1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) một số biện pháp hướng dẫn học sinh đọc hiểu thơ hai cư trong chương trình ngữ văn lớp 10

22 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp hướng dẫn học sinh đọc hiểu thơ hai cư trong chương trình Ngữ văn lớp 10
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường THPT Chuyên Lam Sơn
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 154 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù chỉ chiếm một tỉ lệkhiêm nhường 2 tiết cho chương trình Ngữ văn 10 nâng cao, 1 tiết đọc thêmcho chương trình Ngữ văn 10 cơ bản nhưng thơ hai-cư luôn được xem là mới và khó so với

Trang 1

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Mặc dù là nước vinh dự có tiểu thuyết sớm nhất thế giới (truyện Genji thế

kỉ XI), song nhìn vào lịch sử văn học Nhật Bản, thơ vẫn chiếm vị trí áp đảo cả

về số lượng và chất lượng nghệ thuật Hai-cư- loài hoa đậm hương sắc nhất củavườn hoa thơ ca xứ sở Phù Tang, từ giữa thế kỉ XX đã vượt ra biên giới đấtnước và trở thành tài sản chung cho nhân loại Hình thức thơ hai-cư tuy ko cầu

kì, trau chuốt nhưng lại hàm chứa những nội dung uyên áo, những thiền ý sâu xa

mà hết sức gần gũi, có ý nghĩa với đời sống hiện tại Vừa là quốc hồn, quốc túycủa Nhật Bản, vừa là thể thơ mang tính quốc tế, hai-cư đã vượt qua rào cản vềngôn ngữ, văn hóa và chạm đến vỉa tầng sâu kín nhất trong hồn người

Trong chương trình Ngữ văn 10 phổ thông hiện nay, cùng với sử thi HiLạp, sử thi Ấn Độ, thơ Đường, tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa, thơ hai-cư NhậtBản cũng được lựa chọn để giảng dạy cho học sinh Mặc dù chỉ chiếm một tỉ lệkhiêm nhường (2 tiết cho chương trình Ngữ văn 10 nâng cao, 1 tiết đọc thêmcho chương trình Ngữ văn 10 cơ bản) nhưng thơ hai-cư luôn được xem là mới

và khó so với các mảng văn học nước ngoài khác trong chương trình phổ thông,không chỉ đối với học sinh mà ngay cả đối với giáo viên Thực tế giảng dạy chothấy, đa số các giáo viên, dù đã rất cố gắng tìm hiểu và đổi mới phương phápgiảng dạy nhưng vẫn có cảm giác chưa chạm được vào hồn cốt của thơ hai-cư,vẫn chưa lột tả hết được cái hay, cái đẹp, những tầng nghĩa sâu xa của những bàithơ dù ngắn nhỏ nhưng chứa đựng “ba nghìn thế giới” này Để tiếp cận, giảngdạy tốt phần nội dung này đòi hỏi bản thân người dạy phải có sự đầu tư lớn.Trong khi đó, hiện nay những tài liệu (bằng tiếng Việt) liên quan đến thơ hai-cưvẫn còn rất hạn chế

Đó là những lí do thúc đẩy chúng tôi mạnh dạn chia sẻ với đồng nghiệp

một số biện pháp hướng dẫn học sinh đọc hiểu thơ hai-cư trong chương trình Ngữ văn lớp 10.

1.2 Mục đích của đề tài

Viết sáng kiến kinh nghiệm này, chúng tôi mong muốn đưa ra được một

số biện pháp giúp học sinh đọc hiểu tốt hơn một số bài thơ hai-cư trong chươngtrình Ngữ văn 10, đồng thời có kĩ năng cảm thụ tốt các bài thơ hai-cư ngoàichương trình sách giáo khoa

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là những bài thơ

hai-cư trong chương trình Ngữ văn 10 (gồm cả sách giáo khoa cơ bản và sáchnâng cao) Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi có mở rộng một số bàihai-cư ngoài chương trình để làm rõ thêm cho luận điểm cần bàn luận

Trang 2

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tổng thể thơ hai-cư là một việc làm đòi hỏi

nhiều thời gian và công sức Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ tập trungđưa ra một số biện pháp hướng dẫn học sinh đọc hiểu thơ hai-cư trong chươngtrình Ngữ văn lớp 10, từ đó giúp các em có kĩ năng đọc mở rộng những bài thơhai-cư ngoài chương trình

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Sáng kiến được thực hiện dựa trên các phương pháp nghiên cứu chính sauđây:

- Thu thập thông tin, thống kê

2.1.1 Khái niệm đọc hiểu

Đọc là một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu vàchữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và sửdụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe Hiểu làphát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ýnghĩa của mối quan hệ đó Hiểu còn là sự bao quát hết nội dung và có thể vậndụng vào đời sống

Đọc, hiểu được chia thành các cấp độ sau: Đọc tái hiện, đọc giải thích,đọc sáng tạo, đọc đánh giá, đọc nghiên cứu, đọc suy ngẫm và liên tưởng Cácphương pháp đọc hiểu văn bản bao gồm: Đọc lướt, đọc tập trung, đọc hồi cố,

đọc nhấn mạnh, đọc diễn cảm

Trang 3

Điều kiện đầu tiên để có thể tiến hành đọc hiểu là văn bản, tài liệu, sáchcông cụ, tri thức Ngoài ra còn phụ thuộc vào ý thức của người đọc Người đọc

là người tiếp nhận văn bản Không có người đọc, văn bản chỉ còn tồn tại ở khíacạnh vật thể Bởi vậy, người đọc cần có ý thức rõ ràng là đọc thực dụng hay đọcthưởng thức

2.1.2 Việc đọc hiểu tác phẩm văn học ở trường THPT

Đọc hiểu là khái niệm bao trùm các nội dung quan trọng trong quá trìnhdạy văn ở trường THPT Nó là một khái niệm khoa học chỉ mức độ cao nhất củahoạt động học Việc đọc hiểu tác phẩm văn học không chỉ đơn giản là vấn đềgiải mã ngôn ngữ mà còn là đọc “toàn tâm, toàn ý, toàn hồn”, đọc bằng tất cảcon người bên trong mình Xét về góc độ ấy, vấn đề đọc hiểu tác phẩm văn họcđối với học sinh bao giờ cũng mới mẻ và đầy tính khám phá, là khâu đột phátrong phương pháp dạy văn hiện nay ở trường THPT

Những bài đọc hiểu văn bản văn học trong chương trình THPT thể hiệnrất rõ mối quan hệ hai chiều giữa giáo viên và học sinh Nhưng thực tế, một sốgiờ học đọc hiểu tác phẩm hiện nay ở trường THPT thực chất là do giáo viênđọc hộ, hiểu hộ học sinh Học sinh là người tiếp nhận thông tin, người đơn thuầnghi nhớ Đọc tác phẩm trong chương trình thường tuân thủ theo quy tắc địnhhướng (định hướng bằng cách cảm thụ của giáo viên, bằng những tài liệu có sẵn,theo các mục đích giáo dục cụ thể của bậc học, đặc trưng môn học,…)

2.2 Thực trạng giảng dạy thơ hai-cư ở trường THPT hiện nay

Hai-cư là một thể thơ độc đáo, có giá trị nội dung và nghệ thuật cao, làthành quả tiêu biểu cho thơ ca Nhật Bản, thể hiện những đặc trưng triết lí vànghệ thuật phương Đông Tuy nhiên, việc lĩnh hội những tầng nghĩa sâu xa củathể loại nghệ thuật "ẩn tàng trong cái vẻ không nghệ thuật" này luôn là điều khó

khăn đối với cả người dạy và người học

Hiện nay, thực trạng dạy, học thơ hai-cư trong nhà trường THPT còn một

số bất cập sau đây:

2.2.1 Về văn bản thơ

Trong chương trình sách giáo khoa hiện nay, thơ hai-cư được đưa vào cả

hai bộ sách: Bộ sách cơ bản (SCB: bài Thơ hai-cư của Ba-sô do Đoàn Lê Giang soạn đưa ra 8 bài thơ hai-cư của Ba-sô Bộ sách nâng cao (SNC): bài Thơ hai-

cư do Lưu Đức Trung soạn, đưa ra 6 bài hai- cư, trong đó có 3 bài của Ba-sô, ba

bài của Bu-sôn Các bài trong SCB đều được dịch từ tiếng Nhật cổ qua sự chúgiải của các học giả Nhật, có tham chiếu với các bản đã được dịch ra tiếng Việt

để tránh những chỗ sai lầm và non yếu của các bản dịch ấy Các bài của SNCđều được dịch từ tiếng Anh hoặc tiếng Hoa, không phải từ tiếng Nhật nên rất

