Đặc biệt, trong những năm gần đây, cùng vớiviệc đổi mới kiểm tra đánh giá, nhiều câu hỏi lại tập trung nhiều ở dạng nghị luận về một đoạn trích văn xuôi có đi kèm cả phần nhận xét về giá
Trang 1MỤC LỤC
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT HÀM RỒNG
-oOo -SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN CÁCH LÀM KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN TRÍCH VĂN XUÔI THEO CẤU TRÚC ĐỀ THI THAM KHẢO NĂM
2022 CHO HỌC SINH LỚP 12 TRƯỜNG THPT HÀM RỒNG - TP.
Trang 3Danh mục Trang
2.3.1 Hướng dẫn lí thuyết về kĩ năng làm kiểu bài nghị luận về một
2.3.2 Hướng dẫn học sinh huy động kiến thức làm kiểu bài nghị luận về
một đoạn trích văn xuôi
Trang 41.1 Lí do chọn đề tài
Những năm gần đây, ngành giáo dục đang có những bước chuyển mình theonhịp bước của thời đại Do đó, việc đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề cầnthiết và quan trọng Một trong những giải pháp ưu tiên trong quá trình dạy học đó
là phương pháp dạy học tích cực và dạy học theo hướng phát triển năng lực, phẩmchất cho người học Hoà cùng dòng chảy đổi mới giáo dục, đổi mới kiểm tra, đánhgiá nhằm phát triển toàn diện ở học sinh về kiến thức, kĩ năng, đề thi TN THPTmôn Ngữ văn có nhiều thay đổi Trong cách ra đề thi môn Ngữ văn với cấu trúc baphần: Đọc - hiểu, nghị luận xã hội và nghị luận văn học, thang điểm mới là: 3-2-5.Như vậy, nghị luận văn học vẫn chiếm số điểm cao (50%) số điểm bài thi Cấutrúc đề này khi mới xuất hiện trong đề thi THPTQG năm học 2013-2014 đã đượcbáo chí và dư luận đánh giá cao là bởi học sinh không chỉ đơn thuần tái hiện lạikiến thức đã học, mà học sinh phải tư duy sáng tạo dựa trên suy nghĩ cá nhân mới
có thể làm tốt được bài Cấu trúc đề này rất phù hợp với học sinh khá, giỏi và cầnthiết khi muốn phân hóa đối tượng người học Với cấu trúc đề thi như vậy, việc ônluyện đạt điểm cao cho bài thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn, đặc biệt là câu nghịluận văn học cả giáo viên trực tiếp ôn luyện và nhất là học sinh gặp nhiều khókhăn Bởi lẽ đây là kiểu bài đòi hỏi cao sự hiểu biết về kiến thức, kĩ năng Thực tế
ấy đặt ra nhiều trăn trở đối với giáo viên giảng dạy và ôn thi tốt nghiệp THPT chohọc sinh lớp 12
Nghị luận văn học gồm nhiều dạng bài khác nhau: Nghị luận về một ý kiếnbàn về văn học; Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ; Nghị luận về một tác phẩm,đoạn trích văn xuôi Trong đó, nghị luận về một đoạn trích văn xuôi có vai tròquan trọng trong chương trình Ngữ văn 12 Bởi vì, trong chương trình Ngữ văn
12, các tác phẩm văn xuôi chiếm một số lượng khá lớn và các câu hỏi về đoạntrích văn xuôi thường phong phú, đa dạng hơn, yêu cầu cao hơn về việc tìm hiểu
đề và xây dựng hệ thống luận điểm Đặc biệt, trong những năm gần đây, cùng vớiviệc đổi mới kiểm tra đánh giá, nhiều câu hỏi lại tập trung nhiều ở dạng nghị luận
về một đoạn trích văn xuôi có đi kèm cả phần nhận xét về giá trị nội dung hoặcmột khía cạnh nghệ thuật nào đó của tác phẩm khiến không ít học sinh lúng túngnhư: phân tích tình huống truyện, giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo hay một chitiết, hình ảnh… trong đoạn trích văn xuôi
Qua khảo sát hoạt động làm bài nghị luận văn học của học sinh lớp 12 trườngTHPT Hàm Rồng - Thành phố Thanh Hóa, tôi nhận thấy còn nhiều hạn chế cầnkhắc phục, bài làm của các em ở những câu hỏi thuộc nghị luận về một đoạn tríchvăn xuôi thì thấy kĩ năng phân tích đề, tìm ý ở các em còn yếu, kết quả thườngkhông cao Vì vậy việc rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về một đoạn trích vănxuôi rất cần thiết đối với giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ngữ văn lớp 12 để các
em làm bài thi đạt kết quả cao nhất
Trang 5Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy cũng như vai trò của một giáo viên tâmhuyết với nghề đồng thời góp phần tháo gỡ những khó khăn trên, rút kinh nghiệm
