1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) Kinh nghiệm thiết kế và xây dựng bài tập hóa học liên hệ với thực tế phần đại cương và vô cơ nhằm nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường THPT

17 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 158 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây cũng là một yêu cầu quan trọng trong việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy hóa học nhằm tăng tính thực tiễn của môn học.. Dựa vào các nội dung đó, tôi tuyển chọn và xây dựng thành

Trang 1

1.Mở đầu

1.1 Lí do chọn đề tài.

Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, gắn liền với sự phát triển khoa học kĩ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ cuộc sống Vì vậy, trong dạy hóa học, sẽ hấp dẫn và thiết thực hơn khi giáo viên biết khai thác các nội dung hóa học để xây dựng các bài tập theo hướng liên hệ thực tế với cuộc sống Đây cũng là một yêu cầu quan trọng trong việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy hóa học nhằm tăng tính thực tiễn của môn học Trong phạm vi chương trình hóa học phổ thông chúng ta có thể khai thác một số nội dung sau trong việc xây dựng bài tập hóa học:

- Hóa học đại cương

- Chuyên đề phi kim

- Chuyên đề đại cương kim loại

- Hóa học với nghành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp

Tôi lựa chọn và triển khai đề tài “Kinh nghiệm thiết kế và xây dựng bài tập hóa học liên hệ với thực tế phần đại cương và vô cơ nhằm nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường THPT” Nhằm thông qua các bài tập

hóa học có nội dung liên hệ với thực tế cuộc sống phát triển năng lực vận dụng

kiến thức hóa học vào thực tiễn đời sống, học tập, lao động, sản xuất và những

hiện tượng hóa học thường gặp hằng ngày Dựa vào các nội dung đó, tôi tuyển chọn và xây dựng thành một số dạng bài tập để phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh trong dạy học hóa học cho học sinh lớp THPT tại trường THPT Quảng Xương 4

1.2 Mục đích nghiên cứu

1.2.1 Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học

Xuất phát từ nhu cầu chung của xã hội cũng như sự phát triển mạnh mẽ của nhiều lĩnh vực trên thế giới như khoa học kĩ thuật, công nghệ thông tin… Đòi hỏi mỗi quốc gia phải có nguồn nhân lực tốt, năng động, sáng tạo Từ thực

tế đó, giáo dục Việt Nam cũng từng bước đổi mới về phương pháp dạy học nhằm phát huy tính chủ động, tính tích cực, sáng tạo cho học sinh từ đó góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển của đất nước Với quan điểm trên, các phương pháp dạy học đang được hoàn thiện và đổi mới theo hướng dạy học tích cực

1.2.2 Những xu hướng dạy học hóa học hiện nay

- Tăng cường tính tích cực, tính tìm tòi sáng tạo ở người học, tiềm năng trí tuệ nói riêng và nhân cách nói chung thích ứng năng động với thực tiễn luôn đổi mới

- Tăng cường năng lực vận dụng trí thức đã học vào cưộc sống, sản xuất luôn biến đổi

- Chuyển dần trọng tâm phương pháp dạy học từ tính chất thông báo, tái hiện đại trà chung cho cả lớp sang tính chất phân hóa- cá thể cao độ tiến lên theo nhịp độ cá nhân

- Liên kết nhiều phương pháp dạy học riêng lẻ thành tổ hợp các phương pháp phức hợp

Trang 2

- Liên kết phương pháp dạy học với các phương tiện kĩ thuật dạy học hiện đại tạo ra tổ hợp phương pháp dạy học có dùng kĩ thuật

- Chuyển hóa phương pháp khoa học thành phương pháp dạy học đặc thù của môn học

- Đa dạng hóa các phương pháp dạy học phù hợp với các cấp học, bậc học, các loại hình trường học và môn học

1.3 Đối tượng nghiên cứu

-Đề tài này được xây dựng trên kiến thức hóa học được áp dụng cho học sinh khối 10,11 tại trường THPT Quảng Xương 4 Việc giải thích các hiện tượng hóa học các em còn hạn chế Trong đề tài này tôi xây dựng các bài tập vận dụng thực tiễn vào từng phần kiến thức của các bài dạy trong chương trình 10,11 với mong muốn giúp các em lĩnh hội kiến thức của bộ môn hóa học một cách hứng thú và say mê hơn

