Thực trạng về kỹ năng xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn đúng trong dạy học và kiểm tra đánh giá 2.3.. Tuy nhiên, TNKQ nhiều lựa chọn với 4 phương án trả lời, trong đ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT VĨNH LỘC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
BIÊN SOẠN CÂU HỎI TNKQ NHIỀU LỰA CHỌN ĐÚNG GIÚP HOC SINH CỦNG CỐ, HỆ THỐNG HOÁ KIẾN THỨC KHI HỌC CHƯƠNG CƠ CHẾ DI TRUYỀN VÀ BIẾN DỊ
(SINH HỌC 12)
Người thực hiện: Hoàng Thị Nhung Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Sinh học
THANH HOÁ NĂM 2022
Trang 21.3 Đối tượng nghiên cứu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 Lý thuyết về trắc nghiệm khách quan
2.1.2 Hệ thống hoá kiến thức chương: Cơ chế di truyền và biến dị
2.2 Thực trạng về kỹ năng xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách
quan nhiều lựa chọn đúng trong dạy học và kiểm tra đánh giá
2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện
2.3.1 Ứng dụng kỹ thuật viết câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều
lựa chọn (MCQ) để xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều
lựa chọn đúng trong chương Cơ chế di truyền và biến dị
2.3.2 Biên soạn hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa
chọn đúng ở chương Cơ chế di truyền và biến dị (Sinh học 12)
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
3 Kết luận và kiến nghị
3.1 Kết luận
3.2 Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC SKKN ĐƯỢC CÔNG NHẬN
PHỤ LỤC
1
1222
2
224
455
9
18
18
1819 20
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Sách giáo khoa Sinh học 12 - Nhà xuất bản Giáo dục - Bộ Giáo dục và Đàotạo
[2] Sách giáo viên Sinh học 12 - Nhà xuất bản Giáo dục - Bộ Giáo dục và Đàotạo
[3] Tài liệu tập huấn cán bộ quản lí và giáo viên THPT về kĩ thuật xây dựng matrận đề và biên soạn câu hỏi kiểm tra đánh giá môn Sinh học - Bộ Giáo dục và
Đào tạo năm 2016 (Lưu hành nội bộ).
[4] Tài liệu tập huấn cán bộ quản lí và giáo viên THPT về kĩ thuật xây dựng matrận đề và biên soạn câu hỏi kiểm tra đánh giá môn Sinh học 10, 11 - Bộ Giáo
dục và Đào tạo năm 2017 (Lưu hành nội bộ).
[5] Một số trang web mạng: http://webdayhoc.net,
Trang 4DANH MỤC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SKKN NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Tên đề tài
Sáng kiến
Cấp đánh giá xếp loại
Kết quả đánh giá xếp loại
Năm học đánh giá xếp loại
Hướng dẫn học sinh giải bài
toán hoán vị gen trong quá
trình tiếp thu kiến thức mới
số loại kiểu gen và số kiểu
giao phối của quần thể
Ngành GD
Tích hợp giáo dục bảo vệ
môi trường và phòng chống
thiên tai cho học sinh qua
bài:" Diễn thế sinh thái"
(Sinh học 12 – Ban Cơ bản)
Ngành GD cấp tỉnh B 2015 - 2016
Giáo dục giới tính, sức khỏe
sinh sản và định hướng phát
triển kỹ năng phòng chống
xâm hại tình dục cho học
sinh qua học tập chủ đề Sinh
sản ở động vật - Sinh học 11
Ngành GD cấp tỉnh C 2018 - 2019
