Vấn đề đặt ra ở đây là người giáo viên cần chủ động, sáng tạo lồng ghép, tích hợp giữa việc giảng dạy kiến thức tác phẩm cụ thể với việc rèn luyện kĩ năng làm dạng đề nghị luận về một đo
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Từ câu nghị luận văn học (5,0 điểm) trong cấu trúc đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2015 đến đề thi tham khảo kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2022 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ta nhận thấy: Trong những năm gần đây, dạng đề nghị luận về một đoạn trích thuộc tác phẩm văn học xuất hiện phổ biến trong cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT Yêu cầu của đề gồm có 2 vế hỏi Ở vế hỏi thứ nhất, nếu học sinh không có cái nhìn vừa bao quát, hệ thống toàn bộ tác phẩm, vừa chi tiết, cụ thể cả phương diện nội dung và nghệ thuật của đoạn trích thì bài viết sẽ không thể đảm bảo tính trọng tâm, đủ ý và thuyết phục Muốn vậy, bên cạnh việc nắm vững kiến thức chuyên sâu về tác giả, tác phẩm và được rèn luyện kĩ năng làm dạng đề nghị luận về một đoạn trích thuộc tác phẩm văn học, thì việc học sinh nắm bắt được một cách cơ bản kiến thức lí luận văn học có tác dụng bổ trợ rất tốt cho quá trình diễn đạt, lập luận, tạo nên một bài viết có lập luận chặt chẽ, diễn đạt giàu cảm xúc và hình ảnh, có sức hấp dẫn riêng Vế hỏi thứ hai thực chất là một dạng biểu hiện của kiến thức lí luận văn học ở khía cạnh phong cách sáng tác của tác giả, nội dung tư tưởng hoặc nghệ thuật của tác phẩm, vậy nên việc vận dụng linh hoạt và phù hợp kiến thức lí luận lại càng cần thiết hơn nhằm giúp học sinh xác định đúng yêu cầu của đề và lựa chọn cách thức trình bày đạt hiệu quả tối ưu
Thực tế là một bộ phận không nhỏ học sinh làm câu nghị luận về một đoạn trích thuộc tác phẩm văn học theo kiểu tái hiện kiến thức văn mẫu, học vẹt, học
tủ, nhớ gì viết nấy, lối diễn đạt chặt khúc, hời hợt, khô cứng, nhạt nhòa Cũng có trường hợp học sinh làm bài chỉ theo cảm tính, phiến diện, lan man, thiếu ý Làm thế nào để giúp các em tự tin viết dạng đề này vừa đảm bảo sức thuyết phục, vừa giàu chất văn? Vấn đề đặt ra ở đây là người giáo viên cần chủ động, sáng tạo lồng ghép, tích hợp giữa việc giảng dạy kiến thức tác phẩm cụ thể với việc rèn luyện kĩ năng làm dạng đề nghị luận về một đoạn trích thuộc tác phẩm
đó, chỉ dẫn học sinh cách vận dụng kiến thức lí luận trong bài viết để đạt hiệu quả cao Việc vận dụng này đòi hỏi phải được rèn luyện thường xuyên để trở nên thành thục, diễn ra trong một quá trình chứ không phải là tức thời, một sớm một chiều
Lâu nay, trong quan niệm của nhiều giáo viên và học sinh, kiến thức lí luận văn học mang nội dung khái quát, trừu tượng, thuộc cấp độ khó, chỉ phù hợp với đối tượng học sinh tham gia ôn luyện đội tuyển học sinh giỏi các cấp Đã có nhiều bài viết, sáng kiến tập trung chia sẻ kinh nghiệm hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức lí luận trong bài nghị luận văn học Song, các tác giả chủ yếu hướng tới dạng đề dựa vào trải nghiệm văn học ở một hoặc nhiều tác phẩm để
Trang 2làm sáng tỏ một nhận định lí luận văn học - dạng đề phổ biến trong đề thi học sinh giỏi môn Ngữ văn các cấp Tôi cho rằng, kiến thức lí luận văn học đóng vai trò hỗ trợ quan trọng đối với quá trình đọc - hiểu văn bản và viết bài nghị luận văn học của học sinh Nếu giáo viên biết chọn lọc những đơn vị kiến thức lí luận