- Khi nghiên cứu đề tài tôi tham gia dạy các lớp lớp10T2,10T4,,12T2,12C2 trường THPT Quảng Xương 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

Nắm vững phân phối chương trình và phương pháp dạy của từng bài học đối với các khối lớp, nghiên cứ kĩ đối tượng học sinh từng lớp về khẳ năng tư duy, nhận thức, khẳ năng rèn luyện, thái độ, tình cảm của các em đối với môn học để người giáo viên lựa chọn bài tập thực tiễn đặt vào vị trí nào của bài giảng

để đạt hiệu quả cao đó là vấn đề đòi hỏi người giáo viên cần phải nghiên cứu Các bước vận dụng bài tập thực tiễn :Đối với mổi kiểu bài lên lớp ,mổi bài học cụ thể cho phép vận dụng bài tập thực tiễn khác nhau Người giáo viên có thể vận dụng theo các hình thức sau :

- Đưa bài tập thực tiễn làm tình huống đặt vấn đề vào bài mới

- Đưa bài tập thực tiễn vào nội dung bài học ,tiết ôn tập có tính liên hệ thực tế cao giải thích các hiện tượng bắt gặp thường xuyên trong thực tế

Trao đổi ,trò chuyện với đồng nghiệp , học sinh trong quá trình nghiên cứu

1.5.Những điểm mới trong sáng kiến kinh nghiệm.

- Sử dụng bài tập hóa học có nội dung liên hệ thực tế nhằm lôi cuốn học sinh tham gia tích cực vào bài học

- Giúp học sinh hiểu các hiện tượng thực tế vận dụng các kiến thức đó vào đời sống và sản suất

.

Trang 3

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Môn hóa học trong trường trung học phổ thông giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển trí dục của học sinh Mục đích của môn học

là giúp cho học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao cho học sinh những tri thức, hiểu biết về thế giới, con người thông qua các bài học, các bài thực hành của hóa học Học hóa học không những để làm các bài tập tính toán, nhận biết, viết phương trình hóa học của các phản ứng mà học hóa học còn để biết được những ứng dụng phong phú và thiết thực của hóa học vào cuộc sống

Để đạt được mục đích dạy học hóa học ở trường phổ thông, thì người giáo viên dạy hóa học là nhân tố tham gia quyết định chất lượng Do vậy, ngoài những hiểu biết về hóa học, người giáo viên hóa học còn phải có phương pháp truyền thụ gây hứng thú khi lĩnh hội kiến thức hóa học của học sinh Đó là vấn

đề cần quan tâm và nghiên cứu nghiêm túc Trong sáng kiến kinh nghiệm này

tôi đã đề cập đến một khía cạnh “ Kinh nghiệm thiết kế và xây dựng bài tập hóa học liên hệ với thực tế phần đại cương và vô cơ nhằm nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường THPT ” với mục đích góp phần làm sao cho

học sinh học hóa học dễ hiểu, thiết thực, gần gũi với đời sống và lôi cuốn học sinh khi học, để hóa học không còn mang tính đặc thù khó hiểu

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Thực tế giảng dạy cho thấy rằng môn hóa học trong trường phổ thông là một trong những môn học khó, nếu không có phương pháp hợp lí phù hợp với các đối tượng học sinh thì học sinh trở nên thụ động trong việc tiếp thu kiến thức

từ đó chất lượng học tập của học sinh giảm sút Phương pháp dạy học đã và đang thực sự là yếu tố quyết định đến hiệu quả giờ dạy Một trong những yếu tố

để đạt giờ dạy có hiệu quả và tiến bộ là phải phát huy tính thực tế, giáo dục về môi trường, về tư tưởng đạo đức, tính triết lí khoa học Tuy nhiên, mỗi tiết học

có thể không nhất thiết hội tụ tất cả những quan điểm trên, đừng quá lạm dụng khi lượng kiến thức không đồng nhất

Nhiều giáo viên chưa quan tâm đúng mức đến các đối tượng giáo dục, chưa đặt ra cho mình nhiệm vụ và trách nhiệm nghiên cứu, hiện tượng dùng đồng loạt cùng một cách dạy của một bài giảng cho nhiều lớp là không ít Do phương pháp ít tiến bộ mà người giáo viên trở thành người độc thoại, truyền thụ kiến thức xuôi chiều Giáo viên nên là người hướng dẫn học sinh chủ động trong quá trình lĩnh hội tri thức hóa học

Nghiên cứu xây dựng các bài tập hóa học có nội dung liên hệ với thực tế cuộc sống nhằm củng cố lòng tin của học sinh vào khoa học, biết yêu cuộc sống

và khao khát học tập để chiếm lĩnh tri thức khoa học để phục vụ quê hương, đất nước

2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

2.3.1 Một số nguyên tắc khi xây dựng bài tập thực tiễn.

a Nội dung bài tập thực tiễn phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, tính hiện đại.

