỗi em chuẩn bị một cuốn sổ/vở tích lũy
văn học, trong cuốn sổ này các em sẽ tạo ra các trang theo từng chủ đề, mỗi chủ
đề là một số trang nhất định
“Cất giữ” các ý kiến, nhận định vào từng ngăn tủ: Để “cất giữ” các ý kiến
nhận định vào “ngăn tủ”, các em phải đọc và hiểu nội dung ý kiến, sau đó gom –ghi chép vào từng “ngăn tủ” ấy sao cho phù hợp với nội dung chủ đề Côngviệc này không dễ dàng đối với học sinh đại trà nhưng giáo viên động viên, địnhhướng, hỗ trợ, tôi tin các em sẽ làm được Chẳng hạn, trong thời gian qua, tôi đãđịnh hướng cho các em tích lũy các nhận định văn học theo các chủ đề sau:
Về bản chất phản ánh hiện thực đời sống của văn chương
Trang 9- “Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn chương” (Tố Hữu)
-“Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời” (Phạm Văn Đồng)
- “Cuộc sống là cánh đồng màu mỡ để thơ bén rễ sinh sôi” (Puskin)
- “Thơ là sự thể hiện tâm hồn và thời đại một cách cao đẹp” (Sóng Hồng)
- “Hiện thực trong văn chương là hiện thực của tư tưởng, hiện thực của tinh
thần”(Phong Lê)…
Bản chất sáng tạo trong văn chương:
- “Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức, một khám phá về nội
dung” (Lê-ô-nit Lê-ô-nốp)
- “Tác phẩm hấp dẫn người ta bởi cách nhìn nhận mới, tình cảm mới về
những điều, những việc mà ai cũng biết cả rồi” (Nguyễn Đình Thi)
- “Một cuộc thám hiểm thực sự không cần một vùng đất mới mà cần một đôi
mắt mới” (Mac-xen Prut)
- “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu
mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao)
…
Giá trị, chức năng của văn học:
- “Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta đường đi, nghệ thuật vào đốt lửa
trong lòng chúng ta, khiến chúng ta tự phải bước lên đường ấy” (Tiếng nói văn nghệ,
Nguyễn Đình Thi).
- “Văn học chỉ cho chúng ta những hình thức khác nhau của cuộc sống, làm
cho mỗi chúng ta hiểu được thế nào là sức mạnh của tâm hồn con người, hiểu được thế nào là chính nghĩa, sức mạnh, tình yêu”(Pau-tôp-xki)
- “Đối với tôi văn chương không phải là cách đem đến cho người đọc sự thoát
li hay sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng
ta có để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn” (Thạch Lam).
…
Tác phẩm văn học, mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của tác phẩm
- “Tác phẩm nghệ thuật là kết quả của một quá trình nuôi dưỡng cảm hứng,
thai nghén sáng tạo ra một thế giới hấp dẫn, sinh động… thể hiện những vấn đề có ý nghĩa sâu sắc, bản chất của đời sống xã hội con người” (Sách lí luận văn học)
- “Thơ đối với cuộc sống quý như con gái đối với gia đình, cái để cho người ta
làm quen là nhan sắc, nhưng cái để sống với nhau lâu dài là đức hạnh” (Xuân Quỳnh)
- “Nội dung và hình thức gắn bó như tâm hồn với thể xác”(Bi-ê-lin-xki)
- “Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức, một khám phá về nội
dung” (Lê-ô-nit Lê-ô-nốp)
…
Phong cách nghệ thuật nhà văn
- “Cái quan trọng trong tài năng văn học là tiếng nói của mình, là cái giọng
riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một người nào khác” (I.X Tuốc – ghê – nhép)
- “Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo, vì vậy nó đòi hỏi người sáng tác
phải có phong cách nổi bật, tức là có nét gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong tác phẩm của mình”
Trang 10- “Mỗi nhà văn có một phong cách giống như một ngôi sao sáng trên bầu trời,
lấp lánh một thứ ánh sáng riêng, một cái nhìn riêng” (Trần Đăng Xuyền)
- “Mỗi công dân đều có một dạng vân tay
Mỗi người nghệ sĩ thứ thiệt đều có một dạng vân chữ
Không trộn lẫn” (Lê Đạt)
…
Quá trình tiếp nhận văn học, mối quan hệ nhà văn - tác phẩm -bạn đọc.
