1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) Hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ trống để nâng cao khả năng ghi nhớ kiến thức, phần địa lí tự nhiên Việt Nam lớp 12 cơ bản ở Trường trung học phổ thông Lê Lợi

24 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 5,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT LÊ LỢI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TRỐNG ĐỂ NÂNG CAO KHẢ NĂNG GHI NHỚ KIẾN THỨC, PHẦN ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN VIỆT NAM

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT LÊ LỢI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

HƯỚNG DẪN HỌC SINH SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TRỐNG ĐỂ NÂNG CAO KHẢ NĂNG GHI NHỚ KIẾN THỨC, PHẦN ĐỊA

LÍ TỰ NHIÊN VIỆT NAM LỚP 12 – CƠ BẢN

Ở TRƯỜNG THPT LÊ LỢI

Người thực hiện: Phạm Thị Hồng Nhung Chức vụ: Giáo viên

SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Địa lý

THANH HOÁ NĂM 2022

Trang 2

2 Vai trò của bản đồ trong dạy học Địa lí. 5

3 Tác dụng của việc hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ cho học

1.3 Sử dụng bản đồ trống để củng cố kiến thức một phần hoặc cả bài

học, tổng hợp kiến thức 1 chương hoặc nhiều bài học.

14

1.4 Sử dụng bản đồ trống để tìm ra các mối quan hệ trong địa lí. 15

21

Trang 3

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Một trong những trọng tâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoagiáo dục phổ thông là tập trung đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạy họcdựa vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh với sự tổ chức vàhướng dẫn thích hợp của giáo viên nhằm phát huy tư duy độc lập, sáng tạo gópphần hình thành phương pháp và nhu cầu, khả năng tự học, bồi dưỡng hứng thúhọc tập, tạo niềm tin và niềm vui trong học tập

Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là chính là tích cựchóa hoạt động học tập của học sinh Tích cực hóa hoạt động học tập của họcsinh là quá trình làm cho người học trở thành chủ thể tích cực trong hoạt độnghọc tập của chính họ Để phát huy tính tích cực của học sinh, giáo viên cần đểhọc sinh suy nghĩ nhiều hơn, làm việc thảo luận nhiều hơn, được phát biểu quanđiểm của mình, được đưa ra những nhận xét về vấn đề đang bàn luận đượctham gia vào quá trình học tập chiếm lĩnh kiến thức

Đổi mới phương pháp giáo dục đã được nêu rõ trong Nghị quyết Trung

Ương 2 (khóa VIII): “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc

phục lỗi truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào trong quá trình dạy học đảm bảo điều kiện và thời gian tự học tự nghiên cứu cho học sinh…”

Trong khoản 1 điều 28 Luật giáo dục cũng quy định: “Phương pháp giáo

dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp ở với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh.”

Nghị quyết số 40/2000 QH10, ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội

khóa 10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định: “Việc đổi

mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học quy định trong Luật giáo dục; khắc phục những hạn chế của chương trình sách giáo khoa, tăng cường tính thực tiễn, kỹ năng thực hành, năng lực tự học; coi trọng kiến thức khoa học

xã hội và nhân văn bổ sung những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh… Đổi mới nội dung chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học, tổ chức đánh giá thi cử, chuẩn hóa trường

sở đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và công tác quản lý giáo dục.”

Từ định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, buộc giáo viênphải áp dụng các phương pháp dạy học tích cực Việc rèn luyện phương pháphọc tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học màcòn là mục tiêu dạy học Hiện nay một trong những phương pháp dạy học tíchcực là phương pháp dạy học bằng bản đồ trống

Trang 4

Việc sử dụng bản đồ trống giúp giáo viên và học sinh đổi mới phươngpháp dạy học, giúp học sinh học tập tích cực, đó chính là một trong những cáchlàm tiếp tục triển khai nội dung dạy học học có hiệu quả một trong năm nộidung của phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực

mà Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động

Xuất phát từ lý do đó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài : “Hướng dẫn học

sinh sử dụng bản đồ trống để nâng cao khả năng ghi nhớ kiến thức, phần địa

lí tự nhiên Việt Nam lớp 12 – cơ bản ở Trường trung học phổ thông Lê Lợi”