Trang 4

Trong một bài tập hoá học thực tiễn, bên cạnh nội dung hoá học nó còn có những dữ liệu thực tiễn Những dữ liệu đó cần phải được đưa vào một cách chính xác không tuỳ tiện thay đổi nhằm mục đích dễ tính toán được.Ví dụ: Bể

mạ đồng – xianua thường có nồng độ CN- = 5 – 10 g/l ( khoảng 0,19 – 0,39M), nước thải sau khi mạ có nồng độ CN- = 58 – 290 mg/l (khoảng 0,0022- 0,011M) Không vì số bé khó tính mà ta có thể tuỳ tiện cho nồng độ ion xianua trong nước thải nên tới 0,2M được Làm như thế là phi thực tế, không chính xác khoa học Hoặc theo thông tin về hoá học thì hàm lượng flo có trong nước có ảnh hưởng đến chất lượng, vẻ đẹp của hàm răng Nhưng hàm lượng đó là bao nhiêu? Có phải càng nhiều thì càng tốt không? Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì hàm lượng flo trong nước tối ưu trong khoảng 1,5 mg/lít Nếu ít hơn thì phải cho thêm vào, nếu nhiều hơn thì phải khử bớt đi không sẽ làm hỏng men răng

Trong một số bài tập về sản xuất hoá học nên đưa vào các dây chuyền công nghệ đang được sử dụng ở Việt Nam hoặc trên thế giới, không nên đưa các công nghệ đã quá cũ và lạc hậu hiện không dùng hoặc ít dùng

b Bài tập thực tiễn phải gần gũi với kinh nghiệm của học sinh.

Những vấn đề thực tiễn có liên quan đến hoá học thì rất nhiều, rất rộng Nếu bài tập hoá học thực tiễn có nội dung về những vấn đề gần gũi với kinh nghiệm, với đời sống và môi trường xung quanh học sinh thì sẽ tạo cho họ động cơ và hứng thú mạnh mẽ khi giải Ví dụ: Đối với học sinh sống ở vùng nông thôn khi gặp bài tập có nội dung nói về cách bảo quản và sử dụng phân bón hoá học thì sẽ thấy quen thuộc hơn vì các em đã và đang tham gia thực hiện công việc này, các

em sẽ làm bài tập với kinh nghiệm của bản thân hoặc tham khảo ý kiến của ông

bà, bố mẹ và rất muốn biết những kinh nghiệm đó có hoàn toàn đúng hay chưa dưới góc độ của khoa học hoá học

Ví dụ: Theo em, thời điểm nào là thích hợp nhất để bón đạm Ure cho lúa? Vì sao? 1.Buổi sáng sớm sương còn đọng trên lá lúa

2.Buổi trưa nắng

3.Buổi chiều tối mặt trời vừa lặn.

Học sinh với kinh nghiệm có được trong quá trình tham gia sản xuất và kiến thức hoá học đã có sẽ lựa chọn phương án trả lời, giải thích sự lựa chọn của mình Học sinh sẽ có sự háo hức chờ đợi thầy cô đưa ra đáp án đúng để khẳng định mình Trong bài tập này khi học sinh giải sẽ có một số khả năng xảy ra như sau:

- Học sinh lựa chọn và giải thích đúng Đây sẽ là niềm vui rất lớn đối với học sinh vì kinh nghiệm của mình rất đúng theo khoa học hoá học

- Học sinh lựa chọn phương án đúng nhưng không giải thích được hoặc giải thích chưa đúng

- Học sinh lựa chọn và giải thích chưa đúng

Trong khả năng 2, 3 học sinh sẽ cảm thấy tiếc nuối vì mình đã gần tìm ra câu trả lời từ đó có động lực để quan sát thực tiễn và vận dụng kiến thức hoá học một cách linh hoạt hơn để giải thích thực tiễn hoặc thay đổi việc làm theo thói quen chưa đúng khoa học của mình vì những kinh nghiệm đúng thường có gắn với sự chính xác khoa học

Trang 5

c Dựa vào nội dung học tập.