Trang 4

khó đảm bảo chính xác về cách hiểu, cách dịch Thơ hai-cư vốn rất kiệm lời,mỗi bài chỉ có mấy từ, âm điệu rất đặc biệt, cho nên việc dịch từ ngôn ngữ trunggian không phải nguyên tác rất dễ sai lệch với nguyên nghĩa Đa số giáo viênphổ thông không biết tiếng Nhật cổ nên không thể tiếp cận trực tiếp với nguyênbản, nhằm thẩm thấu tốt hơn nội dung, ý nghĩa của bài thơ Dịch là phản, dịch làdiệt, rào cản ngôn ngữ khiến cả giáo viên và học sinh càng thêm phần khó khănkhi tiếp cận tác phẩm văn học nước ngoài nói chung, thơ hai-cư nói riêng.

2.2.2 Về phía giáo viên

Thơ hai-cư là thể thơ cô đúc, khó hiểu, thậm chí khá xa lạ với truyềnthống thưởng thức thơ ca của người Việt Muốn hiểu thơ hai-cư, không chỉ cần

có khả năng cảm thụ thơ ca mà trước hết phải có kiến thức nền về văn hóa, vănhọc Nhật Bản, phải có hiểu biết nhất định về Thiền tông và mỹ học Thiền Trongkhi đó nhiều giáo viên chưa từng được học văn học Nhật Bản ở đại học, nhiềungười không tìm được các giáo trình, sách nghiên cứu về văn học Nhật Bản,nhất là ở vùng sâu vùng xa Cho nên người dạy đã hiểu và bình giảng thơ hai- cưbằng những kiến thức nhiều khi không hoàn toàn chính xác

2.2.3 Về phía học sinh

Các em khó cảm nhận được cái hay cái đẹp của những bài thơ hai-cư, bởikhoảng cách không gian, thời gian, cảm thức thức thẩm mĩ, cách tư duy Họcsinh quen với nhịp sống nhanh, hiện đại, thiên về tư duy duy lí, cụ thể, rõ ràng.Trong khi đó, thơ hai-cư lại thiên về sự hàm súc, mơ hồ, trực cảm Học sinh cảmthấy lạ lẫm đối với thể thơ này cả về hình thức lẫn cảm thức thẩm mĩ Từ chỗkhó tiếp thu, cảm nhận, học sinh dễ nản chí, bỏ cuộc khi học mảng thơ này

2.2.4 Về cách thi cử

Việc dạy và học văn hiện nay khá thực dụng, giáo dục không cốt ở chỗphát triển trí tuệ, nhân cách con người mà chỉ nhằm phục vụ cho các kì thi Họcsinh học văn không còn nhiều hứng thú đam mê mà theo tiêu chí thực dụng hơn,thi gì học nấy Việc ra đề thi tốt nghiệp THPT chỉ khoanh vùng vào một số tácphẩm văn học Việt Nam trong sách giáo khoa Thực tế thi cử ấy khiến nhiềuthầy cô và học sinh cũng lẳng lặng, chủ động loại thơ hai- cư ra khỏi chươngtrình dạy và học

Những bất cập trên đây khiến cho việc dạy, học thơ hai-cư ở trường phổthông hiện nay khá ảm đạm Người dạy không hiểu hết đặc trưng thể loại thơhai-cư và những vỉa tầng văn hóa, thẩm mĩ lắng kết trong những câu thơ súc tích

ấy, dẫn tới việc dạy "không tới", "không ra" được cái chất riêng của của thơ

hai-cư Người học cũng vì thế mà không cảm nhận được giá trị của những bài thơnày

2.3 Một số biện pháp hướng dẫn học sinh đọc hiểu thơ hai-cư trong chương trình Ngữ văn lớp 10

Trang 5

2.3.1 Trang bị kiến thức nền về văn hóa Nhật Bản

Văn học là sự tự ý thức văn hóa Văn học chẳng những là một bộ phậncủa văn hóa, chịu sự chi phối, ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là mộttrong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa Mặt khác, nhà văn là con đẻcủa một cộng đồng, thuộc về một cộng đồng nhất định, muốn hay không anh tacũng đã tiếp nhận những thành tố văn hóa của cộng đồng mình