- “Đọc thơ là hành vi thân mật Lắng nghe nhạc điệu của nhận thức, của lòng
mình là hành động trung tâm của việc đọc thơ” (Thơ cần thiết cho ai, Nguyễn Đức Tùng)
- “Tác phẩm văn học như con quay kì lạ, chỉ có thể xuất hiện trong vận động.
Muốn làm cho nó xuất hiện, cần phải có một hoạt động cụ thể là sự đọc Và tác phẩm văn học chỉ có thể kéo dài chừng nào sự đọc còn tiếp tục Ngoài sự đọc ra, nó chỉ còn
là những vệt đen trên giấy trắng” (J.Paul.Sartre)
- “Hình tượng nhân vật sinh ra từ tâm trí của nhà văn nhưng chỉ thực sự sống
bằng tâm trí của bạn đọc”
…
Nhà văn và quá trình sáng tạo:
- “Sáng tạo nghệ thuật chân chính bao giờ cũng là một quá trình kép: vừa
sáng tạo ra thế giới, vừa kiến tạo nên bản thân mình”
- “Khi một nhà văn mới bước vào làng văn, điều đầu tiên tôi sẽ hỏi anh ta là
anh sẽ mang điều gì mới cho văn học”(L.Tônx-tôi)
- “Thơ là từ trái tim đi rồi trở về trái tim” (Ngô Giang Tiệp)
- “Trong nhiều hình dung về một thi sĩ tôi vẫn muốn đinh ninh rằng: một nhà
thơ tính từ trong máu là người gắng gỏi đến hao mòn, kiệt sức, cố níu giữ cái mình hằng tôn thờ mà đang có nguy cơ bị tuột mất, bị hủy diệt Đó là nhà thơ của cái đẹp lâm nguy” (Chu Văn Sơn)
…
Vai trò, thiên chức của nhà văn
-“ Mỗi nghệ sĩ có thể đến với văn chương và cuộc đời bằng con đường riêng của mình nhưng tư duy nghệ thuật dù có đổi mới đến đâu thì cũng không thể vượt ra ngoài quy luật chân, thiện, mĩ, quy luật nhân bản Nhà văn chân chính có sứ mệnh khơi nguồn cho dòng sông văn học đổ ra đại dương nhân bản mênh mông”(Lã Nguyên)
- “Thiên chức của nhà văn là người dẫn đường vào xứ sở của cái
đẹp”(Pau-tôp-xki)
- “Nói nghệ thuật tức là nói đến sự cao cả của tâm hồn Đẹp tức là một cái gì cao
cả Đã nói đẹp là nói cao cả Có khi nhà văn miêu tả một cái nhìn rất xấu, một tội ác, một tên giết người, nhưng cách nhìn, cách miêu tả phải cao cả” (Nguyễn Đình Thi)
- “Một nghệ sĩ chân chính phải là nhà nhân đạo từ trong cốt tủy” (Sê-khôp)
…
Thể loại truyện ngắn
-“Truyện ngắn giống như nước hoa quả cô đặc”(Trương Hiền Lương)
- “Đó là một tác phẩm nghệ thuật có bề sâu nhưng lại không được dài”
(Truman Capote)
- “Một truyện ngắn hay vừa là chứng tích của một thời vừa là hiện thân của
một chân lí giản dị mọi thời” (Nguyễn Kiên)
Trang 11- “Tôi thường hình dung thể loại truyện ngắn như mặt cắt giữa giữa một thân
cây cổ thụ: Chỉ liếc qua những đường vân trên cái khoanh gỗ tròn kia, dù sau trăm năm vẫn thấy cả một đời thảo mộc” (Nguyễn Minh Châu)
…
Thể loại thơ
- “Thơ là tự truyện của khát vọng” (I Michel Manl pose)
- “Thơ là tiếng hát hồn nhiên nhất của con tim” (Tố Hữu)
- “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống thật đã đầy” (Tố Hữu)
- “Thơ là thơ, đồng thời là họa, là nhạc, là chạm khắc theo một cách riêng”
(Sóng Hồng).