từ thực tế giảng dạy của mình trong năm học vừa qua tôi xin giới thiệu sáng kiến
kinh nghiệm “Hướng dẫn cách làm kiểu bài nghị luận về một đoạn trích văn xuôi theo cấu trúc đề thi tham khảo năm 2022 cho học sinh lớp 12 trường THPT Hàm Rồng- TP Thanh Hóa”. Qua đây, tôi xin được góp một ý kiến cho
phong trào “Dạy tốt - Học tốt” của TrườngTHPT Hàm Rồng - TP Thanh Hóa 1.2 Mục đích nghiên cứu
Đưa ra đề tài này, thông qua việc hướng dẫn các em cách làm bài, chúng tôimuốn nâng cao chất lượng làm bài nghị luận văn học về một đoạn trích trong tácphẩm văn xuôi trong các kì thi của học sinh lớp 12 nói chung, học sinh trườngTHPT Hàm Rồng - Thành phố Thanh Hóa nói riêng để các em làm quen với kiểubài này và tự tin hơn khi làm bài Theo chúng tôi vai trò của người giáo viên dạyvăn là dạy cho các em phương pháp, kĩ năng làm bài vì thế mục đích chính của đềtài này là:
- Giúp học sinh nắm được phương pháp, cách thức làm dạng đề nghị luận vềmột đoạn trích trong tác phẩm văn xuôi đạt kết quả cao
- Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
- Đề tài này cũng có thể coi là tài liệu để các giáo viên tham khảo khi dạyhọc sinh làm dạng đề nghị luận văn học về một đoạn trích trong tác phẩm văn xuôicho học sinh lớp 12
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Với sáng kiến kinh nghiệm này, Tôi hướng tới rèn luyện kĩ năng làm bài nghịluận về một đoạn trích trong tác phẩm văn xuôi cho học sinh lớp 12 Đối tượngthực nghiệm là học sinh lớp 12 trường THPT Hàm Rồng - TP Thanh Hóa Mụcđích là trang bị cho các em lí luận về kiểu bài, những kiến thức cơ bản giúp các
em làm tốt kiểu bài này góp phần nâng cao chất lượng dạy học, thi cử của bộ môn
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng các phương pháp như sau:
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đây là phương pháp nhằm thu thập thông tin qua việc sưu tầm tài liệu, phântích, tìm hiểu các thông tin
1.4.2 Phương pháp đàm thoại
Phương pháp này được tiến hành ngay trong giờ học, đàm thoại giữa giáoviên và học sinh, giữa học sinh với học sinh
1.4.3 Phương pháp hướng dẫn thực hành, luyện viết
Phương pháp này được tiến hành ngay trong giờ học, hoặc sau khi học sinh
đã tiếp thu kiến thức cơ bản về văn bản
1.4.4 Phương pháp thống kê, phân loại
Trang 6Phương pháp này nhằm thu thập số liệu và thống kê, phân tích để phânloạiđối tượng học sinh trước và sau khi áp dụng.
1.4.5 Phương pháp rút kinh nghiệm
Là phương pháp đúc rút từ kinh nghiệm của bản thân trong việc chấm chữabài làm văn cho học sinh để tìm ra biện pháp, cách thức tối ưu
2 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề
Nghị luận văn học là dạng văn bản dùng để bày tỏ sự cảm thụ tác phẩm vănhọc theo suy nghĩ của cá nhân, dùng những lý lẽ để đánh giá, phân tích, bàn bạc vềvấn đề thuộc lĩnh vực văn học để khám phá thế giới nghệ thuật nhà văn sáng tạo.Đồng thời tìm ra những giá trị thuyết phục người khác đồng tình với quan điểm cánhân của mình
Thể loại văn nghị luận là một trong những nội dung quan trọng của môn Ngữvăn nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng Bản chất của việc học thể loạinghị luận là người viết thường vận dụng nhiều thao tác, kĩ năng (giải thích, chứngminh, phân tích, bình giảng, so sánh, bác bỏ…) để từ đó giúp các em biết trình bàyluận điểm, luận cứ hấp dẫn những cảm nhận, suy nghĩ, đánh giá của mình về mộtvấn đề văn học
Nghị luận văn học nhằm hình thành, phát triển khả năng lập luận chặt chẽ,trình bày những lí lẽ, dẫn chứng một cách khoa học, giàu sức thuyết phục khi bày
tỏ ý kiến bản thân về một tác phẩm văn học hay một đoạn trích nào đó Học làmvăn nghị luận giúp các em nâng cao hiểu biết, cách tư duy, cách trình bày quanđiểm từ mức độ vận dụng thấp đến vận dụng cao