Các bài tập thực tiễn cần có nội dung sát với chương trình mà học sinh được học Nếu bài tập thực tiễn có nội dung hoàn toàn mới về kiến thức hoá học thì sẽ không tạo được động lực cho học sinh để giải bài tập đó

d Phải đảm bảo logic sư phạm.

Các tình huống thực tiễn thường phức tạp hơn những kiến thức hoá học phổ thông trong chương trình nên khi xây dựng bài tập thực tiễn cho học sinh phổ thông cần phải có bước xử lí sư phạm để làm đơn giản tình huống thực tiễn Các yêu cầu giải bài tập thực tiễn cũng phải phù hợp với trình độ, khả năng của học sinh

e Bài tập thực tiễn phải có tính hệ thống, logic.

Các bài tập thực tiễn trong chương trình cần phải sắp xếp theo chương, bài, theo mức độ phát triển của học sinh Trong mỗi chương, bài nên có tất cả các loại, dạng bài tập thực tiễn

Trong quá trình dạy học, thông qua kiểm tra, đánh giá, cần phải xây dựng những bài tập thực tiễn ở mức độ vừa và cao hơn một chút so với mức độ nhận thức của học sinh để nâng dần trình độ, khả năng nhận thức của học sinh

Biến hoá nội dung bài tập thực tiễn theo tiếp cận mođun Xây dựng một số bài tập thực tiễn điển hình (xây dựng theo tiếp cận mođun) và từ đó có thể lắp ráp chúng vào các tình huống thực tiễn cụ thể, nội dung bài học cụ thể, hoặc tháo gỡ bài toán phức tạp thành những bài toán đơn giản, tạo ra những bài tập mới

g Nội dung bài tập thực tiễn phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, tính hiện đại.

Trong một bài tập hoá học thực tiễn, bên cạnh nội dung hoá học nó còn có những dữ liệu thực tiễn Những dữ liệu đó cần phải được đưa vào một cách chính xác không tuỳ tiện thay đổi nhằm mục đích dễ tính toán được.Ví dụ: Bể

mạ đồng – xianua thường có nồng độ CN- = 5 – 10 g/l ( khoảng 0,19 – 0,39M), nước thải sau khi mạ có nồng độ CN- = 58 – 290 mg/l (khoảng 0,0022- 0,011M) Không vì số bé khó tính mà ta có thể tuỳ tiện cho nồng độ ion xianua trong nước thải nên tới 0,2M được Làm như thế là phi thực tế, không chính xác khoa học Hoặc theo thông tin về hoá học thì hàm lượng flo có trong nước có ảnh hưởng đến chất lượng, vẻ đẹp của hàm răng Nhưng hàm lượng đó là bao nhiêu? Có phải càng nhiều thì càng tốt không? Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì hàm lượng flo trong nước tối ưu trong khoảng 1,5 mg/lít Nếu ít hơn thì phải cho thêm vào, nếu nhiều hơn thì phải khử bớt đi không sẽ làm hỏng men răng

Trong một số bài tập về sản xuất hoá học nên đưa vào các dây chuyền công nghệ đang được sử dụng ở Việt Nam hoặc trên thế giới, không nên đưa các công nghệ đã quá cũ và lạc hậu hiện không dùng hoặc ít dùng

2.3.2 Các bước thiết kế bài tập hoá học thực tiễn.

Bước 1:

- Phân tích mục tiêu của chương, bài để định hướng cho việc thiết kế bài tập

- Nghiên cứu kĩ nội dung các tài liệu giáo khoa, tài liệu tham khảo về nội dung hoá học và các ứng dụng hoá học của các chất trong thực tiễn, tìm hiểu các công nghệ, nhà máy sản xuất có liên quan đến nội dung hoá học của bài

Trang 6

- Nghiên cứu đặc điểm, trình độ nhận thức của học sinh, kinh nghiệm sống của học sinh để thiết kế bài tập thực tiễn cho phù hợp, tạo hứng thú cho học sinh khi giải các bài tập thực tiễn đó