Các nhà thơ Nhật Bản khi sáng tác thơ hai-cư cũng không ngoại lệ Họ đãảnh hưởng một cách ý thức và vô thức những giá trị văn hóa truyền thống củacộng đồng, từ mô thức tư duy, đặc trưng thẩm mĩ, đến cách cảm, cách nghĩ, cáchthể hiện Vì vậy, mỗi bài thơ hai-cư luôn là sự thẩm thấu và phô bày những nétđặc trưng nhất trong quan niệm nhân sinh và quan niệm thẩm mĩ của ngườiNhật Để tiếp cận thơ hai-cư, một thể thơ được đánh giá là tinh hoa của văn hóaNhật Bản, người học không thể không có sự hiểu biết nhất định về văn hóa NhậtBản Theo chúng tôi, quan niệm của Phật giáo Thiền tông về sự hòa hợp, tươnggiao, bình đẳng, vô ngã vô thường và cảm thức thẩm mĩ đề cao cái đẹp đơn sơ(wabi), nhẹ nhàng (karumi), tịch lặng (sabi) đã thẩm thấu và thể hiện rõ trongnhững bài thơ hai-cư

2.3.1.1 Tinh thần Thiền tông

Nói đến văn hóa phương Đông không thể không kể đến sự ảnh hưởng, chiphối mạnh mẽ của tư tưởng, tinh thần Thiền tông Nếu ở Trung Quốc, Thiềntông chủ yếu tồn tại ở dạng học thuyết tôn giáo thì ở Nhật Bản, Thiền tông đãthấm sâu vào văn hóa cũng như đời sống con người Riêng trong thơ hai-cư, tinhthần mĩ học Thiền đã ảnh hưởng trên mọi mặt, đặc biệt là chủ đề

Tương giao và hòa hợp là chủ đề thường thấy trong thơ hai-cư Theo

quan niệm của Phật giáo Thiền tông, vạn vật tồn tại trong mối tương giao và hòahợp Mỗi sự vật tồn tại là một giao điểm nối liền những mạch sống cuồn cuộntrải khắp vũ trụ này Chúng ta có thể thấy rõ điều đó trong bài thơ sau đây củaBa-sô

Từ bốn phương trời cánh hoa đào lả tả gợn sóng hồ Bi-oa.

Quê Ba-sô ở tỉnh Shiga, gần hồ Bi-oa nổi tiếng của Nhật Bản Danh thắng hồBi-oa được nhiều người biết đến bởi vẻ đẹp thơ mộng của nó Vào mùa xuân,hoa anh đào trồng ven hồ nở rộ tạo thành những đám mây hoa Mỗi khi gió thổi,những cánh hoa hồng nhạt mong manh rụng xuống mặt hồ Những cánh hoa nhỏ

Trang 6

bé tưởng chừng như chẳng liên quan gì đến mặt nước hồ Bi-oa trong khoảnhkhắc ấy dường như đã làm cho mặt hồ gợn sóng Cánh hoa rơi làm cho mặt hồgợn sóng hay chính sóng nước hồ Bi-oa đã làm cho những cánh hoa rơi rụng?Một hình ảnh đơn sơ nhưng rất nên thơ, bay bổng, thể hiện một triết lí sâu xa,một tư tưởng của Phật giáoThiền tông: vạn vật trong vũ trụ tồn tại trong mốitương giao hòa hợp Chúng luôn tác động và chuyển hóa lẫn nhau trong một chu

trình bí ẩn bất tuyệt

Vô ngã, vô thường cũng là chủ đề xuất hiện trong nhiều bài thơ hai-cư.

Phật giáo Thiền tông cho rằng cái tôi bất biến, tồn tại tạm thời trong thân xácthực chất không hề tồn tại Con người của một phút trước đây đã không phải làcon người của phút này Cuộc đời vô thường, đời người hữu hạn Tất thảy mọisinh linh đều không ngừng biến đổi theo quy luật sinh trụ dị diệt Đó cũng là sựthật được phản ánh trong bài thơ sau đây của Ba-sô:

Mùa thu năm nay sao tôi chóng già thế chim sa ở mây trời.

Vào buổi xế chiều, trên bước đường lưu lạc, nhìn về phương trời xa thấy đànchim rũ cánh về tổ, người lữ khách nhạy cảm không khỏi bâng khuâng về thânphận con người như áng mây ngàn, như cánh chim trời bị cơn gió cuốn đi Ba-sônhận thức chân lí đó để bước vào cuộc sống đầy bất trắc, đầy ba động với nụcười trên môi, để có cái tâm thường nhiên, thường lạc, vững tay lái đưa conthuyền vượt qua những sóng gió vô thường

Bình đẳng: dưới cái nhìn của Phật giáo, mọi vật đều bình đẳng như nhau.