Đặc biệt trong kết cấu đề thi tham khảo tháng 3 năm 2022 môn Ngữ văn của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, bên cạnh phần đề đọc - hiểu là 3/10 điểm và viết đoạnnghị luận xã hội là 2/10 điểm thì phần đề nghị luận văn học chiếm một vị trí quantrọng với tỉ lệ 5/10 điểm Theo định hướng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đề thi Tốtnghiệp TN THPT chính thức năm học 2021- 2022 sẽ có định dạng tương tự nhưvậy và có thể các năm sau vẫn có cấu trúc như thế Để làm kiểu bài nghị luận vềmột đoạn trích văn xuôi hay, hấp dẫn đòi hỏi học sinh phải học hành bài bản, cầnphải có kiến thức văn học và phải ghi nhớ thật kĩ phương pháp làm kiểu bài này
Vì thế mà giáo viên cần hướng dẫn cẩn thận cho học sinh, nhất là các em học sinhlớp 12 cách làm kiểu bài kiểu bài nghị luận về một đoạn trích văn xuôi để các em
có kiến thức nền tảng phục vụ cho việc thi cử suốt cả quá trình học THPT đạt kếtquả cao, đặc biệt là kì thi TN THPT vào cuối năm học Trong khi rèn luyện kĩnăng làm bài văn nghị luận văn học thì mỗi một giáo viên cần chú ý phát huy,động viên tích cực sự sáng tạo của từng học sinh, không được gò ép theo nhữngkhuôn mẫu có sẵn
2.2 Thực trạng của vấn đề
Trang 72.2.1 Thuận lợi
Khi làm bài nghị luận văn học, các em học sinh lớp 12 có thuận lợi là đãđược trang bị kiến thức rất kĩ qua các giờ đọc - hiểu văn bản văn học, giờ học làmvăn Sách giáo khoa từ cấp THCS lên THPT có sự chuyển tiếp, liền mạch, thốngnhất trong hệ thống kiến thức môn học
Được sự chỉ đạo thống nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục vàĐào tạo của tỉnh đã giúp các giáo viên Ngữ văn nắm vững tinh thần đổi mới củachương trình và thực hiện dạy tốt
Bên cạnh đó, một thực tế không thể phủ nhận là sách giáo khoa, sách giáoviên được in ấn kịp thời, đa dạng, các phương tiện thông tin truyền thông: báo,mạng internet… rộng khắp cũng đã giúp ích rất nhiều cho cả giáo viên và học sinhtrong quá trình dạy - học Ngữ văn Học sinh chủ động tìm hiểu, khám phá nhữngkiến thức mới trong chương trình nên tiết học Ngữ văn trở nên sôi nổi, hào hứnghơn, đồng thời giúp các em khắc sâu được kiến thức cơ bản của bài học
2.2.2 Khó khăn
Nghị luận văn học là một kiểu bài khó so với văn nghị luận nói riêng và phânmôn Tập làm văn nói chung Kiểu bài này đòi hỏi học sinh phải có năng lực phântích, đánh giá từ khái quát đến cụ thể, có sự hiểu biết về văn học, về lịch sử, xã hội
… và đặc biệt là kĩ năng trình bày
Đối với học sinh THTP nói chung, học sinh lớp 12 nói riêng thì kĩ năng viếtvăn của các em còn nhiều hạn chế, nổi bật là: Bài viết không bám sát đề, diễn đạtrời rạc, dẫn chứng, dùng từ, đặt câu chưa chính xác, bố cục chưa rõ ràng, lập luậnthiếu sức thuyết phục, vốn từ, sự liên tưởng nghèo nàn nên diễn đạt lủng củng tối,dài dòng, không thoát ý, mắc nhiều lỗi chính tả…
Đặc biệt, đối với dạng bài nghị luận về một đoạn trích văn xuôi đa số các emmắc lỗi kể lại nội dung mà chưa biết cách khai thác những tín hiệu nghệ thuậttrong trích đoạn Học sinh chưa tập trung vào phân tích, đánh giá những vấn đề có
ý nghĩa then chốt mà đề bài yêu cầu, chưa có kĩ năng nhận diện đúng các dạng đềbài, kĩ năng xác định đề, tìm ý, sắp xếp ý còn lộn xộn, thiếu ý chưa làm rõ luận đề
đề bài yêu cầu
Qua quá trình giảng dạy và chấm thi tốt nghiệp TN THPT các năm gần đây,
có thể nhận thấy một thực tế: số học sinh làm tốt và đạt điểm tối đa (5,0 điểm) chokiểu bài này không nhiều, sức viết hạn chế hoặc nếu có làm được thì chất lượngbài làm không cao, dẫn đến điểm của toàn bài bị ảnh hưởng
Một thực tế khác là các em nắm lý thuyết làm bài nghị luận văn học rất hờihợt và bỏ các bước làm bài cơ bản, chưa chú trọng lí thuyết, ý thức vận dụng vàothực hành làm văn hạn chế
Bên cạnh đó là sự thực dụng trong học tập, thi cử đã ăn sâu vào nếp suy nghĩcủa một số học sinh: học vẹt, học tủ, quan tâm đến các môn học tự nhiên, xem nhẹ
Trang 8các môn xã hội Điều đó ảnh hưởng không ít đến việc đầu tư, tìm tòi, nghiên cứuvăn học để viết bài có chiều sâu.