2 Mục đích nghiên cứu:

Qua việc nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn trong quá trình dạyhọc, việc hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ trống để ghi chép kiến thức trong

một số bài Địa lí tự nhiên 12 thì cùng một lúc sẽ đạt được hai mục tiêu: một là

vừa hình thành cho học sinh cách ghi chép kiến thức mới bằng hình ảnh, đồngthời vừa rèn luyện kĩ năng bản đồ cho học sinh Việc vận dụng bản đồ trốngtrong dạy học sẽ dần dần hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc hiểu biết vấn

đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống khoa học Sử dụngbản đồ trống kết hợp với phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp, gợi

mở, thuyết trình có tính khả thi cao góp phần đổi mới phương pháp dạy học

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu :

Trong khuân khổ bài viết này, vì điều kiện thời gian (Vừa công tác vừanghiên cứu) và do năng lực bản thân còn hạn chế; nên tôi chỉ mạnh dạn nêu lên

vấn đề: “Hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ trống để nâng cao khả năng ghi

nhớ kiến thức, phần địa lí tự nhiên Việt Nam lớp 12 – cơ bản ở Trường trung học phổ thông Lê Lợi” với thiết tha mong muốn, tìm cho mình những kinh

nghiệm nhỏ để cùng đồng nghiệp nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lí ởtrường THPT Lê Lợi

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong đề tài này tôi sử dụng tổng hợp các phương pháp dạy học Địa lí cảtruyền thống và hiện đại như phương pháp bản đồ, phương pháp đàm thoại gợi

mở, phương pháp vấn đáp, phương pháp sơ đồ tư duy…nhằm phát huy tối đakhả năng hướng dẫn học sinh ghi chép kiến thức lên bản đồ trống, giúp học sinhnâng cao khả năng ghi nhớ và vận dụng các kiến thức Địa lí ở phần Địa lí tựnhiên Việt Nam – lớp 12

B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Trang 5

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Đặc điểm môn Địa lý.

Khoa học địa lý là hệ thống khái niệm được xây dựng như một cơ cấu trênnền tảng kiến thức địa lý Môn học địa lý trong nhà trường lấy khoa học địa lýlàm cơ sở Khoa học giáo dục biến khoa học địa lý thành môn học địa lý trongnhà trường và biến tri thức môn học ấy thành nền tảng kiến thức địa lý của họcsinh Môn học địa lý trong nhà trường là hệ thống khái niệm Bài học là một quátrình thầy tổ chức trò hoạt động để lĩnh hội một khái niệm và kỹ năng, kỹ xảotương ứng với nó, trong một thời gian xác định, ở một trình độ phát triển nhấtđịnh.[1]

Môn Địa Lý và môn bản đồ học cùng sinh ra trong “một cái nôi Địa Lýhọc thời cổ đại” do Eratophen đặt tên Trải qua quá trình phát triển, hai mônkhoa học này dần dần tách khỏi nhau thành hai ngành khoa học riêng, có đốitượng nghiên cứu rõ ràng và phương pháp nghiên cứu cụ thể Nhưng càng pháttriển để chúng càng gắn bó với nhau như hình với bóng, thể hiện rõ nhất trongcác tác phẩm khoa học địa lý Không có công trình khoa học địa lý nào lạikhông nghiên cứu từ bản đồ và không thể hiện.[2]

Như vậy bản chất của khoa học địa lý là khoa học vấn với không gian vớibản đồ và các mối quan hệ giữa các sự vật Địa lý với nhau để giúp học sinh hìnhthành và xác lập các mối quan hệ gián tiếp trực tiếp xúc cảm này Trước hếttrong quá trình giảng dạy giáo viên phải giúp học sinh hiểu được các đặc điểmthuộc của các sự vật hiện tượng địa lý Thứ hai, trong khi học tập địa lý Gặp cácmối quan hệ gián tiếp từ giáo viên yêu cầu học sinh đặt câu hỏi và Dựa vào bản

đồ để giải thích và tìm ra các mối quan hệ nằm khác nằm trong mối quan hệphức tạp đó.[3]

Trên nền tảng những kiến thức cơ bản và phương pháp giáo dục đề caohoạt động chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh, chương trình môn Địa lígiúp học sinh hình thành, phát triển năng lực địa lí - một biểu hiện của năng lựckhoa học; đồng thời góp phần cùng các môn học và hoạt động giáo dục khácphát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung đã được hìnhthành trong giai đoạn giáo dục cơ bản, đặc biệt là tình yêu quê hương, đất nước;thái độ ứng xử đúng đắn với môi trường tự nhiên, xã hội; khả năng định hướngnghề nghiệp; để hình thành nhân cách công dân, sẵn sàng đóng góp vào sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.[4]

Yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung ở môn Địa lí đã góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được quy định tại Chương trình tổng thể.[5]

Môn Địa lí là môn học có khối lượng kiến thức cần học sinh ghi nhớ rấtnhiều, cần có kỹ năng khai thác cả kênh hình và kênh chữ, do đó để hình thànhcho các em tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn

đề một cách tổng thể, khoa học chứ không phải là học vẹt, học thuộc lòng, họcsinh hiểu bài, nhớ lâu, vận dụng tốt thì cần phải vận dụng bản đồ trống trong dạyhọc Hơn nữa, khối lượng kiến thức này càng tăng theo cấp số nhân, vì vậy việc

sử dụng bản đồ trống rèn cho các em kỹ năng khả năng tư duy logic để có thể

Trang 6

vận dụng vào cuộc sống và công việc sau này khi các em lớn lên và trưởngthành.

2 Vai trò của bản đồ trong dạy học Địa lí.

Bản đồ là một phương tiện trực quan, một nguồn tri thức địa lí quan trọng.Qua bản đồ, học sinh có thể nhìn một cách bao quát những khu vực lãnh thổrộng lớn, những vùng lãnh thổ xa xôi trên bề mặt trái đất mà họ chưa bao giờ cóđiều kiện đi đến tận nơi để quan sát.[6]

Về mặt kiến thức, bản đồ có khả năng phản ánh sự phân bố và mối quan

hệ của các đối tượng địa lí trên bề mặt trái đất một cách cụ thể mà không mộtphương tiện nào khác có thể làm được Những kí hiệu, màu sắc, cách biểu hiệntrên bản đồ là những nội dung địa lí đã được mã hóa, trở thành một thứ ngônngữ đặc biệt - ngôn ngữ bản đồ.[7]

Về phương pháp, bản đồ được coi là phương tiện trực quan giúp cho họcsinh khai thác, củng cố tri thức và phát triển tư duy trong quá trình học địa lí

Để khai thác được những tri thức trên bản đồ, trước hết học sinh phải hiểu bản

đồ, đọc được bản đồ, nghĩa là phải nắm được những kiến thức lí thuyết về bản

đồ, trên cơ sở đó có được những kĩ năng làm việc với bản đồ.[8]

Vì vậy, việc hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ trong học tập Địa lí chohọc sinh là một nhiệm vụ quan trọng đối với giáo viên Địa lí

3 Tác dụng của việc hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ cho học sinh.

Khi học sinh có kĩ năng sử dụng bản đồ thì họ có thể tái tạo được hìnhảnh các lãnh thổ nghiên cứu với những đặc điểm cơ bản của chúng mà khôngphải nghiên cứu trực tiếp ngoài thực địa Làm việc với bản đồ, học sinh sẽ rènluyện được kĩ năng sử dụng bản đồ không chỉ trong học tập, nghiên cứu mà còntrong cuộc sống, đặc biệt đối với lĩnh vực quân sự, trong các ngành kinh tế khácnhau.Khi phân tích nội dung các bản đồ rồi đối chiếu so sánh chúng với nhau,học sinh sẽ phát triển được tư duy logic, biết thiết lập mối liên hệ giữa các đốitượng địa lí, nhất là các mối liên hệ nhân quả giữa chúng [9]

4 Bản đồ trống.

Bản đồ trống còn gọi là bản đồ công tua hay bản đồ trống Trên bản đồnày thường chỉ có lưỡi bản đồ, đường ranh giới các lãnh thổ, mạng lưới thủyvăn, các tuyến đường giao thông và các điểm dân cư quan trọng, trên bản đồkhông ghi địa danh

Sử dụng bản đồ trống (khung bản đồ Việt Nam) để ghi chép kiến thức làhình thức ghi chép sử dụng từ ngữ, màu sắc, hình ảnh theo ý hiểu của mỗi họcsinh để ghi nhớ, mở rộng và đào sâu các ý tưởng, bản đồ trống lúc này trở thànhcông cụ hỗ trợ nối các hình ảnh, các trang bản đồ có liên quan với nhau vì thế cóthể vận dụng bản đồ trống vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thứcsau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương Vì thế, sử dụngbản đồ trống để nâng cao khả năng ghi nhớ kiến thức là một công cụ tổ chức tưduy nền tảng có thể miêu tả nó là một kỹ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từngữ, hình ảnh đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năngcủa bộ não giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não

II THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ.