Bước 2:

- Thiết kế bài tập thực tiễn phù hợp với những yêu cầu ở bước 1

- Giải và kiểm tra lại bài tập thực tiễn

Dự kiến các cách giải của từng bài tập, dự kiến các cách giải của học sinh, dự kiến những sai lầm dễ mắc của học sinh trong quá trình giải và đưa ra cách khắc phục

Bước 3: Dự kiến thời điểm và phương pháp sử dụng để đạt hiệu quả cao nhất

Ví dụ minh họa 1: Xây dựng bài tập thực tiễn cho bài “Một số hợp chất quan

trọng của canxi” trong chương trình lớp 12 bậc THPT

Bước 1:

- Mục tiêu của bài: Các hợp chất của canxi không phải là mới đối với học sinh vì vậy mục tiêu của bài này là tìm hiểu các hợp chất này dưới ánh sáng của lí thuyết về cấu tạo chất, sự điện li, thuyết cân bằng hoá học, lí thuyết về phản ứng oxi hoá - khử …Từ đó phải vận dụng những kiến thức đã biết để giải thích những hiện tượng xảy ra trong tự nhiên, trong đời sống, cải tạo thiên nhiên, nâng cao hiệu suất lao động, bài trừ mê tín dị đoan, nâng cao chất lượng cuộc sống…

- Tham khảo tài liệu về các vấn đề thực tiễn có liên quan đến các hợp chất của canxi như : sản xuất vôi, sử dụng vôi trong nông nghiệp, xây dựng, công nghiệp; tài liệu về natri hiđrocacbonat, đá vôi, thạch cao, thạch nhũ trong hang động…

- Các hợp chất của canxi rất quen thuộc đối với học sinh Nhiều học sinh đã từng tham gia sử dụng chúng trong nông nghiệp, xây dựng, thuốc uống, phụ gia thực phẩm…Đối với học sinh vùng nông thôn sẽ rất quen thuộc đối với việc dùng vôi cùng với các loại phân bón hoá học để bón ruộng

Bước 2: Thiết kế bài tập: xây dựng bài tập ở hai mức 3, 4

Ví dụ minh họa 2: Trong các hang động của núi đá vôi nhiều chỗ nhũ đá tạo

thành bức rèm đá lộng lẫy nhiều chỗ lại tạo thành rừng măng đá, có chỗ lại tạo thành các cây cột đá vĩ đại (do nhũ đá và măng đá nối với nhau) trông rất đẹp Bằng sự hiểu biết của mình em hãy giải thích sự tạo thành nhũ đá, măng đá Viết phương trình phản ứng xảy ra nếu có.

Dự kiến cách giải: Trên đỉnh các hang động, núi đá vôi có các kẽ nứt rất nhỏ khiến nước mưa thấm dần xuống kết hợp với đá vôi và khí cacbonic trong không khí tạo thành muối canxi hiđrocacbonat tan chảy xuống:

CaCO3 + CO2 + H2O  Ca(HCO3)2

Một phần muối canxi hiđrocacbonat chuyển lại thành đá vôi, ngày qua ngày tạo thành nhũ đá Một phần muối canxi hiđrocacbonat rơi xuống đất rồi mới chuyển thành đá vôi, qua nhiều ngày tạo thành măng đá

Ca(HCO3)2  CaCO3  + CO2 + H2O

Dự kiến những sai lầm của học sinh :

- Học sinh có thể khó hiểu khái niệm măng đá nên cần có hình ảnh minh họa

- Học sinh viết được phương trình nhưng giải thích có thể không mạch lạc

Trang 7

Giáo viên cần hướng dẫn các em cách trình bày ý nghĩ, lập luận của mình một cách có khoa học Bài tập này nên sử dụng để luyện tập hoặc giao bài về nhà

Ví dụ minh họa 3: Nếu bị bỏng do vôi bột thì người ta sẽ chọn phương án nào

sau đây là tối ưu để sơ cứu ? Giải thích lí do chọn.

1.Rửa sạch vôi bột bằng nước rồi rửa lại bằng dung dịch amoniclorua 10% 2.Lau khô sạch bột rồi rửa bằng dung dịch amoniclorua 10%.

3.Chỉ rửa sạch vôi bột bằng nước rồi lau khô.

4.Lau khô sạch bột rồi rửa bằng nước xà phòng loãng.