cơ bản, vừa sức và có phương pháp dạy học khơi gợi được hứng thú, phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh thì đối tượng học sinh nào cũng có thể vận dụng được kiến thức lí luận văn học trong bài làm của mình ở mức độ nhất định, tạo nên sự phong phú, giàu có về lối diễn đạt, sự lô gích và sâu sắc của nội dung bài làm
Trong các thể loại văn học, truyện ngắn đóng một vai trò quan trọng tạo nên thành tựu của văn học Việt Nam hiện đại Các văn bản truyện ngắn thuộc chương trình Ngữ văn 12, tập 2 là nguồn ngữ liệu phong phú cho các đề kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kì và đặc biệt là đề thi tốt nghiệp THPT Sự đổi mới trong cách thức ra đề thi ở câu nghị luận văn học về tác phẩm truyện ngắn hiện nay đặt ra yêu cầu là cần chú trọng rèn luyện cho học sinh lớp 12 kĩ năng làm dạng đề nghị luận về một đoạn trích truyện ngắn, đồng thời vận dụng kiến thức lí luận văn học trong quá trình viết bài để đạt hiệu quả cao
Vì những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh lớp 12 vận dụng kiến thức lí luận văn học để làm tốt dạng đề nghị luận về một đoạn trích truyện ngắn nhằm góp phần nâng cao chất lượng thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Tôi nghiên cứu đề tài này với mục đích hướng dẫn cho học sinh lớp 12 kĩ năng vận dụng linh hoạt, phù hợp các kiến thức lí luận văn học để làm tốt dạng
đề nghị luận về một đoạn trích truyện ngắn; giúp học sinh nhận thức được vai trò, tác dụng bổ trợ hiệu quả của kiến thức lí luận đối với quá trình đọc hiểu văn bản văn học và viết bài nghị luận văn học; từ đó, hình thành hứng thú tìm hiểu, tích lũy những đơn vị kiến thức, những nhận định lí luận văn học và tạo thói quen vận dụng trong lập luận, diễn đạt, nhằm góp phần nâng cao kết quả học tập
và chất lượng thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các giải pháp hướng dẫn học sinh lớp 12 vận dụng kiến thức lí luận văn học để làm tốt dạng đề nghị luận về một đoạn trích truyện ngắn nhằm góp phần nâng cao chất lượng thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn
Để có cơ sở đánh giá về hiệu quả của việc áp dụng đề tài vào thực tế dạy học, tôi chọn 2 lớp nguyên vẹn thuộc khối 12 của Trường THPT Triệu Sơn 3, năm học 2021-2022 làm lớp đối chứng và lớp thực nghiệm, cụ thể là:
- Lớp đối chứng: 12E36 (Sĩ số: 42 học sinh)
Trang 3- Lớp thực nghiệm: 12D36 (Sĩ số: 42 học sinh)
Hai lớp được tôi chọn làm đối tượng nghiên cứu của đề tài đều đăng kí học ban cơ bản định hướng khối D1; đều có số lượng học sinh nữ nhiều hơn học sinh nam; có nhiều điểm tương đồng về chất lượng học tập và rèn luyện của học sinh, đặc biệt là về tình cảm, thái độ cũng như năng lực học tập của các em đối với môn Ngữ văn trước khi tác động
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng kết hợp những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Nghiên cứu, tìm hiểu
các bài viết về vai trò của lí luận văn học, về kĩ năng vận dụng kiến thức lí luận
để làm các dạng đề nghị luận văn học Trên cơ sở đó, tiến hành phân tích, tổng hợp, rút ra nội dung bổ trợ cần thiết và vận dụng linh hoạt trong triển khai, thực hiện đề tài
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Khảo sát, nắm bắt thông tin về tình hình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn, nhất là về dạng đề phổ biến ở câu nghị luận văn học (5,0 điểm) trong cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT hiện nay; tìm hiểu thực tế nhận thức của học sinh về kiến thức lí luận văn học và kết quả vận dụng kiến thức lí luận để làm dạng đề nghị luận một đoạn trích truyện ngắn; nắm bắt năng lực học tập và kĩ năng làm dạng đề nghị luận về một đoạn trích truyện ngắn của học sinh lớp đối chứng và lớp thực nghiệm Từ đó, đánh giá được thực trạng của vấn đề nghiên cứu và đưa ra các giải pháp để giải quyết vấn đề
