Cùng với việc đổi mới chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp giảng dạy thì vấn đề đổi mới trong kiểm kiểm tra, đánh giá thông qua việc ứng dụng trắc nghiệm khách quan là một tr
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH I
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỔI MỚI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
LÝ THUYẾT MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT LỚP 11 BẰNG
TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
Người thực hiện: Lê Bạch Dương
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn
SKKN thuộc môn: GDTC
Trang 2THANH HÓA NĂM 2022
MỤC LỤC
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm 3
2 3 Giải pháp và cách thức tổ chức thực hiện 4
Trang 31 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài.
Thực hiện Nghị quyết TW 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục
và đào tạo đáp ứng yên cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Để đáp ứng điều đó ngành giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng đã có nhiều đổi mới, cụ thể là chuyển từ trang bị kiến thức là chủ yếu sang phát triển năng lực
và phẩm chất người học, lấy học sinh làm trung tâm của quá trình giáo dục
Cùng với việc đổi mới chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp giảng dạy thì vấn đề đổi mới trong kiểm kiểm tra, đánh giá thông qua việc ứng dụng trắc nghiệm khách quan là một trong những khâu rất quan trọng, có ý nghĩa thiết thực mang tính khách quan và hiệu quả cao
Xuất phát từ những điều trên và thực tế giảng dạy của bản thân tại trường THPT Yên Định 1 những năm gần đây, trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 hoành hành đôi khi việc dạy học trực tiếp bị gián đoạn nhường chỗ cho dạy học
trực tuyến Tôi mạnh dạn viết sáng kiến kinh nghiệm với đề tài: “Đổi mới kiểm tra, đánh giá lý thuyết môn giáo dục thể chất lớp 11 bằng trắc nghiệm khách quan”.
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Qua việc sử dụng câu hỏi trắc nghiệm mà người dạy có thể bổ sung những hạn chế về kiến thức và phương pháp day học Đồng thời giúp người học có hứng thú và yêu thích môn học giáo dục thể chất hơn trong hoàn cảnh phải học trực tuyến ở nhà, từ đó các em năm bắt được một số luật thể thao cũng như những kiến thức về kỹ chiến thuật, kỹ năng cơ bản để tập luyện thể dục thể thao
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh khối 11 trường THPT Yên Định 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Về nghiên cứu lý luận
- Phương pháp tổng hợp phân tích tài liệu
- Phương pháp quan sát và thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp kiểm tra sư phạm
- Phương pháp tính toán và xử lí số liệu
1.4.2 Về nghiên cứu thực tiễn
Soạn và thiết kế hệ thống câu hỏi trắc nghiệm môn giáo dục thể chất để tổ
Trang 4chức kiểm tra đánh giá học sinh lớp 11.
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
Chuyển từ cách kiểm tra lý thuyết truyền thống lâu nay là thầy(cô) đưa ra các câu hỏi sau đó các em trả lời, sang kiểm tra lý thuyết bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận của vấn đề
Việc đổi mới giáo dục trung học dựa trên những đường lối, quan điểm chỉ đạo giáo dục của nhà nước, đó là những định hướng quan trọng về chính sách và quan điểm trong việc phát triển và đổi mới giáo dục trung học Việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá cần phù hợp với những định hướng đổi mới chung của chương trình giáo dục trung học
Những quan điểm và đường lối chỉ đạo của nhà nước về đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới kiểm tra, đánh giá nói riêng được thể hiện trong nhiều văn bản, đặc biệt trong các văn bản sau đây:
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra
và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách qua Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận…”
Nghị quyết số 44/NQ-CP, ngày 9/6/2014 Ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm
2013 Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định “ Đổi mới hình thức, phương pháp
thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục theo định hướng đánh giá năng lực của người học; kết hợp đánh giá cả quá trình với đánh giá cuối kỳ học, cuối năm học theo mô hình các nước có nền giáo dục phát triển” …