-“Thơ đúng nghĩa là sự bộc lộ tận cùng của nhà thơ" (Thanh Thảo)
- “Thơ hay, lời thơ chín đỏ trong cảm xúc” (Xuân Diệu).
- “Thơ ca không làm ra lúa vàng gạo trắng nhưng làm ra giấc mơ cho người
gieo trồng” (Nguyễn Quang Thiều)
- “Thơ ca có một sức mạnh tinh thần thiêng liêng: hữu danh hóa cái vô danh,
vĩnh cửu hóa cái nhất thời, hiện tại hóa cái đã chìm sâu vào dĩ vãng” (Phạm Xuân
Nguyên)
…
Hình tượng nghệ thuật
- “Là sản phẩm của sự khái quát hóa từ đời sống, hình tượng nghệ thuật là
hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”(Lí luận văn học, tr.27, NXB Giáo dục)
- “Hình tượng là kết tinh của những ấn tượng sâu sắc về cuộc đời, từng làm
nhà văn day dứt, trăn trở và thôi thúc họ phải nói to lên để chia sẻ với người khác”
(Văn học 10, tập 2,tr111, NXB Giáo dục 2003)
-“Nhân vật trong tác phẩm nhiều khi thật hơn cả con người thật ngoài đời”
- “Một hình tượng nghệ thuật tầm cỡ bao giờ cũng là một khám phá lớn Sự
khám phá này làm phong phú thêm nền văn học tinh thần của nhân loại”(Khrapchenko)
- “Nhân vật là trụ cột, là linh hồn của tác phẩm” (Tô Hoài)
…
Học thuộc lòng một số nhận định văn học : Song song với việc sưu tầm,
tích lũy, tôi định hướng cho các em mỗi một vấn đề về lí luận cần đọc thuộclòng – nhớ một số câu nhận định hay, tiêu biểu, tùy thuộc vào từng lớp, từng đốitượng mà có thể thuộc ít hoặc nhiều
Khen ngợi và thưởng điểm: Việc tích lũy các nhận định tôi để cho các emchủ động, linh hoạt Tuy nhiên, theo chu kì, tôi thu vở tích lũy và kiểm tra, emnào tích lũy được nhiều và nhiều câu hay, em nào thuộc được nhiều nhận định,tôi ngợi khen và thưởng điểm Tất nhiên, điều này linh hoạt tùy từng đối tượng
Sưu tầm, tích lũy văn học là một quá trình lâu dài Thầy cô phải là người
“thổi lửa” sao cho các em tự nguyện, hứng thú làm công việc trong một quátrình lâu dài Vì thế, theo thời gian, các ý kiến, nhận định sẽ ngày một nhiềuhơn, đa dạng, phong phú hơn
2.3.2 Hướng dẫn học sinh vận dụng lí luận văn học viết phần mở bài
2.3.2.1 Yêu cầu của mở bài vận dụng lí luận
Lí luận văn học cung cấp những quy luật chung nhất về văn học, trong đóbao gồm đặc trưng, bản chất, chức năng của văn học, nhà văn và quá trình sáng
Trang 12tạo, phong cách văn học, đặc trưng ngôn từ, thể loại, phương pháp luận và phântích văn học… Tất cả các tác phẩm văn học nói riêng, hiện tượng văn học nóichung không nằm ngoài những quy luật đó Vì thế, đối với bất kì đề nghị luậnvăn học nào, học sinh đều có thể dẫn dắt từ các vấn đề lí luận Trong quá trìnhhướng dẫn học sinh vận dụng lí luận văn học vào phần mở bài, giáo viên địnhhướng cho các em các yêu cầu sau:
Về nội dung: Một mở bài vận dụng lí luận cần đảm bảo ba nội dung:
- Dẫn dắt: có thể dẫn dắt từ các kiến thức về lí luận văn học hoặc dẫn dắt
từ một ý kiến, nhận định bàn về văn học Theo GS Nguyễn Đăng Mạnh, bảnchất của một mở bài hay hoặc không hay phụ thuộc hoàn toàn vào các cách dẫndắt, vì thế dẫn dắt trong phần này cực kì quan trọng
- Nêu vấn đề cần nghị luận (luận đề): nêu lên vấn đề mà đề bài yêu cầu,vấn đề này nằm ở câu lệnh của đề bài
- Giới hạn phạm vi vấn đề: phân tích, làm sáng tỏ vấn đề ấy trong phạm vitác phẩm, tác giả nào
Về cấu trúc: Mở bài là một đoạn văn hoàn chỉnh (đoạn mở bài) nên cũngphải tuân thủ 3 phần: mở đầu đoạn, phần giữa đoạn và phần kết đoạn
- Mở đầu đoạn: viết những câu dẫn dắt có liên quan gần gũi với vấn đềnghị luận Những câu dẫn dắt có thể là câu văn của bản thân người viết, có thể làcâu nhận định, ý kiến bàn về văn học của một nhà lí luận phê bình văn học, củanhà văn, nhà thơ… Hoặc có thể cả câu của người viết (học sinh) và câu nhậnđịnh của nhà lí luận phê bình văn học, nhà văn, nhà thơ… Từ kiến thức lí luận,câu nhận định về văn học, người viết dẫn dắt dần đến tác giả, tác phẩm, vấn đềnghị luận
- Phần giữa đoạn: Nêu vấn đề chính sẽ bàn trong phần thân bài, tức làluận đề Vấn đề chính này có thể đã được chỉ rõ trong đề bài, có thể người viết
tự rút ra, tự khái quát Dù vấn đề nghị luận nào thì người viết (học sinh) cũngcần nêu ấn tượng bao trùm, đánh giá về vấn đề cần nghị luận
- Phần kết đoạn: Nêu phạm vi tư liệu sẽ trình bày và phương thức nghịluận Phần này đề bài thường đã xác định sẵn Người viết chỉ việc giới thiệuhoặc ghi lại đoạn trích, câu trích ở đầu bài
Về nguyên tắc, để mở bài vận dụng lí luận văn học được hay, tạo ấntượng cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Ngắn gọn: Dẫn dắt thường vài ba câu, nêu vấn đề một vài câu và giớihạn vấn đề một câu
- Đầy đủ: Đọc xong mở bài, người đọc biết được bài viết bàn về vấn đề gì,trong phạm vi nội dung tư liệu nào, thao tác chính vận dụng là gì
- Logic : Vấn đề lí luận, nhận định văn học phải gắn bó, liên kết chặt chẽ
với vấn đề nghị luận Thông thường theo mối quan hệ bao hàm (khái quát – cụthể) và mối quan hệ gần gũi, tương cận Quan hệ bao hàm có nghĩa vấn đề líluận khái quát, bao trùm vấn đề nghị luận, vấn đề nghị luận là sự cụ thể hóa vấn
đề lí luận Quan hệ gần gũi, tương cận: kiến thức lí luận và vấn đề nghị luận cóquan hệ gần gũi, tương cận với nhau
Trang 13Các câu văn, cách dẫn dắt logic, chặt chẽ, khéo léo là yếu tố tạo nên tínhhấp dẫn cho mở bài.