Phật có thể là anh, là tôi, là láng giềng của chúng ta Cái nhìn của Ba-sô trongbài thơ sau đây thấm nhuần thuyết bình đẳng của thiền

Con quạ ô sáng mai trong tuyết đẹp không ngờ.

Ở đây, con quạ và tuyết bình đẳng với nhau tạo nên một bức tranh đẹp khôngngờ Tuyết trắng đẹp nhờ có chú quạ đen làm vật tương phản và ngược lại chúquạ được tôn thêm màu đen mượt mà, óng ả nhờ tuyết trắng làm nền Nhà thơphát hiện ra quy luật tự nhiên của tạo hóa, sự phụ thuộc và bình đẳng với nhaucủa tạo vật, đó chính là chân lí của cuộc sống

2.3.1.2 Cảm thức thẩm mĩ

Trang 7

Ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng, triết lí Thiền tông, cảm thức thẩm mĩ trongthơ hai-cư cũng mang đậm màu sắc Thiền Thơ Haiku thể hiện những cảm thứcthẩm mĩ khác nhau:

Sabi: cảm thức về sự cô tịch, hiu hắt, về cái vắng lặng Đó là niềm tịch

tĩnh mà trong những kinh nghiệm thiền quán, người ta cảm thấy Ví dụ trongmột không gian vắng lặng, tiếng ve như thấm sâu vào đá

Vắng lặng u trầm Thấm sâu vào đá Tiếng ve ngâm (Ba-sô)

Bài thơ được sáng tác trong 1lần Ba-sô viếng thăm chùa Riusakuji Nhà thơ cảmnhận được sự tịch lặng của không gian sơn tự, nghe được mối tương giao bí ẩncủa vạn vật trong vũ trụ Trong yên ắng, tiếng ve chợt vang lên như xé toang cáitịch lặng Tiếng ve đang thấm xuyên vào đá hay nỗi tịch liêu thấm xuyên vàođá? Giữa hai sự vật tưởng chừng như không có mối liên hệ là đá - vật thể hữuhình, cứng, rắn, thô ráp và tiếng ve - âm thanh vô hình trong cảm nhận của Ba-

sô lại có mối tương tác kì diệu, dung chứa lẫn nhau Ta có cảm giác âm thanhcủa tiếng ve cùng với nỗi tịch liêu như làm cho cả đá núi cũng tan ra để rồi tất cảhòa vào nhau tạo thành cái Một Một trong những triết lí của Thiền là tất cả trở

về cái Một Và một tuyệt diệu của nghệ thuật Thiền là Một trong tất cả và tất cảtrong Một Đấy cũng là đặc điểm của vạn vật trong vũ trụ Chúng tồn tại trongmột mối quan hệ mật thiết nhưng lại vô cùng bí ẩn, huyền nhiệm như thế

Wabi: nhận ra cái đẹp ở sự bình dị, thân thuộc, đơn sơ, chất phác Đó là

những cảm nhận lắng đọng về những thứ nhỏ nhoi, mong manh như con ốc nhỏ,một chiếc lá rơi, một giọt sương mai

Ví dụ

Dọc theo đường núi ngọt ngào và duyên dáng sao đóa hoa tím nở

(Ba-sô)Cảnh vật trong bài thơ rất đơn sơ, thanh đạm: dọc theo con đường nhỏ ven núi,một bông hoa cỏ tím khiêm nhường nở Hình ảnh chỉ có vậy thôi nhưng đã làtâm điểm thu hút sự chú ý của thi sĩ bởi theo quan niệm của người Nhật: “chính

sự giản phác trong hình ảnh sẽ làm nên vẻ đẹp tự nhiên cho bài thơ” Bông hoa

cỏ dại màu tím nở trong bài thơ trên của Ba-sô mang vẻ đẹp tự nhiên như vậy

Karumi: sự nhẹ nhàng, thanh thoát, phong thái ung dung tự tại Ví dụ:

Trang 8

Trên chuông chùa một con bướm đậu nghiêng mình ngủ mơ

(Ba-sô)

2.3.2 Trang bị kiến thức về đặc trưng thể loại

Thơ hai-cư Nhật Bản có những đặc trưng riêng về nội dung và hình thức

so với các thể thơ khác trên thế giới, đặc biệt là thơ Việt Nam Việc nắm rõ đặctrưng đối tượng sẽ giúp ta tìm ra cách tiếp cận hợp lí, không sa vào suy diễn,bình tán không có căn cứ Trong quá trình dạy đọc hiểu thơ hai- cư cho học sinh,chúng tôi thường hướng dẫn các em nắm vững những nét đặc trưng sau về nộidung, nghệ thuật, từ đó soi vào từng bài cụ thể để có thể cảm nhận đúng và hay