Từ thực trạng trên, tôi đã tiến hành khảo sát Dưới đây là kết quả khảo sát đốivới các đơn vị lớp: 12C1, 12C9, 12C11, trường THPT Hàm Rồng (người viếtSKKN trực tiếp giảng dạy) khi làm kiểu bài nghị luận về một đoạn trích trong tácphẩm văn xuôi
Lớp
Chưa áp dụng các biện pháp (theo số liệu khảo sát đầu tháng 11 năm 2021)
12 C1
(53HS) 6 11,3 17 32,0 24 45,2 6 11,512C9
kì thi TN THPT, tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp sau:
2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện
Để giúp các em nắm vững được cách làm bài luận về một đoạn trích trongtác phẩm văn xuôi, người giáo viên cần huy động những kiến thức cơ bản, phươngpháp làm bài và hướng dẫn các em luyện tập kĩ viết bài văn nghị luận văn họcthông qua một số đề bài cụ thể để các em dần hình thành kĩ năng, phương pháplàm kiểu bài này và làm bài đạt kết quả tốt nhất
2.3.1 Hướng dẫn lí thuyết về kĩ năng làm bài nghị luận về một đoạn trích văn xuôi
2.3.1.1 Đối tượng bài nghị luận về một đoạn trích văn xuôi
Nghị luận về một đoạn trích văn xuôi rất đa dạng phong phú, có thể là giá trịnội dung và nghệ thuật của một đoạn trích nói chung hay chỉ là một phương diện,thậm chí một khía cạnh của nội dung hay nghệ thuật trong đoạn trích đó
2.3.1.2 Yêu cầu của bài văn nghị luận về đoạn trích văn xuôi
Cần phân biệt được nghị luận về một đoạn trích và nghị luận về một tácphẩm, nghĩa là tránh việc đề cập tới tất cả các nội dung trong tác phẩm, còn nộidung đoạn trích lại sơ lược Tập trung vào đoạn trích nhưng phải biết vận dụngkiến thức của toàn tác phẩm như: Nội dung tư tưởng, cách sáng tạo tình huống
Trang 9truyện cách kể chuyện, các biện pháp tu từ, cách xây dựng nhân vật, cách sáng tạochi tiết, cách trần thuật… Nhất thiết phải đặt đoạn văn trong chỉnh thể tác phẩm để
có cách đánh giá chính xác Từ yêu cầu trên, giáo viên hướng tới rèn luyện chocác em một số kĩ năng cơ bản khi làm bài nghị luận về một đoạn trích văn xuôinhư sau:
- Kĩ năng tìm hiểu đề
Trước khi làm bài, cần tìm hiểu yêu cầu của đề bài, định hướng xây dựng vănbản Bước định hướng là khâu rất quan trọng trong bài văn nghị luận văn học.Định hướng đúng sẽ tránh viết sai thể loại, lạc đề Vì thế cần phải đọc kỹ đề vàxác định: + Nội dung
về đoạn trích văn xuôi
- Kĩ năng diễn đạt dùng từ, đặt câu, viết đoạn
Trong bài nghị luận văn học, hệ thống luận điểm cần rõ ràng, mạch lạc; cácluận cứ đưa ra phải đúng đắn, sinh động; lập luận phải chặt chẽ, thuyết phục Các
ý trong bài văn được sắp xếp theo một trình tự hợp lí, liên kết thành một hệ thốngchặt chẽ, mạch lạc, lôgic Bài văn nghị luận văn học vừa yêu cầu tính cụ thể,thuyết phục của những luận cứ, vừa đòi hỏi tính khái quát của các luận điểm Nếu
sa vào liệt kê dẫn chứng cụ thể mà không rút ra được những nhận định, đánh giákhái quát thì sẽ không làm nổi bật được vấn đề cần nghị luận và không gây được
ấn tượng cho người đọc Do vậy, việc kết hợp linh hoạt, tự nhiên giữa phân tích,bình giảng,… các chi tiết, hình ảnh cụ thể với nhận xét, đánh giá khái quát vừa làphương pháp tư duy, vừa là kĩ năng làm bài mà học sinh cần rèn luyện cách diễnđạt trong bài nghị luận văn học cần chuẩn xác, trong sáng, thể hiện những rungcảm chân thành, tự nhiên của người viết
Trang 10Khi viết một bài văn nghị luận văn học, yêu cầu đặt ra không chỉ ở chỗ viếtcái gì mà quan trọng còn là viết như thế nào, bằng thái độ, tình cảm ra sao Cầncân nhắc từ cách dùng từ đến cách đặt câu, dựng đoạn Ngôn từ, giọng văn phảilàm sao vừa phù hợp với thể văn nghị luận, vừa diễn tả được các cung bậc cảmxúc của người viết là những rung cảm trong tâm hồn người viết, được hình thànhtrong quá trình người viết tiếp xúc và cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tácphẩm.