Trang 7

Rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện phápnâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học Thực tế cho thấy một sốhọc sinh rất chăm chỉ nhưng vẫn còn học kém, nhất là môn Địa lý nói riêng vàmôn khoa học xã hội nói chung, các em này thường học bài học biết bài đấy,học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau,không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào các phần sau Phần lớn sốhọc sinh này khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết tự cách ghi chép

để lưu trữ thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình Sử dụngthành thạo bản đồ trống trong dạy học, học sinh sẽ học được phương pháp học,tăng tính độc lập chủ động sáng tạo và phát triển tư duy

Việc học sinh tự ghi chép kiến thức lên bản đồ trống là một phương phápgiúp học sinh học tập một cách tích cực Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộnão của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suynghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình Vì vậy, việc sử dụng bản đồ trốnggiúp học sinh học tập một cách tích cực huy động tối đa tiềm năng của bộ não.Việc học sinh tự ghi chép kiến thức lên bản đồ trống có ưu điểm là phát huy tối

đa tính sáng tạo của học sinh, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của họcsinh, các em tự chọn màu sắc (xanh, đỏ, tím, vàng ) cỡ chữ, loại chữ (to, nhỏ,đậm, nhạt, chữ in, chữ thường ) các em tự "sáng tác" nên mỗi bản đồ trốnghoàn thành sẽ thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng học sinhnên các em sẽ yêu quý trân trọng tác phẩm của mình

Do đặc điểm của việc học sinh tự ghi chép kiến thức lên bản đồ trống làhọc sinh phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp bố cục để ghi thông tin cầnthiết nhất và logic nhất Vì vậy việc sử dụng bản đồ trống sẽ giúp học sinh dầndần hình thành cách ghi chép có hiệu quả Dạy học bằng bản đồ trống là mộtphương pháp dạy học hiệu quả trong quá trình dạy học Đặc biệt phương phápnày đã góp phần đổi mới cách thức tổ chức dạy học của giáo viên Đồng thờigóp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh phù hợp với các mục tiêu đổimới phương pháp dạy học: học dạy học theo hướng hoạt động học tập chủ độngchống lại thói quen học tập thụ động Điều quan trọng là khi sử dụng phươngpháp này đã hình thành cho học sinh một số năng lực như năng lực sáng tạo,năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề… màyêu cầu đổi đổi mới dạy học và kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lựccủa học sinh đang hướng tới

1 Ưu điểm:

Sử dụng bản đồ trống (khung bản đồ Việt Nam) để ghi chép kiến thức có

ưu điểm: Dễ nhìn, dễ viết (vì học sinh thể hiện nội dung mình nắm được theocách hiểu của mình) Kích thích hứng thú học tập và khả năng sáng tạo của họcsinh Phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não Rèn luyện cách xác định chủ

đề và phát triển ý chính ý phụ một cách logic Việc học sinh tự vẽ bản đồ trống

có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo của học sinh

Theo cách dạy học trước đây thì chỉ có một giác quan duy nhất được huyđộng đó là tai nghe Truyền thụ kiến thức theo hình thức cũ này chỉ thông qualời nói, còn các giác quan khác chưa được sử dụng cho việc tiếp thu các bàigiảng Phần lớn tiềm năng tiếp thu học tập chưa được phát huy, có thể thấy rằng:

Trang 8

chỉ nghe thì lưu trữ được 20%, ghi chép tiếp thu được 30%, song nếu kết hợp cảhai thì tác dụng tăng lên đáng kể Trực quan hóa trợ giúp cho thuyết trình là tăngmức độ nhớ đến 50% Chỉ riêng điều đó thôi cũng nói lên sự đòi hỏi phải ápdụng các phương tiện nghe nhìn vào dàn dựng bài giảng.[10]