Trang 51 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, đặc biệt là Nghị quyếtTrung ương số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàndiện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trongđiều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang tiếp tục chủtrương đồng thời đổi mới toàn diện giáo dục từ mục tiêu chương trình, nội dung,phương pháp đào tạo đến các hoạt động của kiểm tra - đánh giá kết quả học tậpcủa người học.[3]
Kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng của quá trình dạy học khôngnhững cung cấp thông tin phản hồi ngược ngoài và ngược trong cho quá trìnhdạy học mà điều quan trọng thông qua kiểm tra đánh giá nhằm phát hiện ranhững lệch lạc, khiếm khuyết từ quá trình dạy và học trên cơ sở đó có kế hoạchđiều chỉnh uốn nắn kịp thời
Có rất nhiều hình thức kiểm tra đánh giá khác nhau: quan sát, vấn đáp,trắc nghiệm tự luận, trắc nghiệm khách quan (TNKQ) Mỗi phương pháp có
ưu, nhược điểm riêng Để nâng cao chất lượng kiểm tra đánh giá cũng như chấtlượng dạy-học, trên thế giới người ta đã kết hợp tất cả các phương pháp kiểm trađánh giá này Trong đó, hình thức trắc nghiệm khách quan bằng cách xâydựng câu hỏi nhiều lựa chọn là hình thức rất quan trọng và chiếm ưu thế, như:điểm số có tính khách quan cao, chính xác, nâng cao hiệu quả quá trình đào tạo(thời gian, kinh phí, phản hồi nhanh ), tránh học tủ, học lệch, đối phó
Tuy nhiên, TNKQ nhiều lựa chọn với 4 phương án trả lời, trong đó cómột phương án đúng như hiện nay đang bộc lộ những hạn chế bật cập cần tháo
gỡ đó là:
(1) Thí sinh có thể đạt điểm tối đa (10/10 điểm) đối với mỗi bài thiTNKQ, nhưng vẫn có một số câu khó ở mức “vận dụng cao” không làm đượcbuộc phải lựa chọn ngẫu nhiên và “may mắn” chọn được phương án “đúng” (2) Chưa khai thác được kỹ thuật ra câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn đúngcủa các kì thi Olympic Sinh học quốc tế để đánh giá chính xác năng lực củangười học, hạn chế tối sự “may rủi” trong kiểm tra, đánh giá, thi; đảm bảo phânloại triệt để năng lực người học
Đối với môn Sinh học, mặc dù đã tiếp cận được kỹ thuật biên soạ n loạicâu hỏi nhiều lựa chọn đúng trong đề thi Olympic Sinh học quốc tế vào đề thi
nhưng với cách hỏi: “Có bao nhiêu kết luận sau đây đúng hoặc sai”; tuy nhiên
vẫn chưa hạn chế tối đa được tính “may rủi” của thí sinh trong khi làm bài
Trong phần Di truyền học, chương Cơ chế di truyền và biến dị cho thấybản chất của hiện tượng di truyền và biến dị Đây là một chương đóng vai tròquan trọng, làm nền tảng cho các chương còn lại của chương trình Sinh học 12 Xuất phát từ những lý do trên, tôi thấy rằng việc “Biên soạn câu hỏi trắc
nghiệm khách quan nhiều lựa chọn đúng giúp học sinh củng cố, hệ thống hoá kiến thức khi học chương Cơ chế di truyền và biến dị (Sinh học 12)”
Trang 6nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học và kiểm tra đánh giá ở các trườngTHPT hiện nay là rất cần thiết.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn đúng đểhướng dẫn học sinh ôn tập, củng cố kiến thức khi học chủ đề: Cơ chế di truyền
và biến dị (Sinh học 12)
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 12, trường THPT Vĩnh lộc
- Học sinh học chủ đề: Cơ chế di truyền và biến dị (Sinh học 12)