2.2 Thực trạng của vấn đề.
Hiện nay quan niệm của nhiều người, nhất là học sinh luôn xem môn giáo
dục thể chất vẫn chỉ là “môn phụ” do đó công tác dạy và học cũng như kiểm
tra, đánh giá chưa được coi trong Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở môn học GDTC giáo viên mới chỉ đánh giá để biết được mức độ tiếp thu kiến thức và kỹ năng của học sinh mà chưa chú ý đến yêu cầu thực hiện những công việc có ý nghĩa giống với những thách thức đời thường sẽ gặp sau
Trang 5này Nhiều giáo viên chưa vận dụng đúng quy trình biên soạn đề kiểm tra nên các bài kiểm tra còn nặng tính chủ quan của người dạy Hoạt động kiểm tra, đánh giá ngay trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học trên lớp chưa được quan tâm thực hiện một cách khoa học và hiệu quả
Thực trạng trên dẫn đến hệ quả là không rèn luyện được tính trung thực trong kiểm tra, đánh giá; nhiều học sinh còn thụ động trong việc học tập; khả năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống
thực tiễn cuộc sống còn hạn chế
2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
2.3.1 Khái niệm và phân loại phương pháp trắc nghiệm:
Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là phương tiện để đo lường khả năng của các đối tượng nào đó nhằm mục đích đã định trước Trong giáo dục, trắc nghiệm được tiến hành thường xuyên ở các kì thi, kiểm tra để đánh giá kết quả học tập của học sinh
Trắc nghiệm có thể là tiêu chuẩn hóa (Các kì thi được chuẩn bị kĩ theo hệ thống “ngân hàng” câu hỏi, có chỉ dẫn tiến hành và thang điểm) hoặc là không tiêu chuẩn hóa (Do giáo viên xây dựng và soạn) Trắc nghiệm có thể thực hiện dưới các hình thức sau:
- Viết, vấn đáp
- Giới hạn hoặc không giới hạn thời gian
- Được giám sát (các bài thi, kiểm tra trên lớp) hoặc không giám sát (bài làm ở nhà)
- Dựa vào nội dung bài giảng, đồng thời có thể tổ chức cho từng học sinh hoặc cả lớp làm bài
- Học sinh có thể chọn câu trả lời xác định (trong trắc nghiệm khách quan) hoặc có thể kết thúc để ngỏ (trong trắc nghiệm tự luận)
- Có thể được hoặc không được sử dụng tài liệu trong quá trình kiểm tra
2.3.2 Phân loại trắc nghiệm khách quan:
Có 4 loại trắc nghiệm khách quan chính:
- Loại điền vào chỗ trống hay trả lời ngắn: Thí sinh viết câu trả lời thường chỉ khoảng 1- 10 từ và câu hỏi thường vào loại đòi hỏi trí nhớ
- Loại ghép đôi hay hợp xứng: Thí sinh so sánh để lựa chọn một từ hay một câu trong cột ghép để cho thích hợp với mỗi câu hay mỗi từ trong cột kia
Trang 6- Loại đúng, sai: Là loại hình trắc nghiệm chứa các câu có tính chất công
bố, thông báo và là dạng câu hỏi có hai phương án để lựa chọn Thuận lợi cho việc đánh giá mức độ hiểu biết và trí nhớ trong lĩnh vực kiến thức về TDTT
Ví dụ:Cần Thơ là đơn vị đăng cai Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc lần thứ XIII vào năm 2012
(Đáp án là đúng)
* Ưu điểm:
+ Có thể đưa ra nhiều nội dung trong một thời gian ngắn
+ Dễ biên soạn
+ Khách quan khi chấm…
* Nhược điểm:
+ Có thể khuyến khích sự tò mò của học sinh
+ Khó dùng để thẩm định yếu điểm của học sinh do yếu tố đoán mò
+ Độ tin cậy thấp…
* Quy tắc soạn câu hỏi:
- Nên dùng những từ chính xác và chỉnh hơp để câu hỏi đơn giản và dễ dàng + Các câu hỏi chỉ nên mang một ý tường chính yếu hơn là có hai hay nhiều ý tưởng trong mỗi câu
+ Tránh dùng những từ như: “Luôn luôn”, “tất cả”, “chắc chắn”, “không bao giờ” … vì các câu này thường có khả năng sai Ngược lại, những chỗ như
“thường thường”, “đôi khi”, “ít khi”… lại thường với những câu trả lời đúng
+ Cố gắng soạn câu hỏi sao cho hoặc có nội dung hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai
+ Nên dùng các câu nhấn mạnh ý tưởng hoặc điểm chính yếu hơn là các câu vô nghĩa, các chi tiết vụn vặt
+ Khi nêu trong câu hỏi một vấn đề đang dược tranh luận phải nêu rõ tác giả xuất xứ của ý kiến đã nêu
+ Nên có những câu hỏi để học sinh có thể áp dụng những kiến thức đã học + Không nên trích nguyên vẹn câu hỏi từ sách giáo khoa Nên diễn tả lại các điều đã học dưới dạng những câu mới biểu hiện được mục tiêu cần khảo sát
+ Nên dùng các từ định lượng nhiều hơn là định tính để chỉ số lượng + Tránh đề học sinh đoán câu trả lời đúng theo chiều dài của câu hỏi (các câu đúng thường dài hơn) Số câu đúng và sai nên gần bằng nhau
+ Tránh khuynh hướng số câu đúng nhiều hơn số câu sai và ngược lại
Trang 7trong một bài thi…
- Loại câu hỏi có nhiều câu trả lời để chọn: Loại này gồm một số phát biểu căn bản là câu dẫn, hay câu hỏi đi đôi với nhiều câu trả lời để thí sinh lựa chọn khi làm bài Các câu trả lời cho mỗi câu hỏi có dạng giống nhau gồm một
từ, một cụm từ hay một câu hoàn chỉnh, thí sinh phải chọn một câu trả lời đúng hay hợp lí nhất
Ví dụ: Hãy cho biết các thông số chiều rộng của ván giậm nhảy trong nhảy
xa sau đây, thông số nào đúng với Luật Điền kinh?