Như vậy phương tiện trực quan, mà bản đồ trống là trợ thủ đắc lực giúpgiáo viên thực hiện tốt nguyên tắc thống nhất giữa tính cụ thể và trừu tượngtrong quá trình dạy học, đây là nguồn gốc sâu xa mà nhận thức luận của chủnghĩa Mác - Lênin đã khẳng định Sử dụng bản đồ trống phát huy tối đa tiềmnăng của não bộ, việc vận dụng bản đồ trống trong dạy học sẽ dần dần hìnhthành cho học sinh tư duy mạch lạc hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cáchnhìn vấn đề một cách hệ thống khoa học Sử dụng bản đồ trống kết hợp vớiphương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp, gợi mở, thuyết trình có tínhkhả thi cao góp phần đổi mới phương pháp dạy học.[11]

2 Nhược điểm:

Đối với những nội dung kiến thức có dung lượng lớn, dài và khó thì việc

vẽ bản đồ trống gây mất rất nhiều thời gian do phải lựa chọn hình ảnh và từ ngữ.Bên cạnh đó việc phân phối thời gian và điều tiết bài giảng không hợp lý có thểgây giảm hiệu quả bài giảng vì học sinh sa đà vào việc vẽ và trang trí bản đồtrống mà không tập trung vào hoàn thiện kiến thức

III BIỆN PHÁP THỰC HIỆN.

1 Biện pháp thực hiện.

Dùng bản đồ trống có thể hiện một lượng thông tin từ nhỏ đến lớn và rấtlớn Tương tự giáo viên và học sinh có thể thể hiện một phần nội dung bài họchoặc nhiều bài học, một chương kiến thức Tùy theo mục đích sử dụng có thểthiết kế bản đồ trống trong giờ học thông thường, trong giờ kiểm tra, giờ thựchành, ôn tập, tổng kết lại hệ thống một chương, một phần kiến thức Trong phạm

vi đề tài này, tôi chỉ sử dụng bản đồ trống để nâng cao khả năng ghi nhớ của họcsinh ở phần Địa lí tự nhiên Việt Nam – ban cơ bản trong chương trình Địa Lí 12THPT

1.1 Sử dụng bản đồ trống trong ghi chép nội dung kiến thức mới.

Trước đây trong khi giảng bài mới các đơn vị kiến thức được chúng tôitrình bày lên bảng theo một thứ tự của các phần bài học (như I.1.a và các gạchđầu dòng) hoặc bằng sơ đồ mũi tên Sử dụng bản đồ trống là một gợi ý cho cáctrình bày mới mà tôi đã thay việc làm việc trên bảng bằng việc vận dụng bản đồtrống để thể hiện một phần hoặc toàn bộ nội dung bài học một cách trực quanmục tiêu bài học được cô đọng Khi ghi chép kiến thức lên bản đồ trống cho mộtđơn vị kiến thức hay một bài học mới các em sẽ phải xác định được phạm vi củalãnh thổ, của từng khu vực địa hình, có tầm nhìn khái quát cho một bài học cũngnhư từng phần của bài học trước khi đi đến từng chi tiết, điều đó sẽ khác hẳn vớiviệc các em ghi bài học trong vở ghi theo lời giảng truyền thống (Trong quátrình hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ để ghi chép kiến thức đôi khi tôi chỉyêu cầu học sinh sử dụng khung bản đồ việt Nam như hình 1 để có nhiều chỗtrống ghi kiến thức hơn)

Trang 9

Cụ thể tôi đã làm như sau: Trước tiên tôi hướng dẫn học sinh xác định nộidung kiến thức toàn bộ bài, từng phần trong quá trình giảng, sau đó có thể sửdụng bản đồ tự nhiên Việt Nam treo tường hoặc bản đồ trong sách giáo khoa,tập Atlat Việt Nam hướng dẫn học sinh xác định phạm vi cụ thể phần lãnh thổ,

để khu vực với các nội dung ghi chép phù hợp lên bản đồ trống theo tiến trìnhhình thành kiến thức mới, dùng phần mềm Power Point hướng dẫn từng bưicscách ghi kiến thức lên bản đồ trống Đồng thời tôi sử dụng kết hợp với phươngpháp trực quan: thảo luận nhóm, gợi mở, vấn đáp để giúp học sinh tự khámphá kiến thức mới Học sinh có thể dùng các màu khác nhau (màu xanh thể hiệncho đồng bằng, màu đỏ cho khu vực núi, màu vàng cho khu vực đồi trung du vàbán bình nguyên…), loại chữ, cỡ chữ khác nhau (chữ hoa để ghi tên khu vực,chữ thường ghi phần kiến thức…), các kí hiệu khác của học sinh để thể hiệnphần kiến thức mà học sinh nắm được lên bản đồ trống Như vậy, trong giờ họchọc sinh vừa nghe thầy cô giảng bài vừa ghi chép các kiến thức vào bản đồtrống Sự phối hợp nhịp nhàng giữa thầy và trò trong quá trình sử dụng bản đồtrống ở trên lớp là phương pháp hình thành biểu tượng và khái niệm cho họcsinh một cách tích cực