2.3.2 Hướng dẫn học sinh huy động kiến thức làm kiểu bài nghị luận về một đoạn trích văn xuôi
Bài nghị luận văn học nói chung và nghị luận về một đoạn trích văn xuôi nóiriêng cần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật củatác phẩm Trong quá trình làm bài, muốn bàn luận một cách thuyết phục sự thốngnhất giữa nội dung và hình thức nghệ thuật ở tác phẩm văn học, đoạn trích thì cầnxác định trúng cái hay, cái lạ của các phương thức, thủ pháp nghệ thuật: cách xâydựng tình huống, nhân vật, chi tiết, kết cấu, cách trần thuật, cốt truyện,… trong tácphẩm văn xuôi cũng như mối quan hệ của nó với chủ đề tư tưởng của tác phẩm; từ
đó khẳng định được rằng việc tác giả lựa chọn sử dụng hình thức nghệ thuật ấy là
“phương án tối ưu” để thể hiện nội dung Để phân tích, lí giải thấu đáo vấn đề cầnnghị luận cần huy động các đơn vị kiến thức sau:
- Hoàn cảnh xã hội và ý đồ sáng tác của nhà văn Mỗi nhà văn đều gắn vớimột thời đại, một bối cảnh xã hội - lịch sử nhất định Tác phẩm văn học là đứa continh thần của nhà văn, được nhà văn sáng tạo trong một hoàn cảnh cụ thể và gửivào đó những nhận thức, những tình cảm của mình đối với cuộc sống và conngười Do đó, trong quá trình nghị luận, người viết không chỉ tiếp xúc với văn bảntác phẩm mà còn cần phải tìm hiểu, xem xét các yếu tố ngoài văn bản như bốicảnh xã hội, trào lưu văn học, hoàn cảnh sáng tác…để có thể đưa ra những lí giảithấu đáo
- Kiến thức về tác giả: cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, phong cách tác giả là cơ
sở để lí giải, phân tích vấn đề nghị luận toàn diện và sâu sắc
- Kiến thức về tác phẩm cảm thụ ở cả hai phương diện nội dung, nghệ thuậtđều phải nắm vững Đây là kiến thức nền tảng để hình thành nên bài văn
- Kiến thức lí luận về đặc trưng của tác phẩm văn xuôi: tình huống truyện,nhân vật, mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, giá trị nhân đạo, giá trị hiệnthực… Đưa kiến thức lí luận tạo tính thuyết phục vững chắc cho bài làm
- Kiến thức cùng đề tài khi đưa vào bài văn để so sánh nhằm làm phong phúkiến thức cho bài làm Mặt khác thấy được sự sáng tạo mới, sự đóng góp riêng củanhà văn cho đề tài và nền văn học
2.3.3 Hướng dẫn học sinh cách làm kiều bài nghị luận về một đoạn trích văn xuôi
- Theo đề thi tham khảo môn Ngữ văn năm 2022 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
và một số năm trở lại đây dạng đề nghị luận về một đoạn trích văn xuôi thường đặt
ra hai yêu cầu:
Trang 11+ Phân tích một vấn đề của tác phẩm văn xuôi: Có thể là một nhân vật, mộtđoạn trích hoặc một khía cạnh của đoạn trích…
+ Nhận xét về giá trị nội dung hoặc một khía cạnh nghệ thuật nào đó của tácphẩm
- Khi làm bài văn nghị luận về một đoạn trích văn xuôi thường gồm cácbước:
+ Giới thiệu tác giả, tác phẩm và đoạn trích văn xuôi cần nghị luận
+ Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật theo định hướng đề bài
+ Nêu đánh giá chung và ý nghĩa của đoạn trích
2.3.4 Hướng dẫn học sinh thực hành qua một số đề thi
Dạng 1: Cảm nhận về nhân vật trong đoạn trích văn xuôi
I- Lập dàn ý
1 Mở bài
- Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm, nhân vật trong đoạn trích
2 Thân bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm :
+ Vị trí, phong cách của tác giả
+ Vị trí, hoàn cảnh, xuất xứ của tác phẩm
+ Khái quát chung về nhân vật
- Cảm nhận nhân vật:
+ Giới thiệu hoàn cảnh xuất hiện của nhân vật
+ Cảm nhận nhân vật trong đoạn trích: Số phận, cuộc đời, vẻ đẹp phẩm chất,tính cách…
- Nghệ thuật thể hiện nhân vật
- Bình luận nhân vật:
+ Nét độc đáo của nhân vật
+ Vai trò nhân vật trong tác phẩm
3 Kết bài: Đánh giá lại vấn đề.
II- Thực hành
Đề bài 1
…Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò […] Mặt sông trong tích tắc lòa sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng Nhưng ông đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch
đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm Tăng thêm mãi lên tiếng hỗn chiến của nước của đá thác Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái Vậy
là phá xong cái trùng vi thạch trận vòng thứ nhất Không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi
ải nước hiểm trở này Vòng đầu vừa rồi, nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử
Trang 12một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông Vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn Cưỡi lên thác sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy cái luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy Bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử Ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến Những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền Chỉ còn vẳng reo tiếng hò của sóng thác luồng sinh Chúng vẫn không ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng vào cửa sinh nó trấn lấy Còn một trùng vây thứ ba nữa Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được Thế là hết thác…
(Trích Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, tập một)
Cảm nhận của anh/chị về nhân vật ông lái đò trong đoạn trích trên Từ đó,nhận xét cái nhìn mang tính phát hiện về con người của nhà văn Nguyễn Tuân
Gợi ý làm bài
1 Mở bài
- Nguyễn Tuân là nhà văn tiêu biểu của văn xuôi hiện đại Việt Nam
- Tuỳ bút Người lái đò sông Đà là tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Tuân sau
Cách mạng tháng Tám 1945
- Nhân vật ông lái đò thể hiện rõ cách nhìn mang tính phát hiện của ông vềcon người lao động Việt Nam
2 Thân bài
2.1 Khái quát về tuỳ bút, đoạn trích
- Về hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, nội dung, nghệ thuật của tác phẩm;
- Vị trí, nội dung đoạn trích
2.2 Cảm nhận vẻ đẹp của ông đò trong đoạn trích
- Vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ ở hình ảnh ông lái đò
+ Ông lái đò được đặt trong tình huống thử thách đặc biệt: chiến đấu với thác
dữ sông Đà, vượt qua ba trùng vi thạch trận bằng tài nghệ “tay lái ra hoa”.