Dự kiến cách giải: Phương án số 2 là tối ưu.Vôi bột khi gặp nước sẽ phản ứng toả nhiệt làm cho bỏng càng nặng hơn{CaO + H2O  Ca(OH)2 + Q.}

Vì vậy cần phải lau khô bột trước đã rồi dùng một dung dịch có tính axit trung hoà với Ca(OH)2

Dự kiến sai lầm của học sinh:

- Không nhớ vôi phản ứng với nước sẽ toả nhiệt

- Không biết dung dịch amoniclorua có tính axit yếu

- Không biết nước xà phòng có tính kiềm

Việc lựa chọn nhiều phương án khác nhau sẽ gây tranh cãi giữa tập thể học sinh Khi đó, giáo viên cần phải phân tích đầu bài, sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở để học sinh dần tìm ra lời giải

Để giảm thiểu sai lầm của học sinh khi giải bài tập, người giáo viên cần phải khắc sâu kiến thức cho học sinh trong mỗi bài giảng và không ngừng củng cố lại, hệ thống lại Bài tập này nên đưa vào giờ luyện tập hoặc giao về nhà để học sinh có thời gian suy ngẫm và tranh luận với nhau là thích hợp hơn cả

2.3.3 Hệ thống câu hỏi lý thuyết và bài tập thực tiễn môn hoá học THPT phần hoá học đại cương và vô cơ.

-Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, sử dụng hệ thống câu hỏi lý thuyết và bài tập thực tiễn môn hoá học THPT (phần hoá học đại cương và vô cơ) trong việc dạy của giáo viên cũng như trong việc học của học sinh, trong chương này chúng tôi sắp xếp theo bốn chủ đề: hoá đại cương, phi kim, kim loại, hoá học và các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường

-Trong phần phụ lục, chúng tôi sẽ có gợi ý, hướng dẫn giải một số câu hỏi lí thuyết và bài tập thực tiễn, còn lại là các bài tập tự giải

a Hoá học đại cương.

* Lý thuyết phản ứng.

Câu 1 Viết phân tử nhiệt hoá học của phản ứng phân tích đá vôi, biết rằng để

thu được 11,2 gam vôi ta phải cung cấp một lượng nhiệt là 6,94 Kcal

Câu 2 Giải thích tại sao nhiệt độ của ngọn lửa axetilen cháy trong oxi cao hơn

nhiều so với cháy trong không khí

Câu 3 Khi tiếp thêm củi vào bếp lửa để cho lửa mạnh hơn ta nên:

-Phương án 1: bỏ một thanh củi to vào bếp

-Phương án 2: chẻ mỏng nó ra rồi cho vào bếp

Hãy chọn một trong hai phương án trên và giải thích cho sự lựa chọn đó Từ đó,

có thể kết luận tốc độ phản ứng phụ thuộc yếu tố nào?

Trang 8

Câu 4 Vì sao nguyên liệu cho nung vôi là đá vôi và than đá lại phải đập đến

một kích cỡ thích hợp, không để to quá hoặc nhỏ quá

Câu 5 a.Vì sao để nung gạch, ngói người ta thường xếp gạch, ngói mộc xen lẫn

với các bánh than?

b Khói thoát ra từ lò nung gạch có làm ô nhiễm môi trường không? Vì sao?

Câu 6 Hãy cho biết người ta lợi dụng yếu tố nào để tăng tốc độ phản ứng trong

các trường hợp sau:

a Dùng không khí nén, nóng thổi vào lò cao để đốt cháy than cốc (trong sản xuất gang)

b Nung đá vôi ở nhiệt độ cao để sản xuất vôi sống

c Nghiền nguyên liệu trước khi đưa vào lò nung để sản xuất clanhke (trong sản

xuất xi măng)

b Sự điện li

Câu 1 Nước nguyên chất không dẫn điện

nhưng khi dây điện bị đứt rơi xuống hồ ao,

rãnh nước, người chạm vào nước lại bị giật

Em hãy giải thích tại sao?