Sau khi học sinh hoàn thiện được bản đồ trống này tôi thấy rằng học sinh

là người chủ động tìm ra các kiến thức mới có gắn liền với sự liên hệ thực tế, từ

đó các em có thể hiểu và ghi nhớ sâu sắc kiến thức bài học Với cách học này cảgiáo viên và học sinh đều phải tham gia vào quá trình dạy học tích cực hơn.Giáo viên vừa giảng bài, vừa tổ chức cho học sinh khai thác kiến thức, vừa hoànthành bản đồ trống Học sinh được nghe giảng, nhìn bản đồ sách giáo khoa, trảlời câu hỏi, ghi chép sự tập trung chú ý được phát huy cao độ, cường độ họctập theo đó cũng được đẩy nhanh, học sinh chú ý học tập tích cực Thông quacách học này học sinh đã ghi nhớ khắc sâu kiến thức Từ đó hình thành cho họcsinh các năng lực: năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sửdụng ngôn ngữ trong tiết học Địa lý

Trang 10

2 Phạm vi lãnh thổ:

Trước hết tôi cho học sinh biết phạm vi lãnh thổ Việt Nam là một khốithống nhất và toàn vẹn bao gồm vùng đất, vùng biển và vùng trời và trên bản đồthì tôi sẽ yêu cầu học sinh ghi được các nội dung sau lên bản đồ trống bằng cácmàu mực cũng như cỡ chữ khác nhau cho từng vùng: Vùng đất gồm các nộidung là diện tích (đất liền và các hải đảo), chiều dài đường biên giới trên đất liền(tổng chiều dài và dọc theo đường biên giới của các nước ghi cụ thể với TrungQuốc là bao nhiêu, với Lào là bao nhiêu và với Campuchia là bao nhiêu), chiềudài đường bờ biển (tổng chiều dài, có bao nhiêu tỉnh, thành giáp biển) và cácđảo quần đảo lớn quan trọng Về vùng biển thì tôi sẽ yêu cầu học sinh ghi têncác các quốc gia ven biển Đông, sau đó thì ở phần này chia thành 5 bộ phận gồmnội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềmlục địa (ghi nội dung kiến thức của từng vùng) Vùng trời tôi yêu cầu học sinhxác định phạm vi vùng trời là khoảng không gian bao trùm lên toàn bộ lãnh thổnước ta và trên đất liền được xác định bằng đường biên giới còn trên biển làranh giới bên ngoài của lãnh hải và bao gồm các không gian của các đảo

 6°50’B

Trang 11

Bài 6,7: Đất nước nhiều đồi núi:

1 Đặc điểm chung của địa hình:

Phần này gồm 4 nội dung nên tôi hướng dẫn học sinh chia bản đồ trốngthành 4 phần và hướng dẫn học sinh quan sát Hình 6 Địa hình (sách giáo khoatrang 31) hoặc atlat trang 6-7 (Hình thể), dựa vào màu sắc của phân tầng địahình và các yếu tố khác trình bày vào bản đồ trống các nội dung sau:

- Địa hình chiếm phần lớn diện tích nhưng chủ yếu là đồi núi thấp: đồi núichiếm ¾ diện tích lãnh thổ, đồng bằng chiếm ¼ diện tích Địa hình đồng bằng vàđồi núi thấp dưới 1000m chiếm 85% diện tích, núi cao trên 2000m chỉ chiếm1% diện tích cả nước.[12] Ở nội dung này trên bản đồ trống học sinh có thể ghitrực tiếp lên 2 khu vực địa hình (đồng bằng và đồi núi) các nội dung chính

- Cấu trúc địa hình khá đa dạng: gồm 2 nội dung nhỏ, một là địa hình cócấu trúc cổ được vận động Tân kiến tạo làm trẻ lại, tạo nên sự phân bậc rõ rệttheo độ cao, thấp dần từ tây bắc xuống đông nam và phân hoá đa dạng; hai làcấu trúc địa hình gồm 2 hướng chính là tây bắc - đông nam và hướng vòng cung.[13] Ở phần này học sinh có thể ghi và vẽ các dẫn chứng thể hiện cấu trúc khá