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Căn cứ kết quả khảo sát chất lượng học sinh lớp 12 đợt 1 và đợt 2 của Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa năm học 2021-2022 (đều tổ chức theo hình thức tập trung và câu nghị luận văn học trong cấu trúc đề thi là dạng đề nghị luận về một đoạn trích truyện ngắn) của học sinh lớp 12E36 và lớp 12D36, trường THPT Triệu Sơn 3 để thống kê, xử lí số liệu
Từ đó, đánh giá được hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Trang 42 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”, “Lí luận văn học là một bộ môn của khoa nghiên cứu văn học có nhiệm vụ nghiên cứu bản chất, chức năng xã hội và thẩm mĩ, quy luật phát triển của sáng tác văn học, có tác dụng xác định phương pháp luận và phương pháp phân tích văn học” [1, tr.173] Hiểu một cách đơn
giản hơn, lí luận văn học là bộ môn nghiên cứu văn học ở bình diện khái quát, nhằm tìm ra những quy luật chung nhất về văn học Nhờ các thành quả nghiên cứu đó mà những người quan tâm đến văn học có thể lí giải được sâu hơn bản chất của các hiện tượng văn học như nhà văn, tác phẩm, trào lưu văn học,… Ở trường THPT, học sinh cần lĩnh hội được những tri thức lí luận văn học ở mức
độ cơ bản, cụ thể là:
- Đặc trưng văn học: Lí giải những đặc điểm chung nhất của văn học, trả lời các câu hỏi như: Văn học bắt nguồn từ đâu? Đối tượng chủ yếu của văn học
là gì? Tác phẩm văn học được cấu trúc như thế nào? Phương thức phản ánh của văn học là gì?
- Chức năng văn học: Trả lời cho câu hỏi: Văn học tồn tại nhằm mục đích gì? Văn học phục vụ thế nào cho đời sống của con người?
- Nhà văn và quá trình sáng tác: Khái quát quy luật sáng tạo nên tác phẩm văn học, những điều kiện về tài năng, phẩm chất, nhân cách của người viết
- Đặc trưng ngôn từ nghệ thuật: Khái quát các đặc điểm về chất liệu của văn học - ngôn từ nghệ thuật
- Đặc trưng thể loại: Khái quát các đặc trưng về nội dung và nghệ thuật của những thể loại văn học thường gặp như: thơ, truyện ngắn, tùy bút, bút kí, kịch
- Tiếp nhận văn học: Khái quát các đặc điểm của quá trình đọc, hiểu và chiếm lĩnh tác phẩm văn học
Tùy theo năng lực, học sinh có thể tiếp nhận tri thức lí luận văn học ở cấp
độ từ thấp đến cao Trước hết là nhận diện được các thuật ngữ và các luận điểm
lí luận văn học cơ bản; hiểu và diễn đạt chính xác các thuật ngữ và luận điểm lí luận văn học bằng giọng văn của mình; có thể vận dụng các kiến thức lí luận văn học để phân tích, lí giải, bình luận biểu hiện của vấn đề lí luận văn học trong dạng đề nghị luận về đoạn trích thuộc tác phẩm văn học
Lí luận văn học là một bộ phận của phân môn Đọc văn nhưng lại có tầm quan trọng rất lớn đối với cả bộ môn và có quan hệ mật thiết với phân môn này
Kiến thức lí luận văn học sẽ trang bị cho học sinh “những phương tiện và công
cụ quan trọng để hình thành năng lực văn”; “làm cho học sinh cảm thụ được cái đẹp một cách tự giác, một cách có ý thức từ hình ảnh và nhịp điệu của tác phẩm văn học, từ ý nghĩa và bài học đường đời của tác phẩm văn học, từ ngôn ngữ
Trang 5của tác phẩm”; giúp học sinh bồi dưỡng “năng lực tư duy” và “năng lực diễn đạt” [2, tr.641].