1.4 Phương pháp nghiên cứu và giới hạn đề tài
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, như:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Nghiên cứu các cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài
+ Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa lớp 12 chương trình
cơ bản, tài liệu chuẩn kiến thức kĩ năng và các tài liệu của nhiều tác giả khác
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Điều tra, khảo sát thực tế: Điều tra thực trạng về xây dựng câu hỏi trắcnghiệm khách quan nhiều lựa chọn đúng trong dạy học và kiểm tra đánh giá
+ Tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Trao đổi tổng kết kinh nghiệm dạy học.+ Thực nghiệm sư phạm: Nhằm xác định hiệu quả của nội dung đề xuất
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 Lý thuyết về trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm khách quan (tên tiếng Anh là Objective test) là phương phápdùng để kiểm tra nhanh kiến thức, kỹ năng của người nào đó qua các câu hỏiđúng sai, câu hỏi lựa chọn đáp án A, B, C, D để đánh giá.[5]
Trắc nghiệm khách quan là một hình thức được tiến hành thường xuyên ởcác kỳ thi, kiểm tra để đánh giá kết quả của người học đối với một phần củamôn học, toàn bộ môn học, cấp học (thi tốt nghiệp) hoặc dùng để đánh giá nănglực đầu vào của một đối tượng [4]
Trắc nghiệm khách quan gồm các loại sau:
- TNKQ nhiều lựa chọn MCQ: Là loại câu hỏi TNKQ có nhiều câu trả
lời để lựa chọn (hay câu hỏi có nhiều lựa chọn Một câu hỏi loại này gồm có 2phần: Một phần phát biểu chính thường gọi là phần dẫn (câu dẫn hay câu hỏi) vàbốn, năm hay nhiều hơn phương án trả lời cho sẵn Khi giải quyết câu hỏi loạinày, học sinh tìm ra câu trả lời đúng trong nhiều phương án có sẵn Ngoài câuđúng, các câu trả lời khác đều có vẻ hợp lý (hay gọi là câu nhiễu).[5]
- TNKQ dạng “đúng - sai”: Là loại câu hỏi TNKQ yêu cầu học sinh phải
phán đoán đúng hay sai với một câu trần thuật hoặc một câu hỏi, cũng chính là
để học sinh tuỳ ý lựa chọnmột trong 2 đáp án đưa ra [5]
- TNKQ ghép đôi: Đây là loại hình đặc biệt của loại câu hỏi nhiều lựa
chọn, trong loại này có 2 cột gồm danh sách nững câu hỏi và câu trả lời Dựatrên một hệ thức tiêu chuẩn nào đó định trước, học sinh tìm cách ghép những
Trang 7câu trả lời ở cột này với câu hỏi ở cột khác sao cho phù hợp Số câu trong 2 cột
có thể bằng nhau hoặc khác nhau Mỗi câu trong cột trả lời có thể được dùngmột lần hay nhiều lần để ghép với một câu hỏi [5]
- TNKQ điền khuyết: Là loại câu hỏi TNKQ mà học sinh phải điền từ
hoặc cụm từ thích hợp vào chỗ trống Câu trả lời được điền theo ý hiểu của họcsinh với cụm từ tự do.[5]
Trong các dạng trên, câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn MCQ là loại câuthông dụng và được coi là có hiệu quả nhất Bởi vì, với loại câu hỏi này giáoviên có thể sử dụng để kiểm tra đánh giá được nhiều nội dung, nhiều mục đíchkhác nhau; độ tin cậy cao hơn, khả nănng đoán mò hay may rủi ít hơn so với cácloại câu hỏi TNKQ khác; đặc biệt là khi số phương án lựa chọn tăng tên, họcsinh buộc phải xét đoán, phân biệt rõ ràng trước khi trả lời; phát huy khả năngghi nhớ, tư duy tổng hợp hữu hiệu; đảm bảo khách quan khi chấm bài