đa dạng của nước ta lên bản đồ trống từ đó giúp học sinh ghi nhớ tốt hơn, xácđịnh được đặc điểm địa hình của từng khu vực tốt hơn

Trang 12

2 Các khu vực địa hình:

Tôi đã yêu cầu học sinh quan sát Hình 6 Địa hình (sách giáo khoa trang 31)hoặc atlat trang 6-7 (Hình thể) và tôi hướng dẫn học sinh dựa vào màu sắc trênphân tầng địa hình xác định được địa hình Việt Nam gồm hai khu vực lớn là khuvực đồi núi và khu vực đồng bằng Khu vực đồi núi thì có thể chia thành hai khuvực địa hình: một là khu vực địa hình núi và hai là khu vực địa hình bán bìnhnguyên và đồi trung du Trong đó, phần khu vực địa hình núi thì chia thành 4vùng là vùng Đông Bắc Tây Bắc Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Nam Cònkhu vực đồng bằng cũng được chia 2 loại: một là đồng bằng châu thổ và hai làđồng bằng ven biển Phần đồng bằng châu thổ lại gồm 2 đồng bằng là đồng bằngsông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Sau đó tôi hướng dẫn học sinh vị tríphạm vi của từng khu vực sau đó vạch trên bản đồ trống và yêu cầu học sinh ghinhững phần kiến thức cơ bản nhất vào từng khu vực cụ thể đã được xác định

Bài 8: Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển:

Ở bài này có thể dùng bản đồ trống hoặc sử dụng sơ đồ tư duy để ghi kiếnthức với các nội dung sau: Khái quát về biển Đông (diện tích, đặc điểm: kín,nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa) và ảnh hưởng của biển Đông đến thiênnhiên Việt Nam (khí hậu, địa hình và các hệ sinh thái vùng ven biển, tài nguyênthiên nhiên vùng biển và thiên tai)

Ngày đăng: 05/06/2022, 10:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3. Tác dụng của việc hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ cho học sinh. - (SKKN 2022) Hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ trống để nâng cao khả năng ghi nhớ kiến thức, phần địa lí tự nhiên Việt Nam lớp 12  cơ bản ở Trường trung học phổ thông Lê Lợi
3. Tác dụng của việc hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ cho học sinh (Trang 2)
1. Đặc điểm chung của địa hình: - (SKKN 2022) Hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ trống để nâng cao khả năng ghi nhớ kiến thức, phần địa lí tự nhiên Việt Nam lớp 12  cơ bản ở Trường trung học phổ thông Lê Lợi
1. Đặc điểm chung của địa hình: (Trang 11)
2. Các khu vực địa hình: - (SKKN 2022) Hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ trống để nâng cao khả năng ghi nhớ kiến thức, phần địa lí tự nhiên Việt Nam lớp 12  cơ bản ở Trường trung học phổ thông Lê Lợi
2. Các khu vực địa hình: (Trang 12)
Câu 3. Hướng nghiêng chung của địa hình nước ta - (SKKN 2022) Hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ trống để nâng cao khả năng ghi nhớ kiến thức, phần địa lí tự nhiên Việt Nam lớp 12  cơ bản ở Trường trung học phổ thông Lê Lợi
u 3. Hướng nghiêng chung của địa hình nước ta (Trang 19)
- Hiện nay tình hình kinh tế - xã hội trong nước và thế giới không ngừng biến động. Bởi vậy để giúp cho bài giảng tăng tính hiệu quả, ngoài các thông tin, số liệu sách giáo khoa, Atlat Địa Lí Việt Nam thì bản thân mỗi giáo viên chúng ta cũng cần tìm thêm  - (SKKN 2022) Hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ trống để nâng cao khả năng ghi nhớ kiến thức, phần địa lí tự nhiên Việt Nam lớp 12  cơ bản ở Trường trung học phổ thông Lê Lợi
i ện nay tình hình kinh tế - xã hội trong nước và thế giới không ngừng biến động. Bởi vậy để giúp cho bài giảng tăng tính hiệu quả, ngoài các thông tin, số liệu sách giáo khoa, Atlat Địa Lí Việt Nam thì bản thân mỗi giáo viên chúng ta cũng cần tìm thêm (Trang 21)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w