Trong các thể loại văn học, truyện ngắn là “tác phẩm tự sự cỡ nhỏ”,
“thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người Vì thế, trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp” [1, tr.370-371] Bàn về truyện ngắn, nhà văn Trung Quốc Trương Hiền Lương cho rằng: “Truyện ngắn giống như nước hoa quả cô đặc”, dung lượng ít nhưng vô cùng tinh túy Truyện
ngắn tập trung vào khoảnh khắc mà ý nghĩa cuộc sống đậm đặc nhất, tuy ngắn gọn, hàm súc nhưng có khả năng khái quát cao về hiện thực Để học sinh có thể làm tốt dạng đề nghị luận về một đoạn trích truyện ngắn, thì bên cạnh việc phải được tiếp cận và nắm vững những đơn vị kiến thức lí luận cơ bản về tác phẩm văn học nói chung như đề tài, chủ đề, tư tưởng, giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo,… cần chú trọng hướng dẫn học sinh tiếp cận, hiểu được và biết cách vận dụng các nội dung lí luận về truyện ngắn như: nhân vật, tình huống truyện, chi tiết, Nó giúp bài làm của học sinh thêm sâu sắc và có căn cứ khoa học về chuyên môn, đồng thời khiến vấn đề nghị luận được soi chiếu kĩ càng trên nhiều bình diện
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Trong những năm gần đây, phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn đã có nhiều chuyển biến tích cực, phát huy được phẩm chất, năng lực của học sinh Đã có nhiều chương trình tập huấn, nhiều đợt sinh hoạt chuyên môn do Sở Giáo dục, nhà trường và tổ chuyên môn tổ chức nhằm bồi dưỡng, trình độ chuyên môn – nghiệp vụ cho giáo viên, nâng cao chất lượng dạy học Chất hượng dạy học nói chung và chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn nói riêng của trường THPT Triệu Sơn 3 đã được cải thiện đáng kể, nâng cao vị thế của nhà trường trong khối các trường THPT toàn tỉnh và tạo được sự tín nhiệm của phụ huynh, của nhân dân Về cơ bản, đa số học sinh đều chăm ngoan, chịu khó học tập, có ý thức thực hiện các nhiệm vụ học tập theo hướng dẫn của giáo viên Đây là điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện đề tài
Qua thực tiễn dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Triệu Sơn 3, tôi nhận thấy, ở các bài kiểm tra và các bài thi khảo sát kiến thức đạt điểm cao từ 8,0 trở lên, bên cạnh việc học sinh làm bài đảm bảo yêu cầu ở tất cả các câu, các phần nói chung, thì riêng ở câu nghị luận văn học đa số học sinh đều ít nhiều có sự vận dụng kiến thức lí luận một cách linh hoạt, sáng tạo, thuyết phục
Tuy nhiên, vẫn còn thực trạng một bộ phận học sinh rất thụ động trong việc học và làm bài kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn Việc học sinh tiếp cận, hiểu và vận dụng các kiến thức lí luận văn học trong viết bài nghị luận văn học chủ yếu mới chỉ dừng lại ở nhóm học sinh từng tham gia ôn luyện đội tuyển học
Trang 6sinh giỏi môn Ngữ văn các cấp, thậm chí ngay cả đối tượng học sinh này cũng chưa thường xuyên vận dụng kiến thức lí luận để làm dạng đề nghị luận về một đoạn trích của tác phẩm văn học Theo thống kê từ Phiếu khảo sát thực trạng vận dụng kiến thức lí luận để làm dạng đề nghị luận về một đoạn trích thuộc tác phẩm văn học, tôi thấy: 75 % học sinh không để tâm hoặc chỉ biết rất sơ sài, mơ