2.3.2.1 Đề tài thơ

Thơ hai-cư điển hình cho thứ văn chương luôn nâng niu những sự vậtbình thường của cuộc đời trần gian, thể hiện rõ đặc trưng thơ là sự cất lời củalòng hiếu sinh Đề tài chủ yếu trong thơ hai-cư là thiên nhiên Đó thường lànhững cảnh vật bình dị, những con vật nhỏ bé và dễ bị lãng quên như chú ếch,con quạ, con khỉ, chim đỗ quyên, tiếng ve, đóa hoa dại nở bên bờ suối, hòn đá,một dây thường xuân, chú chim sẻ Theo nhà phê bình Nhật Chiêu: "Thơ hai-

cư không hoành tráng, thênh thang như đại lộ thơ của nhiều xứ khác, khônggiông tố sấm sét, cũng ko lề luật trang trọng như ai Không tiêu đề, không đối,không vần, không cầu kì Thơ ca ấy là lối đi dưới lá Hoặc một cửa động cô tịch.Bạn gọi thì nó sẽ thưa, sẽ mở khi có tri âm "

Ví dụ:

Cầu treo vực thẳm đời quanh dây thừng quấn quýt những nhánh thường xuân tươi

(Ba-sô)Trong chuyến du hành miên viễn, Ba-sô cùng người học trò của mình mộthôm du hành qua núi Kiso Bên trái là hẻm núi, dưới sâu là dòng nước cuồncuộn chảy xiết Họ dò từng bước qua một cây cầu làm bằng dây thừng Chínhtrong hành trình này, nhà thơ đã phát hiện và trân trọng sự sống vốn rất nhỏnhoi: những nhánh thường xuân tươi Hình ảnh "nhánh thường xuân tươi" quấnquanh cây cầu làm bằng dây thừng vừa thể hiện sự bất diệt, vừa thể hiện sự giaohòa, quấn quýt, đồng thời phát hiện ra một chân lý: sự sống có thể hiện ra ngay

Trang 9

cả ở những nơi gắn liền với hệ lụy và sự chết như dòng sông cuộn xiết, cầu trevực thẳm.

Qua việc chọn đề tài nhỏ, các thi sĩ thể hiện tình yêu với thiên nhiên, quaylưng lại với những giá trị mà người đời hằng theo đuổi như quyền lực, của cải,danh vọng Từ đó cũng góp phần thể hiện một đặc điểm nổi bật của văn chương

Nhật là duy tình, nơi cái đẹp được thánh hóa và niềm đau được thanh tẩy, là văn

chương của tình cảm và thiên nhiên, người nghệ sĩ luôn có sự nhạy cảm, rungđộng trước những biến chuyển tế vi của vạn vật

2.3.2.2 Hình ảnh thơ

Do các nhà hai-cư thuần túy ghi lại khoảnh khắc hiện hữu của đời sống

nên hình ảnh trong thơ hai-cư thuộc về khoảnh khắc thực tại chợt hiện ra trước mắt nhà thơ, không phải là hình ảnh quá khứ trong kí ức hay hình ảnh

tương lai trong mộng tưởng Đó là hình ảnh gắn liền với khoảnh khắc con ếchnhảy vào ao, cánh bướm đang ngủ mơ trên chuông chùa, con ốc nhỏ đang trèođỉnh Fuji, giọt sương đang tan trên lá Haiku chứng minh được điều đặc biệt

mà chỉ ngôn ngữ thi ca mới làm được, nó nắm bắt một khoảnh khắc của hiện tại,được nhìn ra, được sáng tạo và được thuần khiết hóa Vì những khoảnh khắcđược chưng cất và lưu lại ấy trong hình thức tinh giản của ngôn từ mà thơ caluôn cần cho chúng ta Đặc điểm này của thơ hai-cư thể hiện rõ sự chi phối củaThiền Thiền vốn coi giây phút thực tại là thứ tài sản quý giá nhất, là sự sốngthực sự nơi mỗi con người Bởi vì chúng ta không thể sống lại một phút của quákhứ, cũng chẳng sống trước dù một phút của tương lai Nếu chúng ta xao lãnggiây phút sống thực tại, có thể ta sẽ bỏ lỡ bao điều Chỉ sống với khoảnh khắcthực tại, chúng ta mới thực sự sống và hòa nhập vào dòng sinh hóa triền miêncủa vũ trụ bằng toàn bộ sinh lực của mình