* Ưu và nhược điểm của kiểm tra, đánh giá bằng hình thức TNKQ:
- Ưu điểm:
+ Nhanh gọn, không phải trình bày cách làm, số lượng câu hỏi lớn nên cóthể bao quát được kiến thức toàn diện của thí sinh; việc chấm điểm trở nên đơngiản, có thể sử dụng phiếu chấm, máy để chấm cho kết quả rất nhanh và đảmbảo được tính công bằng, khách quan cho thí sinh
+ Độ tin cậy cao hơn, khả năng đoán mò hay may rủi ít hơn khi sốphương án lựa chọn tăng lên, thí sinh buộc phải xét đoán, phân biệt rõ ràngtrước khi trả lời câu hỏi
+ Tính chất giá trị tốt hơn Loại bài trắc nghiệm có nhiều câu trả lời có độgiá trị cao hơn nhờ tính chất có thể dùng đo những mức tư duy khác nhau như:khả năng nhớ, áp dụng các nguyên lý, định luật, suy diễn, tổng quát hoá rất hữuhiệu
+ Tính khách quan khi chấm bài Điểm số bài trắc nghiệm khách quankhông phụ thuộc vào các yếu tố như phẩm chất của chữ viết, khả năng diễn đạt
tư tưởng của học sinh hoặc chủ quan của người chấm
+ Những thí sinh có óc sáng tạo, khả năng tư duy tốt có thể tìm ra nhữngcâu trả lời hay hơn đáp án đã cho nên họ không thoả mãn hoặc khó chịu
+ Các câu trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn có thể không đo đượckhả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo mộtcách hiệu nghiệm bằng loại câu trắc nghiệm tự luận soạn kĩ
+ Tốn kém giấy mực để in và mất nhiều thời gian để thí sinh đọc nội dungcâu hỏi Đối với thi trực tuyến, thí sinh phải có kỹ năng sử dụng máy tính nhấtđịnh và được hướng dẫn chi tiết các bước sử dụng phần mềm thi trực tuyến
Trang 82.1.2 Hệ thống hoá kiến thức chương Cơ chế di truyền và biến dị (Sinh học 12)
Trong phần Di truyền học, chương Cơ chế di truyền và biến dị cho thấybản chất của hiện tượng di truyền và biến dị Đây là một chương đóng vai trònền tảng cho các chương còn lại của chương trình Sinh học 12.[1]
Chương Cơ chế di truyền và biến dị gồm có 6 bài lý thuyết và 1 bài thực hành, có thời lượng 7 tiết
Bài 1: Gen, mã di truyền và quá trình nhân đôi ADN, gồm có:
- Khái niệm, phân loại gen, cấu trúc chung của gen cấu trúc;
- Khái niệm, đặc điểm của mã di truyền;
- Quá trình nhân đôi ADN
Bài 2: Phiên mã và dịch mã, gồm có 2 nội dung:
- Quá trình phiên mã;
- Quá trình dịch mã
Bài 3: Điều hoà hoạt động gen
- Khái niệm điều hoà hoạt động gen;
- Cấu trúc operon Lactose theo Jacop và Mono;
- Điều hoà hoạt động gen ở sinh vật nhân sơ và sinh vật nhân thực
Bài 4: Đột biến gen
- Khái niệm và các dạng đột biến gen;
- Nguyên nhân và cơ chế phát sinh đột biến gen;
- Hậu quả và ý nghĩa đột biến gen
Bài 5: Nhiễm sắc thể và các dạng đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể, gồm 3
nội dung cơ bản:
- Cấu trúc hiển vi và siêu hiển vi của nhiễm sắc thể
- Khái niệm đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể;
- Nguyên nhân và cơ chế phát sinh các dạng đột biến cấu trúc NST
Bài 6: Đột biến số lượng nhiễm sắc thể, gồm có:
- Khái niệm, phân loại, cơ chế phát sinh lệch bội; hậu quả và vai trò;