hồ về kiến thức lí luận cơ bản; 20 % học sinh biết và hiểu ở mức độ cơ bản về kiến thức lí luận văn học như khái niệm, lời nhận định, đã bước đầu vận dụng trong mở bài hoặc kết bài; chỉ có 5 % học sinh là quan tâm đầu tư vận dụng một cách nhuần nhuyễn, thành thục kiến thức lí luận xuyên suốt quá trình viết bài nghị luận văn học Thực hiện tích hợp, vận dụng kiến thức lí luận để phân tích đoạn trích của tác phẩm văn học một mặt làm cho bài viết của học sinh trở nên sắc sảo hơn, hấp dẫn hơn, mặt khác tránh cho học sinh rơi vào trường hợp bài viết sơ sài, thiếu ý, cảm tính
Trong phạm vi thực hiện đề tài, tôi tập trung vào các giải pháp để hướng
dẫn học sinh lớp 12 ghi nhớ và vận dụng tốt những đơn vị kiến thức lí luận văn học cơ bản, những lời nhận định lí luận văn học tiêu biểu để dẫn dắt, kết nối, phân tích, bình luận trong quá trình làm bài nghị luận về một đoạn trích truyện ngắn nhằm góp phần nâng cao chất lượng thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Tích hợp kiến thức lí luận văn học trong quá trình giảng dạy về một văn bản truyện ngắn cụ thể để khơi gợi sự chú ý, tạo hứng thú tiếp cận và nắm bắt kiến thức lí luận của học sinh
Trong trường THPT, học sinh được tiếp cận với kiến thức lí luận văn học
từ hai con đường chính: thứ nhất là từ các tiết dạy lí luận văn học theo phân phối chương trình, thứ hai là từ phương pháp tích hợp, lồng ghép của giáo viên trong quá trình hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản văn học cụ thể Với thực tiễn phân phối chương trình các tiết dạy cho từng văn bản truyện ngắn lớp 12 khá thoải mái, giáo viên hoàn toàn có thể chủ động tích hợp kiến thức lí luận ở mức
độ phù hợp cho học sinh Trong quá trình phân tích, khám phá vẻ đẹp của văn bản truyện ngắn, nếu giáo viên có sự bổ sung, minh họa bằng các kiến thức lí luận, học sinh sẽ có cơ hội tiếp cận với những khái niệm vốn nằm im lặng trong những mệnh đề: đề tài, chủ đề, tư tưởng, nhân vật, tình huống truyện, chi tiết,…; đồng thời những kiến thức lí luận này cũng chính là “bệ đỡ” để định hướng cách hiểu văn bản đúng đắn, sâu sắc hơn Tích hợp là một xu hướng của đổi mới dạy học, điều đó cũng có nghĩa là trong dạy học môn Ngữ văn, việc dạy lí luận văn học không thể tách rời hoạt động đọc hiểu, phân tích văn bản và ngược lại Có như vậy, học sinh mới có thói quen cảm nhận văn học không chỉ bằng cảm tính
mà còn là nhận thức lí tính
Trang 7Trước tiên, giáo viên có thể khởi động bài dạy bằng một đoạn dẫn sử dụng kiến thức lí luận hoặc lời nhận định phù hợp để khơi gợi sự chú ý và tạo hứng thú tiếp cận, nắm bắt kiến thức lí luận của học sinh Dưới đây là ví dụ minh họa:
Ví dụ 1: Mác-xen Prút cho rằng: “Một cuộc thám hiểm thực sự không phải ở chỗ cần một vùng đất mới mà cần một đôi mắt mới” Mỗi nhà văn cần
phải có cách nhìn mới mẻ, độc đáo, cách cảm thụ giàu tính khám phá và phát hiện đối với cuộc đời Cuộc sống này có gì khác biệt đâu? Từ xưa đến nay, vẫn bốn mùa không thay đổi, vẫn là những vấn đề bức thiết mang tính quy luật về cuộc sống và con người Thế nhưng, mỗi nhà văn lại tìm thấy trong cái cũ kĩ, quen thuộc ấy những khía cạnh, những góc khuất chưa ai nhìn thấy, hoặc có thấy nhưng không để tâm Cuộc đời qua đôi mắt của nhà văn lúc nào cũng chứa nhiều điều bí ẩn mãi mãi không khám phá hết Cùng lấy bối cảnh là nạn đói lịch
sử năm Ất Dậu 1945 như nhiều tác phẩm truyện ngắn, hồi kí và thơ ca khác, thế nhưng truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân lại mang một giá trị riêng với một cách nhìn riêng chứa chan tinh thần nhân đạo Đúng như nhà văn từng tâm sự:
“Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm Khi viết
về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người” Và điểm sáng mà nhà văn muốn đem vào tác phẩm chính là
ở chỗ đó…
Ví dụ 2: Nguyễn Minh Châu quan niệm: “Nhà văn tồn tại ở trên đời
trước hết để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những con người bị cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường Những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đọa đày đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời Nhà văn tồn tại ở trên đời để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực” Đến với truyện ngắn
“Vợ chồng A Phủ”, đặc biệt là qua hình tượng nhân vật Mị, ta thấy rằng nhà văn
Tô Hoài đã thực hiện trọn vẹn sứ mệnh ấy…
Lồng ghép cung cấp cho học sinh những kiến thức lí luận về truyện ngắn
cơ bản như: tình huống truyện, nhân vật, chi tiết nghệ thuật,… những nhận định
lí luận văn học phù hợp với truyện ngắn cụ thể
Ví dụ 1: Phân tích một chi tiết trong truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” (Nguyễn Thi):
Chi tiết nghệ thuật là đơn vị nhỏ nhất cấu thành tác phẩm nhưng nó
mang trọng trách lớn lao Đó là “các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn
về cảm xúc và tư tưởng”, làm nổi bật tính cách, phẩm chất của nhân vật, chủ đề
của tác phẩm, quan niệm thẩm mĩ, tư tưởng và phong cách nghệ thuật của nhà
Trang 8văn, tạo nên chiều sâu và sức hấp dẫn cho thiên truyện Chi tiết chị em Chiến
và Việt khiêng bàn thờ má sang nhà chú Năm diễn ra ở giữa câu chuyện Buổi sáng ngày lên đường, hai chị em làm cơm cúng má Chị Chiến vào bếp nấu cơm, Việt đi câu cá Sau khi chuẩn cúng má và cơm nước xong xuôi, mấy chú cháu thu xếp đồ đạc dọn nhà Hai chị em mỗi người một đầu khiêng bàn thờ
má sang nhà chú Năm, băng tắt qua bãi đất cày trước cửa, men theo chân vườn thoảng mùi hoa cam, con đường hồi trước má vẫn đi để lội hết đồng này sang bưng khác Chỉ một chi tiết đơn giản nhưng lại thể hiện được nhiều ý nghĩa Trong thể giới tinh thần của người Việt, họ luôn cho rằng sau khi con người mất đi sẽ rời khỏi chốn nhân gian để trở về với một thế giới khác Quan niệm như vậy cho nên họ luôn cho rằng con người chết đi chỉ ở thể xác, còn linh hồn thì vẫn mãi tồn tại Chính vì vậy, họ đã lập ra bàn thờ để thờ cúng những người
đã mất Bàn thờ đã trở thành nơi gặp gỡ giữa vong linh người đã khuất và những người còn sống Đối với người dân Việt Nam, bàn thờ chính là một vật linh thiêng, thành kính luôn đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà Trong buổi sáng trước ngày lên đường đi tòng quân vào chiến trường, hai chị em Chiến và Việt chuẩn bị thu dọn đồ đạc trong nhà, đem cho bà con hàng xóm Chỉ có riêng bàn thờ là đem gửi sang nhờ chú Năm Điều đó chứng tỏ, bàn thờ má chính là thứ quan trọng nhất đối với hai chị em cần phải nâng niu, trân trọng
Hai chị em dường như đang nói cùng má: “Nào, đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập, chúng con lại đưa má về” Qua câu nói trên, chúng ta cảm thấy không còn chút