Ngoài ra, hình ảnh trong thơ hai-cư thường tự nhiên, gần gũi, bình dị, đơn sơ và mang tính hiện thực Các nhà thơ hai-cư không miêu tả những hình

ảnh hùng vĩ, tráng lệ mà đặt điểm nhìn vào những hình ảnh bình dị, đơn sơ,những con vật nhỏ bé Chẳng hạn ở biển là vỏ sò, vỏ ốc; ở cánh đồng là chim sẻ,chim chiền chiện, bướm, dế, đom đóm; trên núi có hoa mơ, hoa mận, hoa diên

vĩ, hoa dại tím

Ví dụ:

Trên cổng bụi cây Nằm thay cho ổ khóa Con ốc nhỏ này

(Issa)

Trang 10

Bài thơ thể hiện sự nhận thức, phát hiện về sự sống qua một hình ảnh nhỏ bé,bình dị: con ốc bám vào cánh cổng Qua đó nhà thơ thể hiện sự trân trọng cuộcsống từ những điều đơn sơ, bình dị nhất Hình ảnh con ốc được đặt trong tươngquan với ổ khóa Nếu ổ khóa khơi gợi người đọc cảm nhận về một hành động

"nhân vi", thể hiện sự tác động trực tiếp, áp đặt, thậm chí có thể đầy tính thô bạo

từ con người thì hình ảnh con ốc nhẹ nhàng bám vào cánh cổng đúng vào vị trí ổkhóa lại thể hiện một hành động tự nhiên Thay cho ổ khóa phiền tạp và đầy ápđặt là cái tự nhiên nhi nhiên của thiên nhiên, là sự giao cảm của vạn vật với thếgiới của con người Chính sự giao cảm tự nhiên này dẫn tới sự tương thông mà

sự tương thông hài hòa giữa con người và tự nhiên là một biểu hiện của đức hiếusinh, cũng là một chủ đề thường được nói đến trong thơ hai-cư

bỏ ngỏ Và đó chính là sự tinh giản của tâm hồn"

Ví dụ:

Ôi đóa nazuna đôi mắt tôi nhìn thấy bên hàng giậu nở hoa.

(Ba-sô)

Bài thơ thuần túy kể lại sự việc nhà thơ nhìn thấy một loài hoa dại mọc venđường, không ai để ý Không có những từ miêu tả cụ thể loài hoa ấy Nhữngbông hoa bên vệ đường mà ta thường quên lãng lại lôi cuốn tâm hồn thanh caonhư Ba-sô Và ta có thể tưởng tượng bông hoa ấy là tặng vật của tình yêu, là kếttinh của đất trời, dù đơn sơ và khiêm nhường vẫn rạng ngời vinh quang của sángtạo, vẫn huyền diệu một làn hương bí ẩn, thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của thi sĩ, mộttâm hồn luôn nâng niu từng sự vật nhỏ bé, bình thường

Trong bài thơ hai-cư bao giờ cũng có kigo (quý ngữ, tức là từ chỉ mùa).

Có loại quý ngữ trực tiếp là tên mùa như haru (mùa xuân), natsu (mùa hạ), aki(mùa thu), fuyu (mùa đông) có loại quý ngữ gián tiếp là hình ảnh tiêu biểu chomùa, chẳng hạn: quý ngữ chỉ mùa xuân là anh đào, hoa mơ, liễu xanh, chimoanh, chim yến quý ngữ chỉ mùa hạ là hoa diên vĩ, chim quyên, ve sầu, mặttrời; quý ngữ chỉ mùa thu là trăng, hoa đinh hương, hoa cúc, lá phong, dế, gióthu, sương, quạ, quý ngữ chỉ mùa đông là tuyết, cánh đồng hoang, thông, tùng

Trang 11

2.3.2.4 Kết cấu thơ

Đặc điểm lớn nhất của kết cấu thơ hai-cư là hư không Hư không là thuậtngữ của Thiền Tông, chỉ cảnh giới tịch lặng trong tâm hành giả lúc nhập định,một cái tâm trong sáng, không tạp niệm, do đó có khả năng tri kiến sáng suốt