- Khái niệm, phân loại, cơ chế phát sinh đa bội; hậu quả và vai trò
2.2 Thực trạng về biên soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn đúng trong dạy học và kiểm tra đánh giá.
Nhằm tiếp tục đổi mới chất lượng dạy học và kiểm tra đánh giá, từ năm
2011 đến nay, Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hoá đã tổ chức 06 chuyên đề tậphuấn, hội thảo về đổi mới dạy học và kiểm tra đánh giá cho 1484 giáo viên cốtcán cấp tỉnh dạy môn Sinh học Vì thế, phần lớn giáo viên ở các trường THPThiện nay đã tương đối thành thạo trong việc xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQnhiều lựa chọn trong dạy học nhằm củng cố kiến thức và kiểm tra đánh giá Tuy nhiên, việc biên soạn và sử dụng câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn đúngtrong dạy học và kiểm tra đánh giá ở các trường THPT hiện nay còn chưa đượcnhiều giáo viên quan tâm đúng mức Nguyên nhân của thực trạng trên là:
Về phía giáo viên: Nhiều giáo viên có tư tưởng ngại khó, ngại biên soạn và
sử dụng loại câu hỏi này vì cho rằng hiện nay trong đề thi không có Một bộphận giáo viên có sức ì rất lớn, rất ngại thay đổi,
Trang 9Về phía học sinh: một bộ phận các em vẫn còn tư tưởng ngại học, ngại tư
duy nên thích làm các dạng câu hỏi TNKQ khác hơn vì dễ đoán mò hay vẫntrông chờ vào sự may rủi
Chính vì thế, việc biên soạn và sử dụng câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọnđúng trong dạy học nhằm củng cố, hệ thống kiến thức và kiểm tra đánh giá là rấtcần thiết đối với giáo viên ở các trường THPT hiện nay
2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện.
2.3.1 Ứng dụng kỹ thuật viết câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn (MCQ) để biên soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn đúng trong chương Cơ chế di truyền và biến dị
Về cơ bản, quy trình viết câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn đúng cũngtuân thủ theo đúng trình tự các bước kỹ thuật viết câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựachọn Gồm các bước như sau:
Bước 1: Xây dựng ma trận đề thi và bảng đặc tả đề thi;
Bước 2: Soạn câu hỏi thô (đề xuất ý tưởng);
Bước 3: Rà soát, chọn lọc, biên tập và thẩm định câu hỏi thi (thẩm định
nội dung, kĩ thuật và ngôn ngữ);
Bước 4: Thử nghiệm, phân tích, đánh giá câu hỏi thi;
Bước 5: Chỉnh sửa các câu hỏi sau thử nghiệm;
Bước 6: Xây dựng đề thi, thử nghiệm, phân tích, đánh giá các đề thi; Bước 7: Chỉnh sửa sau khi thử nghiệm đề thi;
Bước 8: Rà soát, chọn lọc và ngân hàng câu hỏi thi [3]
Quy trình viết câu hỏi thô
Bước 1: Nghiên cứu kĩ ma trận đề thi và bản đặc tả đề thi;
Bước 2: Nghiên cứu kĩ các cấp độ (thông số), đơn vị kiến thức của câu
hỏi cần viết;
Bước 3: Viết lời dẫn câu hỏi;
Bước 4: Viết các phương án cho câu hỏi (phương án đúng và phương án
nhiễu);
Bước 5: Giải thích lý do cho việc viết các phương án nhiễu;
Bước 6: Phản biện chéo (2 giáo viên phản biện cho nhau);
Bước 7: Phản biện, góp ý câu hỏi vòng tròn theo nhóm (giáo viên lập
thành 1 nhóm từ 4-5 người);
Bước 8: Hoàn thiện sau khi phản biện nhóm và nhập liệu câu hỏi vào máy
tính theo mã người viết.[3]
Khi viết phần dẫn cần đảm bảo một số nguyên tắc sau:
- Đảm bảo rằng các hướng dẫn trong phần dẫn là rõ ràng và việc sử dụng từ ngữ cho phép thí sinh biết chính xác họ được yêu cầu làm cái gì.
Ví dụ: Quá trình nhân đôi ADN tuân theo:
Trang 10A Nguyên tắc bổ sung B Nguyên tắc bán bảo tồn.
C Nguyên tắc bảo tồn D Nguyên tắc khuôn mẫu.
Phương án trả lời đúng là: A, B, D đúng
=> Phần dẫn này không cung cấp định hướng đầy đủ, rõ ràng nên học sinh cóthể chỉ chọn đáp án A, B hoặc D
Nên sửa thành: Quá trình nhân đôi ADN tuân theo những nguyên tắc nào?