- Độc đáo: mở bài phải gây được sự chú ý, ấn tượng của người đọc vớivấn đề mình sẽ viết Muốn vậy, phải có cách nêu vấn đề khác lạ Để tạo nên sựkhác lạ, độc đáo cần suy nghĩ dẫn dắt: giữa câu dẫn dắt và câu nêu vấn đề phảitạo được sự bất ngờ Câu dẫn dắt phải là những câu văn giàu hình ảnh, câu nhậnđịnh sắc sảo Nếu sử dụng nhận định thì đó phải là câu nói của những nhà phêbình lí luận, nhà thơ nổi tiếng
- Tự nhiên: Viết văn nói chung cần giản dị, tự nhiên Mở bài và nhất làcâu đầu chi phối giọng văn của toàn bài Vì thế vào bài cần độc đáo, khác lạnhưng phải tự nhiên Tránh vào đề một cách vụng về, gượng ép, giả tạo gây cảmgiác khó chịu
Một mở bài hay cần tránh:
- Dẫn dắt vòng vo quá xa mãi mới gắn được vào việc nêu vấn đề
- Dẫn dắt kiến thức lí luận không liên quan gì đến vấn đề nghị luận
- Nêu vấn đề quá dài dòng, chi tiết, có gì nói hết luôn rồi thân bài lặp lạinhững điều đã nói ở phần mở bài
Ví dụ: Đề bài: Cảm nhận về đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu:
Phần kết đoạn (giới hạn phạm vi vấn đề): Đoạn thơ miêu tả bức tranh tứbình sau để lại dư âm khó quên trong lòng người đọc:
“Mình về mình có nhớ ta
… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
Phần mở đầu dẫn dắt từ đặc trưng của thơ: chất nhạc, chất họa Phần giữađoạn dẫn dắt đến tác phẩm Việt Bắc của Tố Hữu: chất nhạc, chất họa làm cơ sởcho “nỗi nhớ niềm thương được bộc lộ một cách chân thực, tự nhiên, tha thiếtnhất” Do đó, phần đầu và phần giữa được liên kết bởi hai vấn đề có liên quanchặt chẽ đến nhau
Như vậy, bất kì mở bài của một dạng đề nào chúng ta cũng có thể dẫn dắt
từ lí luận Vấn đề quan trọng là kiến thức lí luận phải chắc chắn, cách dẫn dắtcần khéo léo, lôgic, tự nhiên Trong quá trình giảng dạy, tôi tập trung hướng dẫncách mở bài vận dụng lí luận ở các dạng đề:
Trang 14Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi
Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học
2.3.2.2 Các cách mở bài vận dụng lí luận văn học
a Mở bài dẫn dắt từ quy luật, bản chất của văn học
- Dẫn dắt từ bản chất phản ánh hiện thực cuộc sống
Văn học phản ánh hiện thực muôn màu, muôn vẻ của đời sống con người,
đó là hiện thực bên trong tâm hồn của thơ, là hiện thực ngồn ngộn chất sốngtrong văn xuôi Vì thế, dẫn dắt từ bản chất phản ánh hiện thực tạo tính chắcchắn, thuyết phục cho bài văn và có thể sử dụng với bất kì một đề nghị luận nào
Ví dụ:
Đề 1: Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau:
“Mình về mình có nhớ ta
… Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
(Trích Việt Bắc, Tố Hữu, Ngữ văn 12, tập 1)
Mở bài: Nhà thơ Tố Hữu đã từng nói: “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật đầy” Chính niềm thương, nỗi nhớ trào dâng đã tạo ra những
rung động mãnh liệt để Tố Hữu sáng tác những vần thơ chạm đến trái tim độc
giả “Việt Bắc” đã chạm đến trái tim của triệu triệu người Việt Nam Thi phẩm
ra đời là kết quả của “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” giữa những cán bộcách mạng và nhân dân Việt Bắc Bài thơ là khúc tình ca nghĩa tình cách mạng,
là bản hùng ca về cuộc kháng chiến chống Pháp Các câu thơ trong bài như lờihát tâm tình của một mối tình thiết tha giữa cán bộ kháng chiến và đồng bàoViệt Bắc được thể hiện qua ngòi bút dạt dào cảm xúc của thi nhân Điều đó đượcthể hiện qua đoạn thơ:
“Mình về mình có nhớ ta
… Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
Đề 2: Phân tích hình tượng chiếc thuyền trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.