+ “nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá” và ung dung chủ động trong hình ảnh “trên thác hiên ngang người lái đò sông Đà có tự do, vì người lái đò ấy
đã nắm được cái quy luật tất yếu của dòng nước Sông Đà”
Trang 13+ Rất nghệ sĩ trong hình ảnh “nắm chắc lấy cái bờm sóng đúng luồng, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh…”; với lũ đá nơi ải nước, “đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”, con thuyền trong sự điều khiển của ông lái:
“như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được.”…
+ Nhận xét: Việc đưa con thuyền tìm đúng luồng nước, vượt qua bao cạmbẫy của thạch trận sông Đà quả thực là một nghệ thuật cao cường từ một tay láiđiêu luyện
- Vẻ đẹp trí dũng ở hình ảnh ông lái đò
+ Một mình một thuyền, ông lái giao chiến với sóng thác dữ dội như một
viên dũng tướng luôn bình tĩnh đối đầu với bao nguy hiểm: “ông lái đò cố nén vết thương…hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái…” , mặc dù “mặt méo bệch đi” vì nhữngluồng sóng “ đánh đòn âm, đánh đòn tỉa”, “nhưng trên cái thuyền sáu bơi
chèo, vẫn nghe tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái” …
+ Đối mặt với thác dữ sông Đà, ông đò có một lòng dũng cảm vô song:
“Cưỡi lên thác sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ” …
+ Ông lái đò khôn ngoan vượt qua mọi cạm bẫy của thác ghềnh, đưa con thuyền vượt thác an toàn khi “ những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền”, còn lũ đá thì “thất vọng thua cái thuyền”… Cuộc đọ sức giữa con người với thiên nhiên
thật ghê gớm, căng thẳng, đầy sáng tạo và con người đã chiến thắng
+ Nhận xét: Vẻ đẹp người lái đò Sông Đà là vẻ đẹp của người anh hùng laođộng trong công cuộc dựng xây cuộc sống mới của đất nước
Trang 14- Qua cách nhìn nhân vật ông đò, nhà văn bày tỏ tình cảm yêu mến, trântrọng, tự hào về con người lao động Việt Nam Nếu trước đây, ông thường khắchọa người anh hùng trong chiến đấu, người nghệ sĩ trong nghệ thuật và thuộc vềquá khứ “vang bóng một thời” thì đến tác phẩm này, ông tìm thấy anh hùng vànghệ sĩ ngay trong con người lao động thường ngày, trong công việc bình thường
và trong nghề nghiệp cũng bình thường Nguyễn Tuân còn khẳng định với chúng
ta rằng chủ nghĩa anh hùng cách mạng không phải chỉ có trong chiến đấu chốngngoại xâm mà còn thể hiện sâu sắc trong việc xây dựng đất nước và chinh phụcthiên nhiên
3 Kết bài
- Kết luận về nội dung, nghệ thuật, vẻ đẹp hình tượng ông đò.
- Nêu cảm nghĩ về người lao động làm nên cái đẹp cho cuộc đời
Dạng 2: Cảm nhận về một khía cạnh cụ thể của nhân vật trong đoạn trích văn xuôi
- Biểu hiện thứ nhất (qua lai lịch, hoàn cảnh, ngoại hình, tâm trạng nào?)
- Biểu hiện thứ hai (được thể hiện trong hoàn cảnh, thời điểm nào?)
- Biểu hiện thứ ba (được biểu hiện qua đặc điểm tính chất, mức độ trạng thái nào?)
- Nghệ thuật thể hiện nhân vật
* Bình luận, khẳng định ý nghĩa của khía cạnh cụ thể đó đối với nhân vật, tác giả, tác phẩm.
3 Kết bài: Đánh giá chung.
II- Thực hành
Đề bài 2
Trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân có đoạn:
Sáng hôm sau, mặt trời lên bằng con sào, Tràng mới trở dậy Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải Hắn chắp hai tay sau lưng lững thững bước ra sân Ánh nắng buổi sáng mùa hè sáng loá xói vào hai con mắt còn cay sè của hắn Hắn chớp chớp liên hồi mấy cái, và bỗng vừa chợt nhận ra, xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch.
Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm động Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng Hắn đã có một gia đình Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che
Trang 15nắng Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà.
Bà cụ Tứ chợt thấy con giai đã dậy, bà lão nhẹ nhàng bảo nàng dâu:
- Anh ấy dậy rồi đấy Con đi dọn cơm ăn chẳng muộn.
- Vâng.
Người đàn bà lẳng lặng đi vào trong bếp Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn
bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh Không biết có phải vì mới làm dâu mà thị tu chí làm ăn không? Bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên Bà lão xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn.
(Trích Vợ nhặt, Kim Lân, Ngữ văn 12, tập hai, Nxb GD, 2008, tr 30).
Anh/Chị hãy phân tích vẻ đẹp người nông dân trong đoạn trích trên Từ đó, nhận xét cái nhìn mới
mẻ về con người của nhà văn Kim Lân.
Gợi ý làm bài
1 Mở bài
- Giới thiệu Kim Lân và truyện ngắn “Vợ nhặt”.