Hư không cũng là lí tưởng thẩm mĩ của nghệ thuật Nhật Bản nói chung và thơhai-cư nói riêng Thơ hai-cư chủ trương im lặng, hai-cư trống rỗng chứ khôngđầy Nó có nhiều khoảng trống, dành chỗ cho người đọc tự làm đầy bằng cảmthức đốn ngộ (sự bừng hiểu), khả năng đồng sáng tạo Nói cách khác, nhữngkhoảng hư không không phải trống rỗng tuyệt đối, ngược lại, tiềm tàng rất nhiều

ý nghĩa mà người đọc, với kinh nghiệm, tưởng tượng, tri kiến khác nhau sẽ cónhững cảm nghiệm khác nhau Theo nhà phê bình Chu Văn Sơn: "Thơ Hai-cưđược ví như những viên sỏi gieo xuống mặt nước Nhưng nó ko phải phép cộngthô sơ của những viên sỏi ngôn từ và những quầng sóng dư ba Tinh vi hơn, thơHai-cư phải là cái khoảnh khắc những viên sỏi chạm vào mặt nước, xô dậynhững vòng sóng, làm loang xa những viền sóng"[365]

Ví dụ:

Quán bên đường các du nữ ngủ trăng và đinh hương

(Ba-sô)Khi Ba-sô làm chuyến lữ hành trên con đường đi lên miền Oku, ông tình cờ gặphai người du nữ trong một quán trọ Sau khi nghe các cô thổ lộ những mảnh đời

cơ cực, ông đã sáng tác bài thơ này Hình thức bài thơ thật giản dị, tác giả chỉgọi đúng tên, lần lượt các hình ảnh, sự vật, không trau chuốt, gọt giũa, khôngdiễn giải lòng vòng Các hình ảnh đặt cạnh nhau rất rời rạc, không liên quan gìvới nhau trên bề mặt, tạo nên khoảng trống Người đọc phải dùng kinh nghiệm,kiến thức, trí tưởng tượng để kết nối chúng lại Bằng kinh nghiệm, chúng ta biết

du nữ là những người bị coi là ngụp lặn dưới đáy sâu cuộc đời Trăng và hoa tửđinh hương tượng trưng cho sự cao sang, thanh quý Bằng thủ pháp liệt kê, Ba-

sô đã nâng niu, trân trọng các cô du nữ vốn bị đời khinh rẻ lên địa vị tôn quýcùng với trăng, sao, hoa cỏ Trong cảm quan khoáng đạt của nhà thơ lãng du,không có sự vật nào bản tính đích thực là hèn mọn, xấu xa, thậm chí cả những

cô kĩ nữ Khi ngủ họ trở về với con người đích thực của mình, với bản tínhnguyên sơ, tìm thấy sự bằng an trong tâm hồn Họ như hòa làm một với đất trời,với trăng sao, hoa cỏ Họ đã được siêu việt hóa để đạt tới tầm cao của thi ca.Qua đó người đọc thấy được niềm cảm thông của nhà thơ đối với các du nữ,thấy được cách nhìn cuộc đời và con người của Ba-sô cũng như của các nhà thơhai-cư khác: phát hiện ra sự bình đẳng của vạn vật với nhau và trân trọng sựsống dù là nhỏ nhất

Ngày đăng: 05/06/2022, 10:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Lê Bảo, Giải mã văn học từ mã văn hóa, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải mã văn học từ mã văn hóa
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia HàNội
2. Nhật Chiêu, Nhật Bản trong chiếc gương soi, NXB Giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản trong chiếc gương soi
Nhà XB: NXB Giáo dục
8. Nguyễn Thị Mai Liên, Đặc điểm thơ hai-cư Nhật Bản , Viện nghiên cứu Đông Bắc Á, số 2, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm thơ hai-cư Nhật Bản
9. Chu Văn Sơn, Đa mang một nỗi lòng không yên định, NXB Hội nhà văn, 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa mang một nỗi lòng không yên định
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
10. Trần Đăng Suyền, Phương pháp nghiên cứu và phân tích tác phẩm văn học, NXB Giáo dục, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu và phân tích tác phẩm vănhọc
Nhà XB: NXB Giáo dục
11. Nguyễn Phương Khánh, Nhật Bản từ mỹ học đến văn chương, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản từ mỹ học đến văn chương
Nhà XB: NXB Đạihọc Quốc gia Hà Nội
7. Nguyễn Thị Thanh Hương, Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w