Mở bài: Nam Cao từng phát biểu: “Chao ôi, nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật có thể chỉ là tiếng kêu đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than” Để làm được điều đó, nhà văn không
được trốn tránh hiện thực mà phải đứng trong lao khổ mở hồn
ra đón lấy những vang động của đời Nhận thức rất rõ mối quan
hệ giữa nghệ thuật và đời sống, Nguyễn Minh Châu đã sáng tác
nên “Chiếc thuyền ngoài xa” Tác phẩm là hành trình đi tìm
chân lí nghệ thuật, chân lí đời sống Điều đó được thể hiện quahình tượng chiếc thuyền với vẻ đẹp nghệ thuật tinh tế vừa phản
Trang 15ánh cuộc sống đời thường nơi làng chài ven biển vừa thể hiệnsâu sắc mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời
- Dẫn dắt từ bản chất sáng tạo
Khi đọc tác phẩm văn học, độc giả luôn đi tìm điều mới mẻ, làm nên nétriêng, độc đáo của nhà văn Vì thế, khi sáng tác tác phẩm - con đẻ của mình, mỗinhà văn đều mong muốn đem đến một điều gì đó rất mới mẻ cho độc giả Nếukhông đem đến điều gì mới lạ, tác phẩm của anh ta sẽ không thể sống mãi vớithời gian Vì vậy, dẫn dắt từ bản chất sáng tạo sẽ tạo chất trí tuệ, uyên bác chobài văn Ở dạng đề nào ta cũng đều có thể dẫn dắt từ vấn đề này, tuy nhiên nêndành cho những tác giả tạo được dấu ấn riêng rõ rệt trong tác phẩm Ví dụ:
Đề 1 : Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau trong bài Đất Nước (trích
trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm):
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
… Đất Nước có từ ngày đó”
Mở bài: “Một tác phẩm văn học lớn luôn hấp dẫn người đọc bằng cách nhìn nhận mới và bằng một tình cảm mới trước những điều, những việc ai cũng biết cả rồi” (Nguyễn Đình Thi) Đất nước không phải là đề tài mới trong văn học nhưng khi viết bài thơ Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng),
Nguyễn Khoa Điềm đã có những khám phá mới mẻ như nhà thơ có lần tâm sự:
“Tôi cố gắng thể hiện một hình ảnh Đất Nước giản dị và gần gũi nhất Đó làcách để tôi đi vào lòng người đọc và tôi đi theo con đường của riêng tôi, khônglặp lại của ai khác” Qua chín câu đầu của đoạn trích, ta cảm nhận sâu sắc điềunày:
“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
… Đất Nước có từ ngày đó”
Đề 2 :
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
(Trích Tấy Tiến, Quang Dũng, Ngữ văn 12, tập 1)
Có ý kiến cho rằng: “Đoạn thơ là một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng, song cũng đầy dữ dội, khắc nghiệt” Ý kiến khác lại cho rằng: “Đoạn thơ
vẽ nên bức tượng đài của người chiến sĩ Tây Tiến kiêu hùng, bi tráng song cũng rất đỗi lãng mạn, hào hoa”.