A Ván giậm nhảy rộng 0,15m B Ván giậm nhảy rộng 0,20m
C Ván giậm nhảy rộng 0,25m D Ván giậm nhảy rộng 0,30m (Đáp án đúng: B)
* Ưu điểm:
+ Đo được khả năng tư duy khác nhau
+ Có độ tin cậy cao Yếu tố đoán mò may rủi giảm đi khi số các phương
an lựa chọn tăng lên
+ Học sinh phải xét đoán và phân biệt rõ ràng khi trả lời câu hỏi, lựa chọn phương án hợp lí nhất
+ Có thể phân tích được tính chất mỗi câu hỏivà xác định mức độ dễ, khó + Khách quan khi chấm
* Nhược điểm:
+ Khó soạn câu hỏi
+ Có thể không đo được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng tự giải quyết vấn đề khéo léo một cách hiệu nghiệm bằng câu hỏi tự luận soạn kĩ
+Tốn giấy in câu hỏi, học sinh cần nhiều thời gian để đọc câu hỏi
* Quy tắc soan câu hỏi:
+ Phần chính hay câu dẫn của câu hỏi phải diễn đạt rõ ràng một vấn đề + Các câu trả lời để lựa chọn phải là những khả năng dễ thích hợp với vấn
đề đã nêu trên
+ Câu dẫn của câu hỏi mang trọn ý và phần trả lời để chọn nên ngắn gọn + Nên có 4 - 5 phương án trả lời cho mỗi câu hỏi Nếu có ít phương án thì yếu tố may rủi tăng lên Ngược lại nếu quá nhiều phương án để chọn lựa, chúng
ta khó tìm câu trả lời hay làm câu nhiễu mà học sinh cũng mất nhiều thời gian để đọc câu hỏi
+ Câu trả lời để lựa chọn phải có vẻ hợp lí, nếu có một phương án sai hiển
Trang 8nhiên thì thí sinh sẽ loại dễ dàng.
+ Phải chắc chắn chỉ có một câu trả lời đúng
+ Khi một câu hỏi đề cập đếnvấn đề gây nhiều tranh luận, ý nêu trong câu hỏi phải được xác định về nguồn gốc
+ Độ dài câu trả lời trong các phương án cho sẵn để chọn phải gần bằng nhau + Không nên đặt những vấn đề không xẩy ra trong thực trong nội dung các câu hỏi
+ Câu trả lời đúng nhất phải được đặt ra ở các vị trí khác nhau một số lần tương đương nhau
+ Vị trí các câu trả lời để lựa chọn nên được sắp xếp theo một thứ tự “tự nhiên” nào đó có thể được (ví dụ từ số lớn đến số nhỏ, vần a,b,c…)
+ Nên ít hay tránh dùng để phủ định trong các câu hỏi Người ta thường nên nhấn mạnh khía cạnh xác định hơn khía cạnh phủ định trong kiến thức
Các loại trắc nghiệm khách quan đều có thể vận dụng trong đánh giá GDTC trường học Nhưng căn cứ vào mục tiêu giáo dục, trong GDTC chúng ta chỉ sử dụng loại trắc nghiệm: “Đúng, sai” và loại có nhiều phương án lựa chọn
để hỏi học sinh vì hai loại này phù hợp với điều kiện học và tập luyện hơn
2.3.3 Các bước chuẩn bị cho kiểm tra, đánh giá trắc nghiệm khách quan:
- Giáo viên chuẩn bị chủ đề và “ngân hàng” các câu hỏi bám sát chương trình học và kế hoạch hoạt động thể thao của trường, của nghành giáo dục, của tỉnh và toàn quốc trong năm Đồng thời chuẩn bị cả đáp án
- Phổ biến trước nội dung và kế hoạch kiểm tra cho học sinh
- Tổ chức trao đổi, thảo luận với học sinh
- Tiến hành kiểm tra, đánh giá Có thể kết hợp tổ chức một số chuyên đề tìm hiểu thể thao
2.3.4.Cách tính điểm kiểm tra, đánh giá trắc nghiệm khách quan:
Cách 1: Lấy điểm toàn bài là 10 điểm và chia đều cho tổng số câu hỏi.