Câu 2 Ion Ca2+ cần thiết cho máu hoạt động bình thường Nồng độ ion canxi không bình thường là dấu hiệu của bệnh Để xác định nồng độ ion canxi, người

ta lấy mẫu máu, làm kết tủa ion canxi dưới dạng canxi oxalat (CaC2O4) rồi cho canxi oxalat tác dụng với dung dịch kali pemanganat trong môi trường axit: KMnO4 + CaC2O4 + H2SO4  MnSO4 + CO2 + …

a.Hoàn thành phương trình phản ứng Viết phương trình ion thu gọn

b.Giả sử canxi oxalat kết tủa từ 1,00 ml máu một người tác dụng vừa hết với 2,05 ml dung dịch kali pemanganat 4,88.10-4 mol/lít Hãy biểu diễn nồng độ ion canxi trong máu người đó ra đơn vị mg Ca2+/100ml máu

Câu 3 Axit fomic (HCOOH) có trong nọc kiến, nọc ong, sâu róm Khi bị ong,

kiến đốt hoặc bị chạm vào sâu róm, nếu ngay trước mặt em có các chất sau: a.Vôi tôi

b.Dấm ăn ( dung dịch axit axetic CH3COOH 6%)

c Cồn

d.Nước

Em hãy chọn một trong các chất trên để bôi vào vết ong, kiến đốt cho khỏi sưng tấy và giải thích cách làm của em

Câu 4 Khi bị bỏng do axit người ta thường dùng những chất có tính kiềm như:

nước vôi trong, dung dịch natri hiđrocacbonat loãng, nước xà phòng,kem đánh răng,

nước pha lòng trắng trứng…để trung hoà axit

Nếu bạn của em bị:

a.Bỏng ngoài da do axit đặc bắn vào

b.Uống nhầm dung dịch axit

thì em sẽ cho bạn dùng chất nào trong số các chất

sau đây để sơ cứu một cách có hiệu quả nhất?

1.Dung dịch natri hiđrocacbonat loãng

Trang 9

2.Nước pha lòng trắng trứng.

3.Kem đánh răng

Hãy giải thích vì sao em đã chọn phương pháp đó

Câu 5 Để trung hoà axit phải dùng những chất có tính kiềm Vì vậy:

- Khi bị bỏng ngoài da do axit người ta thường dùng nước vôi loãng, dung dịch natri hiđrocacbonat loãng, nước xà phòng, kem đánh răng để ngâm , rửa hoặc bôi lên vết bỏng

- Nhưng để trung hoà axit do uống nhầm người ta lại thường uống nước vôi loãng hoặc nước pha lòng trắng trứng(có tính kiềm) mà không dùng dung dịch natri hiđrocacbonat

Em hãy giải thích vì sao không dùng dung dịch natri hiđrocacbonat cho trường hợp uống nhầm axit?

c Phi kim.

*Phân nhóm chính nhóm VII - Halogen

Câu 1.Tại sao trong công nghiệp người ta dùng phương pháp điện phân dung

dịch natriclorua bão hoà chứ không dùng phản ứng oxi hoá khử giữa các chất để điều chế clo?

Câu 2 Để diệt chuột ở ngoài đồng người ta có thể cho khí clo qua những ống

mềm vào hang chuột Hai tính chất nào của clo cho phép sử dụng clo như vậy?

Câu 3 Thổi khí clo đi qua dung dịch natricacbonat người ta thấy có khí

cacbonđioxit bay ra Hãy giải thích hiện tượng và viết phương trình phản ứng

Câu 4 Có một ống hình trụ chứa đầy khí clo.Người ta làm thí nghiệm đốt cháy

hidro ở phần trên của ống Sau đó người ta đưa một ngọn nến đang cháy vào ống Nếu đưa ngọn nến từ từ vào ống thì nến tắt ngay ở phần trên của ống Nếu đưa thật nhanh ngọn nến xuống đáy ống thì nến tiếp tục cháy Hãy giải thích các hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm nêu trên và viết các phương trình phản ứng Cho biết chất làm nến là paraffin có công thức C20H42

Câu 5 Trong thí nghiệm ở hình bên người ta dẫn khí clo mới điều chế từ

manganđioxit rắn và dung dịch axit clohiđric đậm đặc vào

ống hình trụ A có đặt một miếng giấy màu

Nếu đóng khoá K thì miếng giấy màu không

mất màu Nếu mở khoá K thì giấy mất màu

Giải thích hiện tượng

Câu 6 Một lượng nhỏ khí clo có thể làm nhiễm bẩn không khí trong phòng thí

nghiệm Để loại bỏ lượng khí clo đó có thể dùng khí amôniac Hãy viết các phương trình phản ứng xảy ra