Từ cảm nhận về đoạn thơ, anh chị có suy nghĩ như thế nào về hai ý kiến trên
Mở bài: Sêđrin khẳng định: “Nghệ thuật nằm ngoài quy luật của sự
băng hoại Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết” Sáng tạo nghệ thuật chân chính sẽ neo giữ mãi trong lòng người đọc những giá trị riêng Được gọi là “thứ quả trái mùa lạ lẫm”(Vương Trí Nhàn), bài thơ Tây Tiến vượt lên những thăng
trầm thời gian để về đúng chỗ trong lòng người đọc Bởi thế Phạm Xuân
Nguyên đã có lần nhận xét: “Nếu chọn 10 bài thơ hay nhất của nền thơ ca cách mạng, chắc chắn phải có Tây Tiến Và nếu rút xuống 5 bài cũng không thể thiếu Tây Tiến” Làm nên vẻ đẹp riêng của bài thơ không thể không kể đến đoạn thơ
Trang 16đầu tiên Bàn về đoạn thơ này, có người đánh giá: “Đoạn thơ khắc nghiệt” Ý kiến khác lại khẳng định: “Đoạn thơ vẽ nên hào hoa”
b Mở bài dẫn dắt từ giá trị, chức năng của văn học
Một tác phẩm văn học khi ra đời đều mang những giá trị, chức năng: nhậnthức, giáo dục, thẩm mĩ Nếu không mang chức năng này, nhà văn không làmtròn sứ mệnh của mình và tác phẩm không thể tồn tại trong lòng dân tộc Dẫndắt đi từ giá trị, chức năng của văn học là một cách khôn khéo của người làmvăn Ví dụ:
Đề 1: Cảm nhận của anh/ chị về bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
Mở bài: “Thơ ca làm cho tất cả những gì tốt đẹp nhất trên đời trở thành bất tử” (Shelly) Có những giá trị vững bền của cuộc sống được lưu giữ lại nhờ
những vần thơ, có những nhịp ngân của tâm hồn được in dấu lại qua mỗi trangvăn Có lẽ thơ ca ra đời để làm bạn với con người, để đồng cảm, sẻ chia với conngười trong mọi vui buồn của cuộc sống Chính bởi vậy khi đứng trước cửa biểnDiêm Điền (Thái Bình), trước muôn ngàn con sóng lớn của đại dương, Xuân
Quỳnh đã thổn thức lòng mình và cất lên những vần thơ “Sóng” đầy xúc cảm.
Đề 2: “Giá trị nhân văn làm cho văn học trở thành phương tiện không thể thiếu được để nuôi dưỡng tâm hồn con người”
Bằng sự hiểu biết của mình, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên bằng mộtvài tác phẩm đã học
Mở bài: Xưa, Nguyễn Trãi đã đưa ra một chiến thuật đánh giặc “Không đánh vào thành mà đánh vào lòng người” Để thực hiện điều đó, Nguyễn Trãi đã
viết những thư từ, bài biểu, thảo hịch… dùng lời lẽ của mình để tấn công, thuyếtphục quân giặc Nguyễn Đình Chiểu cũng lại dùng văn chương – ngòi bút làm
mục tiêu, phương tiện để “đâm gian, chở đạo” Kế thừa truyền thống ấy, đến
thời hiện đại, Hồ Chí Minh, Thạch Lam, Tố Hữu… đã lấy văn chương để giáodục con người, giúp cho con người vượt lên tất cả để tự hoàn thiện mình Có lẽ
những nhà văn, nhà thơ đó hiểu rất rõ: “Giá trị nhân văn làm cho văn học trở thành phương tiện không thể thiếu được để nuôi dưỡng tâm hồn con người”.