Kim Lân là nhà văn của nông thôn Truyện ngắn của Kim Lân viết về cuộc sống và con người của làng quê Việt Nam tuy nghèo khổ, thiếu thốn nhưng vẫn yêu đời, thật thà, chất phác mà thông minh, tài
hoa Truyện ngắn Vợ nhặt của ông thể hiện sự am hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lí những người ở thôn
quê: dù cuộc sống có tăm tối đến đâu họ vẫn khao khát sống, yêu thương đùm bọc nhau, vẫn hi vọng vào tương lai
- Nêu vấn đề cần nghị luận: phân tích vẻ đẹp người nông dân trong đoạn trích “Sáng hôm sau,
mặt trời lên bằng con sào… làm ăn có cơ khấm khá hơn” thể hiện cái nhìn mới mẻ về con người của nhà
văn Kim Lân.
2 Thân bài
2.1 Khái quát về tác phẩm, đoạn trích
- Về hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, sơ lược cốt truyện…
Vợ nhặt được xem là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân có tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ
cư được viết ngay sau cách mạng tháng Tám thành công, lấy bối cảnh nạn đói năm Ât Dậu (1945) nhưng
bị bỏ dở và mất bản thảo Mãi đến sau khi hòa bình lập lại (1954), Kim Lân dựa vào một phần cốt truyện
cũ và viết truyện ngắn này.
- Vị trí, nội dung đoạn trích: thuộc phần cuối của truyện, diễn tả tâm trạng của ba nhân vật trong gia đình bà cụ Tứ vào buổi sáng sau đêm tân hôn của vợ chồng Tràng.
2.2 Phân tích vẻ đẹp của người nông dân trong đoạn trích
- Vẻ đẹp của nhân vật Tràng
+ Niềm hạnh phúc, sự ngỡ ngàng, vui sướng của Trang trong buổi sáng đầu tiên khi anh có vợ
được Kim Lân miêu tả thật tinh tế mà chân thực: Một cảm giác lạ chưa từng thấy tràn ngập trong lòng anh Anh thấy trong người “êm ái, lơ lửng như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”, việc có vợ vẫn hình như là không phải Tràng chợt nhận ra xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới lạ: “Nhà cửa, sân
vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng Mấy chiếc quần áo rách như tổ đĩa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc cây ổi đã kín nước đầy ăm ắp” Tất cả những cảnh tượng đó thật bình thường, là sự thay đổi
đơn giản nhưng cũng đủ làm cho anh rất thấm thía, cảm động vì đó là hình ảnh của một cuộc sống gia đình đúng nghĩa: yên bình, đầm ấm và gắn bó, mỗi thành viên đang cố gắng chung tay vun vén hạnh phúc.
Trang 16“Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng Hắn đã có một gia đình Hắn
sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng” Từ lúc này Tràng chính thức bắt đầu cuộc sống mới của mình bằng
tất cả niềm tin, hi vọng.
+ Từ con người thô lỗ, cộc cằn thì Tràng đã trở thành người đàn ông trưởng thành, chín chắn, đầy
trách nhiệm Trách nhiệm của Tràng gắn với một tương lai thật đẹp Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở
đấy Kim Lân đã vẽ nên một viễn cảnh đẹp đẽ của sự sum vầy, đầm ấm Cuộc sống của Tràng sẽ đẹp
hơn không đơn thuần là hạnh phúc vợ chồng mà là tổ ấm bên những đứa con Rõ ràng hạnh phúc đó được nhân lên, ngân vang trong chính trách nhiệm thiêng liêng, cao cả của một con người Bây giờ
Tràng mới thấy hắn “nên người” “hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này” Trách nhiệm xây đắp gia đình được hiện thực hóa bằng hành động “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng
muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà” Hành động ấy là ý thức tự giác của con người
nhận ra giá trị những gì mình đang có, không chỉ tận hưởng mà còn vun đắp bảo vệ, giữ gìn Qua hành động của Tràng nhà văn Kim Lân muốn thể hiện niềm tin: tình người, khát vọng hạnh phúc sẽ giúp con người hoàn thiện mình hơn.
-> Vậy là trong khung cảnh đói khát chết chóc thê thảm của đất nước năm 1945 ấy, người nông dân khốn khổ như Tràng đã biết vượt lên hoàn cảnh, tìm đến hạnh phúc trong niềm vui nương tựa đùm bọc lẫn nhau Chỉ có tấm tình chân thực mới giúp họ có sức mạnh vượt qua sự thật nghiệt ngã của cuộc đời Và không có gì ngăn nổi niềm tin, niềm hi vọng của họ vào tương lai
- Vẻ đẹp của nhân vật người vợ
+ Chỉ qua một ngày, một đêm sau khi đã thành vợ của Tràng, thành nàng dâu mới của bà cụ Tứ,
ta thấy nhân vật này có những biểu hiện, những tình cảm rất tốt đẹp Bên bờ vực của cái đói, cái chết, người đàn bà không chỉ khao khát được sống mà còn khao khát hạnh phúc Thị cũng muốn được sống trong mái ấm hạnh phúc của gia đình, một mái ấm tình thương, có chồng có con như những người đàn
đổi tuyệt vời ấy “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không
còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh” Hạnh phúc đã trả thị về với giá trị
người, với thiên chức của người phụ nữ đáng quý, đáng trọng.