Câu 7 Tại sao nước clo có tính tẩy màu, sát trùng và khi để lâu lại mất đi những

tính chất này

*Nhóm Oxi- lưu huỳnh

Câu 1 Để diệt chuột trong một nhà kho người ta dùng phương pháp đốt lưu

huỳnh, đóng kín cửa nhà kho lại Chuột hít phải khói sẽ bị sưng yết hầu, co giật,

tê liệt cơ quan hô hấp dẫn đến bị ngạt mà chết

a.Hãy viết phản ứng đốt cháy lưu huỳnh Chất gì đã làm chuột chết?

Trang 10

b.Tính lượng lưu huỳnh cần phải đốt để diệt chuột trong nhà kho có diện tích

160 m2 và có chiều cao 6 mol/lít Biết rằng mỗi một mét khối không gian cần đốt 100 gam lưu huỳnh

Câu 2 Hỗn hợp gồm S, C, KNO3 gọi là thuốc

súng đen có thể dùng làm thuốc pháo

a.Viết các phương trình phản ứng có thể

xảy ra (ít nhất 4 phương trình) khi đốt pháo

b.Một bạn học sinh nói “ Đốt pháo gây nguy

hiểm cho con người và còn làm ô nhiễm môi trường.” Em có đồng ý với quan điểm của bạn đó không? Giải thích?

Câu 3 Khi làm thí nghiệm, do bất cẩn, em bị vài giọt axit sunfuric đặc dây vào

tay Em sẽ xử lí tai nạn này như thế nào một cách có hiệu quả nhất ? Biết rằng trong phòng thí nghiệm có đầy đủ các loại hoá chất

Câu 4 Axit sunfuric đặc là chất có khả năng hấp thụ nước lớn nên được sử dụng

làm khô rất nhiều chất khí ẩm Tuy nhiên, để làm khô hiđrosunfua, người ta lại không dùng axit sunfuric đặc Hãy giải thích và viết các phương trình phản ứng

có thể xảy ra khi cho khí hiđrosunfua đi qua dung dịch axit sunfuric đặc

Câu 5 Khi cho lưu huỳnh đioxit vào nước vôi trong thì thấy nước vôi trong bị

đục, nếu nhỏ tiếp axit clohiđric vào lại thấy nước vôi trong lại Nếu thay axit clohiđric bằng axit sunfuric thì nước vôi có trong lại hay không? Giải thích bằng phương trình phản ứng

Câu 6 Vì sao khi nhỏ axit sunfuric đậm đặc vào đường

ăn (saccarozơ ) thì đường ănbị hoá đen ngay lập tức?

* Nitơ - Photpho.

Câu 1 Một bạn dùng dung dịch amoniclorua để rửa khung xe đạp bị gỉ Gỉ có

hết hay không? Giải thích bằng phương trình phản ứng? Việc làm đó có gây ô nhiễm không khí xung quanh hay không? Giải thích tại sao?

Câu 2 Trong phòng thí nghiệm khi xắp xếp lại hoá chất, một bạn vô ý làm mất

nhãn một lọ chứa dung dịch không màu Bạn đó cho rằng có thể đó là dung dịch amonisunfat Hãy chọn một thuốc thử để kiểm tra xem lọ đó có phải chứa amonisunfat hay không?

Câu 3 Cho dung dịch natri hiđroxit từ từ vào dung dịch nhôm clorua cho tới dư.

Các hiện tượng quan sát được là:

a.Không hiện tượng

b.Có bọt khí thoát ra và có kết tủa

c.Có kết tủa

d.Có kết tủa rồi kết tủa lại tan ra

*Đại cương về kim loại.

Câu 1 Vonfram (W) thường được lựa chọn để chế tạo dây tóc bóng đèn,

nguyên nhân chính là vì:

A Vonfram là kim loại rất dẻo B Vonfram có khả năng dẫn điện rất tốt

C Vonfram là kim loại nhẹ C Vonfram có nhiệt độ nóng chảy cao

Câu 2 Theo em, người xưa đã ứng dụng tính chất vật lí nào của đồng dưới đây:

A Tính dẻo B Có khả năng dẫn nhiệt tốt

Ngày đăng: 05/06/2022, 10:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w