c Mở bài dẫn dắt từ lí luận về nhà văn
- Dẫn dắt từ lí luận về phong cách nghệ thuật nhà văn
Mỗi một nhà văn khi xuất hiện trên văn đàn, muốn có chỗđứng anh ta phải tạo cho mình nét riêng, độc đáo Và thực sựtrong số hàng nghìn, hàng vạn nhà văn, mỗi người đều mangmột “gương mặt”, một “diện mạo” riêng Tuy vậy, không phảinhà văn nào cũng tạo nên một phong cách nghệ thuật riêng Vìvậy, đối với mở bài dẫn dắt từ phong cách nghệ thuật thì họcsinh chỉ sử dụng cho những đề bài nghị luận về tác phẩm củacác tác giả tiêu biểu, có phong cách rõ nét, nổi bật như: Hồ ChíMinh, Nguyến Tuân, Nam Cao, Tố Hữu, Kim Lân, Tô Hoài,Nguyễn Minh Châu, Xuân Diệu… Ví dụ:
Trang 17Đề bài: Phân tích vẻ đẹp khuất lấp của người vợ nhặttrong “Vợ nhặt” (Kim Lân) và người đàn bà hàng chài trong
“Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu)
Mở bài: “Mỗi nhà văn có một phong cách giống như một ngôi sao sáng trên bầu trời, lấp lánh một thứ ánh sáng riêng, một cái nhìn riêng” (Trần Đăng
Xuyền) Phải chăng vì vậy mà ta có thể bắt gặp nhiều nghệ sĩ cóphong cách hoàn toàn khác nhau trên cùng một hành trìnhkiếm tìm và khám phá vẻ đẹp tâm hồn con người Kim Lân vớitruyện ngắn “Vợ nhặt” và Nguyễn Minh Châu với tác phẩm
“Chiếc thuyền ngoài xa” là một trường hợp như vậy Nếu nhưvới khả năng viết rất hay về nông thôn và cuộc sống của ngườidân quê, Kim Lân xây dựng thành công nhân vật người vợ nhặtqua tình huống truyện độc đáo thì với phong cách truyện đậmchất tự sự - triết lí, Nguyễn Minh Châu đã khám phá ra nhữngnghịch lí trong cuộc sống của người đàn bà làng chài Qua haitác phẩm, các nhà văn đều cho ta thấy được vẻ đẹp khuất lấpcủa người phụ nữ Việt Nam trong những hoàn cảnh khó khăn
- Dẫn dắt từ lí luận về vai trò, sứ mệnh của nhà văn
Giống như bác sĩ, giáo viên, nhà văn khi sáng tác văn học đều có một vaitrò, nhiệm vụ riêng Xác định rõ được sứ mệnh, thiên chức của mình thì nhà vănmới sáng tạo ra những tác phẩm văn học có giá trị Vì vậy, mỗi một tác phẩm rađời là chính là việc anh ta đang thực hành thiên chức đó Để tạo ấn tượng, mởbài này có thể áp dụng cho các dạng đề khác nhau Ví dụ:
Đề bài : Cảm nhận về sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị qua đoạn trích
sau trong “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài):
“Ngày Tết, Mị cũng uống rượu… tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường”(Ngữ văn 12, tập hai, tr 7-8)
Mở bài: “Nhà văn tồn tại ở trên đời trước hết để làm công việc giống như
kẻ nâng giấc cho những con người bị cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường Những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đọa đầy đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời Nhà văn tồn tại ở trên đời để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực” (Nguyễn Minh Châu) Với nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A
Phủ, nhà văn Tô Hoài đã thực hiện trọn vẹn sứ mệnh ấy khi mang đến cho ngườiđọc một hình tượng nghệ thuật với biết bao vẻ đẹp, nhất là sức sống tiềm tàngmãnh liệt mà không thế lực nào có thể dập tắt được Điều đó được thể hiện sâu
sắc qua đoạn văn sau: “Ngày Tết, Mị cũng uống rượu… tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường”.
d Mở bài dẫn dắt từ đặc trưng thể loại
- Dẫn dắt từ đặc trưng truyện ngắn
Giống như các thể loại khác, bên cạnh việc mang những đặc trưng chungcủa văn học, đặc trưng chung của văn xuôi, truyện ngắn còn mang những đặctrưng riêng Nó khác với tiểu thuyết, tùy bút, phóng sự…, càng có điểm khác so