Ví dụ: Nếu đề kiểm tra có 40 câu hỏi thì mỗi câu hỏi được 10:40 = 0,25 điểm
Cách 2: Tổng số điểm của đề kiểm tra bằng tổng số câu hỏi Mỗi câu trả lời
đúng được 1 điểm, mỗi câu trả lời sai hoặc không trả lời được 0 điểm
Sau đó qui điểm của học sinh về thang điểm 10 theo công thức :10 x X X max
Trong đó: + X là số điểm đạt được của học sinh
+ Xmax là tổng số điểm của đề
Trang 9Ví dụ: Nếu đề kiểm tra có 40 câu hỏi, mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, nếu một học sinh làm được 28 câu thì qui về thang điểm 10 là: 10 x 2840 = 7 điểm
2.3.5 Soạn và thiết kế hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan:
* Câu hỏi:
Câu 1: Nghỉ luyện tập TDTT quá dài sẽ thế nào?
A Giúp người tập phục hồi và nâng cao hiệu quả tập luyện
B Làm giảm sút và mất đi những hiệu quả tập luyện
C Cũng cố và duy trì hiệu quả tập luyện
D Cả ba phương án trên
Câu 2: Tập bài thể dục nhịp điệu có tác dụng gì?
A Tăng cường sức khoẻ và vẻ đẹp cơ thể
B Phát triển tố chất mềm dẻo và sự khéo léo
C Tăng tính nhanh nhẹn, hoạt bát
D Cả ba phương án trên
Câu 3: Tên động tác 5 của bài thể dục nhịp điệu lớp 11 là gì?
A Nhảy B Động tác lưng
C Di chuyển ngang D Bật nhảy co gối
Câu 4: Luật điền kinh quy định, khu vực trao - nhận tín gậy trong chạy tiếp sức
có độ dài là:
Câu 5: Chiều dài của tín gậy sử dụng trong chạy tiếp sức là bao nhiêu?
A 32 - 34cm B 28 - 30cm C 30 - 32cm D 26 - 27cm
Câu 6: Trong chạy tiếp sức 4 x 100m, phải xuất phát thấp với tín gậy là ngườisố ?
Câu 7: Với học sinh khi tập chạy bền thì mạch đập sau vận động theo mức nào
sau đậy là hợp lí?
A Mạch đập sau vận đông 110 lần/phút
B Mạch đập sau vận đông 120 - 150 lần/phút
C Mạch đập sau vận đông 160 - 180 lần/phút
D Mạch đập sau vận đông 181 lần/phút trở lên
Câu 8: Bài tập nào sau đây giúp hồi tĩnh sau chạy bền?
A Tiếp tục chạy nhẹ nhàng, kết hợp thở sâu
B Đứng làm động tác thả lỏng cơ bắp toàn thân
Trang 10C Nhờ người khác rung chân, tay
D Tất cả bài tập trên
Câu 9: Trong nhảy xa kiểu ‘Ưỡn thân”, giai đoạn quan trọng nhất là?
A Giai đoạn chạy đà và giai đoạn giậm nhảy
B Giai đoạn trên không và giai đoạn tiếp đất
C Giai đoạn trên không
D Giai đoạn tiếp đất
Câu 10: Luật điền kinh quy định, chiều dài của ván giậm nhảy trong nhảy xa là:
Câu 11: Đâu lần lượt là chiều dài và chiều rộng của sân đánh đôi cầu lông:
A 13, 40m và 6,10m B 11, 88m và 6,10m
C 11, 88m và 5,18m D 13, 40m và 5,18m
Câu 12: Trong luật cầu lông quy định, trong một ván khi một bên ghi được 11
điểm thì vận động viên được phép nghỉ không quá:
A 30 giây B 60 giây C 90 giây D 120 giây
Câu 13: Để thuận lợi cho việc đá cầu tấn công bằng mu bàn chân (ở nhịp 2) thì
tâng cầu (ở nhịp 1), người chơi thường sử dụng:
Câu 14: Luật đá cầu quy định, thời gian nghỉ trước khi vào thi đấu hiệp thứ ba
không quá:
A 1 phút B 2 phút C 3 phút D 5 phút
Câu 15: Trong luật bóng đá 11 người quy định, cầu thủ đứng ở vị trí việt vị
không bị phạt nếu nhận bóng trực tiếp từ:
C Quả ném biên D Cả ba trường hợp trên
Câu 16: Đâu không phải là một giai đoạn trong kĩ thuật đá bóng băng mu trong
bàn chân:
C Đặt chân trụ và vung chân lăng D Tiếp xúc bóng
E Kết thúc động tác
Câu 17: Trong kĩ thuật đá bóng bằng mu trong bàn chân, góc độ chạy đà hợp
với hướng đá bóng một góc bao nhiêu độ?