ranh giới nào giữa người còn sống với người đã mất Những đứa con đã nhìn thấy mẹ trở về trong chính tâm tưởng, dường như mẹ đang ở ngay đây, bên cạnh Việt và Chiến Không chỉ vậy, chi tiết này còn khiến cho người đọc cảm nhận được niềm căm thù giặc sâu sắc của Việt Chưa bao giờ Việt cảm nhận rõ lòng căm thù giặc như vậy Mối thù ấy có thể sờ thấy được vì nó đang đè lên vai Việt Nếu như không có chiến tranh bom đạn, có lẽ giờ này, má vẫn còn sống bên cạnh hai chị em Việt vẫn còn được má xoa đầu, lấy cơm cho ăn Nếu không có bom đạn của kẻ thù thì bây giờ đâu có bàn thờ của má trên vai Khi cảm nhận được sức nặng của bàn thờ má cũng là lúc cảm nhận được sức nặng của mối thù sâu sắc Đó không chỉ còn là mối thù cướp nước của chung cả dân tộc Mà đó còn là mối thù giết cha, giết mẹ riêng của gia đình Việt Và những đứa con như Chiến và Việt ý thức được trách nhiệm mà mình phải gánh vác, tham gia kháng chiến để đền nợ nước trả thù nhà Chiếc bàn thờ của má được
“ở tạm bên nhà chú” và đến khi “nước nhà độc lập con lại đưa má về”, đây là
giai đoạn kháng chiến chống Mỹ ác liệt, nhưng Nguyễn Thi vẫn mang một niềm tin vào tương lai tất thắng của dân tộc Có thể nói, chi tiết Việt và Chiến khiêng bàn thờ má sang nhà chú Năm là chi tiết rất quan trọng làm cho mạch
Trang 9truyện trở nên thống nhất, tạo nên những chuyển biến trong cuộc đời của nhân vật và giữ vai trò chủ đạo làm nên ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm, gây xúc động trong tâm hồn người đọc
Ví dụ 2: Phân tích ý nghĩa của cách kết thúc truyện ngắn “Vợ nhặt”
(Kim Lân):
Trong bữa cơm ngày đói, để xua tan đi bầu không khí trầm lặng vì ám ảnh đói khát, người vợ nhặt đã kể chuyện đoàn người đói phá kho thóc Nhật chia cho dân Lắng nghe câu chuyện của vợ, hiện lên trong tâm trí Tràng lúc ấy
là hình ảnh đám người đói đi trên đê Sộp và lá cờ đỏ bay phấp phới Hình ảnh này đóng vai trò khép lại câu chuyện đã mang đến nhiều liên tưởng sâu sắc và góp phần tô đậm chủ đề tư tưởng của tác phẩm Đúng như tác giả Bùi Việt
Thắng đã nhận định: “Điều quan trọng hơn cả là sau mỗi cách kết thúc, tác giả phải gieo vào lòng người đọc những nhận thức sâu sắc về quy luật đời sống và những dự cảm về tương lai, về cái đẹp tất yếu sẽ chiến thắng” Hình ảnh đám
người đói và lá cờ đỏ xuất hiện thoáng chốc trong tâm trí Tràng không chỉ gợi ra cảnh ngộ đói khát dữ dội, thực trạng thê thảm của người dân nghèo mà còn mang đến những tín hiệu rõ nét của cuộc cách mạng Chỉ có đứng lên đấu tranh, chống lại áp bức người dân nghèo mới có thể bảo vệ cho sự sống của bản thân
và những người thân yêu Nhà văn Kim Lân đã rất khéo léo tái hiện thực trạng
xã hội đời sống lúc bấy giờ qua kết thúc truyện mang tính gợi mở Kết thúc truyện cũng góp phần thể hiện tinh thần nhân đạo của nhà văn Kim Lân qua sự trân trọng sức sống mạnh mẽ của con người ngay cả khi bị đặt trên ranh giới giữa sự sống và cái chết Nhà văn cũng thể hiện niềm tin mãnh liệt vào tương lai tươi sáng của con người khi cách mạng thành công, khi con người được giải phóng khỏi sự áp bức tàn nhẫn của phong kiến thực dân Cách kết thúc mở gợi nhiều liên tưởng, suy ngẫm, thể hiện xu hướng vận động tích cực của cuộc sống được khắc họa và miêu tả trong câu chuyện
Một thực tế là không phải ở bất cứ phương diện nào của tác phẩm văn học cũng đan lồng, tích hợp kiến thức lí luận vào mà chỉ chọn một số ý trọng tâm Nếu tích hợp không đúng lúc, đúng ý sẽ làm bài dạy trở nên nặng nề
Có thể nói, việc tích hợp kiến thức lí luận văn học trong quá trình giảng dạy