- Để nhấn mạnh vào kiến thức thu được nên trình bày câu dẫn theo định dạng câu hỏi thay vì định dạng hoàn chỉnh câu Nếu phần dẫn có định dạng hoàn chỉnh câu, không nên tạo một chỗ trống ở giữa hay ở bắt đầu phần câu dẫn.
Ví dụ: Điều hoà hoạt động gen ở là hình thức điều hoà xảy ra
chủ yếu ở sinh vật nhân sơ
A cấp độ sau phiên mã B cấp độ phiên mã.
Phương án trả lời đúng là: B
=> Không nên viết câu dẫn định dạng này vì gây khó khăn cho học sinh khi đọc.Nên sửa thành: Sự biểu hiện điều hòa hoạt động của gen ở sinh vật nhân sơdiễn ra chủ yếu ở cấp độ nào?
Ví dụ: Trong cơ chế điều hòa Operon Lac ở E.coli, gen điều hoà nằm trước
operon có vai trò mang thông tin cho việc tổng hợp một protein ức chế tác độnglên vùng vận hành Trong môi trường có lactose cũng như không có lactose genđiều hòa R luôn hoạt động tạo ra protein ức chế Gen điều hòa R có đặc điểmcấu trúc như thế nào khiến nó luôn hoạt động?
A Gen điều hòa R vùng O bị đột biến nên không bị ức chế.
B Gen điều hòa R không có vùng O nên không bị ức chế.
C Gen điều hòa R tại vùng O của nó enzim ARN polimeraza luôn gắn vào.
D Gen điều hòa R vùng P của nó không bị protein ức chế gắn vào.
Phương án trả lời đúng là: B
=> Phần dẫn này chứa nội dung không liên quan gì với trọng tâm của tiểu mục,nên sửa thành: Trong cơ chế điều hòa Operon Lac ở E.coli, trong môi trường cólactose cũng như không có lactose gen điều hòa R luôn hoạt động tạo ra protein
ức chế Gen điều hòa R có đặc điểm cấu trúc như thế nào khiến nó luôn hoạtđộng?
- Nên trình bày phần dẫn ở thể khẳng định Khi dạng câu phủ định được
sử dụng, từ phủ định cần phải được nhấn mạnh hoặc nhấn mạnh bằng cách đặt
in đậm hoặc gạch chân hoặc tất cả.
Ví dụ: Những nhận định nào sau đây là không đúng khi nói về vùng vận hành
operon Lac?
A Vùng vận hành (O) nằm trước vùng khởi động (P); là điểm gắn enzim ARN
Trang 112.3.1.2 Kỹ thuật viết các phương án lựa chọn:
- Phương án lựa chọn có 2 loại:
+ Phương án đúng: Thể hiện sự hiểu biết của học sinh và sự lựa chọnchính xác hoặc tốt nhất cho câu hỏi hay vấn đề yêu cầu
+ Phương án nhiễu: Chỉ là câu trả lời hợp lý nhưng không chính xác đốivới câu hỏi hoặc vấn đề được nêu ra trong câu dẫn Chỉ hợp lý đối với nhữnghọc sinh không có kiến thức hoặc không đọc tài liệu đầy đủ
Khác với câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn (MCQ) chỉ có một phương
án đúng thì câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn đúng có thể có vài phương án trảlời đúng
Khi viết các phương án lựa chọn cần lưu ý:
- Có nhiều phương án trả lời đúng, nên sắp xếp các phương án theo một thứ tự nào đó Câu trả lời có thể được sắp xếp tăng dần hoặc giảm dần theo thứ
tự bảng chữ cái, độ lớn.
Ví dụ: Trong số các bệnh nhân mắc bệnh: Đao, Tơcnơ, Patau, Claiphentơ thì
những bệnh nào có 47 NST trong tế bào cơ thể?
Bệnh Tơcnơ (có 1 NST giới tính X) nên tổng số NST là 45
- Khi viết phương án lựa chọn cần cân nhắc sử dụng những phương án hay hình thức có ý nghĩa trái ngược nhau hoặc phủ định nhau.