-> Qua nhân vật người vợ nhăt, Kim Lân dường như muốn khẳng định một niềm tin đầy giá trị nhân văn: mái ấm gia đình có đủ sức mạnh để làm thay đổi, cảm hóa một con người.
- Vẻ đẹp của nhân vật bà cụ Tứ
+ Bà cụ Tứ được Kim Lân khai thác ở chiều sâu tâm lý mà màu sắc chủ đạo là sự lạc quan, tin tưởng, phấn chấn vào cuộc sống.
+ Cùng với sự thay đổi của Tràng và người vợ nhặt, tâm trạng của bà cụ Tứ trong buổi áng hôm
sau cũng có sự thay đổi tích cực Bà dậy sớm “xăm xắn thu dọn, quét dọn nhà cửa” để ngôi nhà trở nên
gọn gàng, sáng sủa, mang không khí của một tổ ấm hạnh phúc thật sự, để chào đón một cuộc sống vui
tươi hơn “làm ăn có cơ khấm khá hơn” Niềm hạnh phúc của con đã khiến người mẹ nhân từ, bao dung
dường như cũng hạnh phúc theo Không còn dáng vẻ của một bà lão gần đất xa trời “lọng khọng”,
“húng hắng ho” đầy khốn khổ mà thay vào đó là dáng vẻ tươi tỉnh, nhẹ nhõm khác ngày thường “cái
mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên” Sự thay đổi ở diện mạo, thần thái của bà cụ Tứ cùng với
những việc làm nhỏ bé, giản dị của bà đã thể hiện rất rõ sự chăm lo cho hạnh phúc của đứa con Tất cả đều giản dị song lại vô cùng cảm động vì bà cụ đã hành động bằng tất cả tấm lòng mình để góp phần xây dựng một tổ ấm hạnh phúc.
-> Hình ảnh bà cụ Tứ là một bức chân dung đẹp, là hiện thân cho những bà mẹ nông dân nghèo khổ, từng trải, hết lòng thương con và cũng là minh chứng cho khát vọng sống mãnh liệt của con người.
- Về nghệ thuật:
+ Xây dựng tình huống truyện độc đáo.
+ Cách dựng truyện của Kim Lân rất tự nhiên, hấp dẫn, có duyên, đơn giản nhưng chặt chẽ.
Trang 17+ Miêu tả tâm lí nhân vật một cách tinh tế, sâu sắc.
+ Ngôn ngữ đậm chất nông dân và có sự gia công sáng tạo của nhà văn.
2.3 Nhận xét cái nhìn mới mẻ về con người của nhà văn Kim Lân
- Nhà văn Kim Lân đã đem đến cái nhìn mới mẻ về người nông dân Việt Nam trước cách mạng Ông có cái nhìn xót xa, thương cảm và tin yêu về con người Việt Nam dưới ách thống trị của giai cấp phong kiến và bọn thực dân phát xít trong nạn đói khủng khiếp Ất Dậu 1945 Tuy sống trong thân phận
rẻ rúng, hết sức bi đát, bị cái đói, cái chết bủa vây nhưng họ vẫn khao khát sống, khao khát yêu thương
và có niềm tin bất diệt vào tương lai sẽ được đổi đời.
- Kim Lân còn tìm thấy sức mạnh của tình yêu trong thẳm sâu những con người bé nhỏ Tràng lấy
vợ, một câu chuyện dở khóc dở cười nhưng sau sự kiện bi hài ấy, con người và thế giới của riêng Tràng
thay đổi: vợ hiền thảo hơn, Tràng đã trưởng thành “nên người” Bà mẹ lần đầu tiên trên trán bớt đi
đám mây u ám Tình yêu thương đã khiến cho ba con người nhỏ bé và mái ấm gia đình của họ không bị vùi xuống vực thẳm của sự chết chóc Trong thời khắc quyết định số phận, họ đã nương tựa, cưu mang, sưởi ấm cho nhau bằng tình yêu.
- Các nhìn mới mẻ, lạc quan tin tưởng về con người cho thấy tài năng quan sát, miêu tả, dựng cảnh, đi sâu khai thác diễn biến tâm trạng nhân vật rất hợp lí, chân thực, đặc biệt tạo tình huống truyện độc đáo, bất ngờ, éo le và cảm động của nhà văn Kim Lân, góp phần làm bừng sáng giá trị nhân văn trong sáng tác của nhà văn nông thôn được đánh giá xuất sắc nhất trong văn học Việt Nam hiện đại 1945-1975.
3.3 Kết bài
- Kết luận về nội dung, nghệ thuật vẻ đẹp người nông dân trong đoạn trích
- Nêu bài học cuộc sống từ 3 nhân vật trong đoạn trích: khát vọng sống, tình yêu và hạnh phúc;
đề cao vai trò của gia đình trong đời sống con người.
Dạng 3: Cảm nhận về một đoạn trích trong tác phẩm văn xuôi
+ Nội dung: Khung cảnh, sự việc, nhân vật
+ Nghệ thuật: Trần thuật, tả cảnh, khắc họa nhân vật…
- Nhận xét:
+ Giá trị đặc sắc của đoạn trích
+ Ý nghĩa của đoạn trích đối với tác giả, tác phẩm