về một văn bản truyện ngắn cụ thể đã khơi gợi được sự chú ý, tạo hứng thú tiếp cận và nắm bắt kiến thức lí luận của học sinh Hầu hết học sinh đều nhận diện được văn bản văn học từ góc độ đặc trưng thể loại của văn bản đó Đồng thời, đứng trước một văn bản văn học mới, học sinh có ý thức xuất phát từ ngôn từ, hình tượng để phân tích, cảm nhận và nắm được hàm nghĩa sâu xa mà văn bản chứa đựng Điều quan trọng hơn, học sinh đã không còn tiếp cận văn bản văn học một cách phiến diện, sơ sài nữa mà đã biết quan tâm đến hai mặt trong một chỉnh thể là nội dung và hình thức Với cách nhìn nhận từ các phương diện cấu
Trang 10thành, học sinh đã khám phá được vẻ đẹp của một tác phẩm văn học thật trọn vẹn và thuyết phục
2.3.2 Phát huy lợi thế của mạng xã hội để hướng dẫn học sinh tiếp cận, nắm bắt kiến thức lí luận văn học và học hỏi cách thức vận dụng
Nếu như trước đây, học sinh chủ yếu tìm hiểu kiến thức trong sách giáo khoa và phải vất vả tìm mua một số cuốn sách tham khảo để đọc, soạn bài, củng
cố và mở rộng kiến thức bài học; thì hiện nay, trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, chỉ cần một cú click chuột, đã hiện lên rất nhiều bài viết theo chủ đề tìm kiếm của học sinh Tuy nhiên, giữa thế giới kiến thức phong phú nhưng khá hỗn tạp, nhiều bài viết chưa được kiểm chứng, thì giáo viên cần chủ động tìm đọc những bài viết chất lượng và chia sẻ lên nhóm lớp để cung cấp cho học sinh Đồng thời, giáo viên giới thiệu cho học sinh địa chỉ trang mạng có nhiều bài viết hay về bộ môn Ngữ văn để học sinh tìm kiếm trong quá trình tự học
- Giới thiệu địa chỉ một số trang mạng hữu ích về môn Ngữ văn THPT: + Diễn đàn học văn Việt Nam: https://theki.vn/
+ Học văn 12: https://hocvan12.com/
+ Thích văn học: https://www.facebook.com/thichvanhoc/
+ Thưởng thức sách: https://www.facebook.com/thuongthucsach/
+ Lớp văn thầy Nhật https://www.facebook.com/thaytun.teacher/
+ Học văn chị Hiên: https://www.facebook.com/VanhocMH/
- Giới thiệu địa chỉ bài đăng những kiến thức lí luận cơ bản về thể loại truyện ngắn, những nhận định lí luận về văn xuôi và nhận định về tác giả, tác phẩm văn xuôi cụ thể trong chương trình Ngữ văn 12:
+ https://theki.vn/truyen-ngan-va-nhung-dac-trung-cua-truyen-ngan/
+ https://thichvanhoc.com.vn/100-nhan-dinh-li-luan-van-hoc-ve-van-xuoi/ + https://hocvanchihien.com/Vn/Nhan-dinh-ve-cac-tac-ham-van-xuoi-12-hay-hat-News-5927
Để việc tự học trở thành nhiệm vụ thường xuyên, trở thành thói quen và nhu cầu thiết yếu của học sinh thì trước tiên giáo viên phải thống nhất với tập thể học sinh xây dựng lịch tự học gắn với nội dung cụ thể Ví dụ: Trong tuần này ưu tiên đọc về chi tiết nghệ thuật trong truyện ngắn thì học sinh sẽ dành thời gian để đọc, tích lũy kiến thức về chi tiết nghệ thuật nói chung và có thể trải nghiệm khám phá qua một số chi tiết trong tác phẩm truyện ngắn cụ thể thuộc chương trình Ngữ văn 12 Giáo viên sẽ lồng ghép kiểm tra, đánh giá trong quá trình giảng dạy tác phẩm truyện ngắn cụ thể Điều này sẽ giúp học sinh chủ động, tự giác trong quá trình tự học, soạn bài, luyện tập, tìm tòi, mở rộng kiến thức; tranh thủ, tận dụng thời gian mọi lúc, mọi nơi để tự tiếp cận, tự học, tự tích lũy kiến thức lí luận văn học theo các địa chỉ giáo viên cung cấp Trên cơ sở đó, giáo viên hướng dẫn học sinh cách vận dụng kiến thức lí luận vào làm bài nghị