Khi chỉ có 2 câu trả lời có ý nghĩa trái ngược nhau trong các phương ánlựa chọn thì học sinh có xu hướng dự đoán một trong 2 phương án đó là phương
án đúng và tập trung vào 2 phương án đó Để khắc phục hiện tượng này, nên xâydựng các phương án có ý nghĩa trái ngược nhau đôi một hoặc sử dụng nhiềuphương án trả lời đúng
Ví dụ: Nhiệt độ nóng chảy của ADN là nhiệt độ để phá vỡ liên kết hidro và làm
tách hai mạch đơn của phân tử Hai phân tử ADN có chiều dài bằng nhau nhưngphân tử ADN thứ nhất có tỷ lệ giữa nucleotit loại A/G lớn hơn phân tử ADN thứ
hai Những kết luận nào sau đây là đúng?
A Nhiệt độ nóng chảy của phân tử ADN thứ nhất nhỏ hơn phân tử ADN thứ
hai
B Nhiệt độ nóng chảy của phân tử ADN thứ nhất bằng phân tử ADN thứ hai.
C Nhiệt độ nóng chảy của phân tử ADN thứ nhất lớn hơn phân tử ADN thứ hai.
Trang 12D Nhiệt độ nóng chảy của phân tử ADN phụ thuộc vào tỷ lệ A/G.
Phương án trả lời đúng là: A, D
- Các phương án lựa chọn phải đồng nhất theo nội dung, ý nghĩa và về mặt hình thức (độ dài, từ ngữ, ) Tránh lặp lại một từ ngữ/ thuật ngữ nhiều lần trong câu hỏi.
Học sinh sẽ có khuynh hướng lựa chọn câu không giống những lựa chọn khác dẫn đến dễ đoán mò Không nên để các câu trả lời đúng có khuynh hướngngắn hơn hoặc dài hơn các phương án khác Tính đồng nhất có thể dựa trên cănbản ý nghĩa, âm thanh, độ dài, loại từ
Ví dụ: Sự biểu hiện điều hòa hoạt động của gen ở sinh vật nhân thực diễn ra ở:
A Cấp độ sau phiên mã B Cấp độ phiên mã.
- Viết các phương án nhiễu ở thể khẳng định
Giống như phần dẫn, các phương án nhiễu phải được viết ở thể khẳng
định, có nghĩa cần tránh các phủ định dạng không và trừ Trong một số trường hợp không thể tránh được các từ này, thì cần phải in đậm, gạch chân hoặc viết
B Sự phiên mã chỉ xảy ra trong nhân tế bào.
C Không phải tất cả quá trình phiên mã đều trải qua giai đoạn hoàn thiện
mARN
D Quá trình phiên mã thường tạo ra nhiều loại mARN trưởng thành khác nhau
từ 1 gen duy nhất
Phương án trả lời đúng là: C, D
- Tránh sử dụng cụm từ: tất cả các phương án trên, hay không có phương
án nào Nếu như thí sinh có thông tin một phần (biết rằng 2 hoặc 3 lựa chọn cho
là đúng/sai), thông tin đó có thể gợi ý cho học sinh việc lựa chọn phương án tất
cả các phương án trên hoặc không có phương án nào).
- Tránh các thuật ngữ mơ hồ, không có xác định cụ thể về mức độ như thông thường, phần lớn, hầu hết hoặc các từ hạn định như không bao giờ, luôn luôn, tuyệt đối,
- Tránh các kiến thức quá riêng biệt, những kiến thức chưa được kiểm chứng gây nhiều tranh cãi hoặc câu hỏi dựa trên ý kiến cá nhân.
- Tránh việc sử dụng việc khôi hài, sự khôi hài có thể làm giảm các yếu tố nhiễu có sức thuyết phục hơn, cũng có thể làm cho học sinh xem bài trắc nghiệm kém nghiêm túc hơn.