Tuy nhiên, tiếp cận với cácvăn bản nghị luận, một thể loại văn học mới được đưa vào trong sách giáo khoamột cách phổ biến, chúng tôi nhận thấy rằng : Tìm hiểu các văn bản nghị luận,học s
Trang 11 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Trong chương trình Ngữ Văn THPT, môn đọc văn giữ vị trí đặc biệtquan trọng đọc văn góp phần cung cấp một hệ thống tri thức phổ thông cơ bản,hiện đại về văn học dân tộc và văn học thế giới; rèn luyện nâng cao năng lựcđọc, cảm nhận cái hay, cái đẹp của văn chương Trên cơ sở đó, bồi đắp những tưtưởng tình cảm nhân văn cao đẹp cho học sinh Nói cách khác, đọc văn với vịthế là một môn học vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính khoa học có mộtsức hút vô cùng mạnh mẽ Nó đưa người học bước vào một lĩnh vực hoạt động
ở đó có sự hoà quện giữa rung động và suy nghĩ, giữa thực và mơ, từ đó mở racho học sinh một chân trời mới của sức sáng tạo và cái đẹp
Những năm trở lại đây, đất nước không ngừng phát triển về mọi mặt.đáp ứng nhu cầu đó, Đảng và Nhà nước chủ trương thực hiện quá trình đổi mớigiáo dục một cách toàn diện góp phần đào tạo nguồn nhân lực năng động sángtạo phục vụ cho sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước Nhiệm vụ trọng yếunhất của đổi mới giáo dục là thực hiện đổi mới, trong đó có đổi mới phươngpháp dạy học(PPDH) Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điềukiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổchức, quản lý Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan Mỗigiáo viên với kinh nghiệm riêng của mình cần xác định những phương hướngriêng để cải tiến phương pháp dạy học và kinh nghiệm của cá nhân
Nói đến vai trò rèn luyện năng lực tư duy cho học sinh của môn giảng văn,người ta thường nhấn mạnh đến năng lực tư duy hình tượng (tìm hiểu khám phá
vẻ đẹp hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học) Điều đó được xác nhậnthông qua hệ thống các tác phẩm thơ, truyện và kịch Tuy nhiên, tiếp cận với cácvăn bản nghị luận, một thể loại văn học mới được đưa vào trong sách giáo khoamột cách phổ biến, chúng tôi nhận thấy rằng : Tìm hiểu các văn bản nghị luận,học sinh không chỉ được trau dồi về năng lực tư duy hình tượng thẩm mĩ mà cònnâng cao năng lực tư duy logic khoa học chặt chẽ Đặc biệt tiếp cận với các vănbản nghị luận đặc sắc như thể loại phê bình văn học, học sinh được học tập kĩnăng làm văn nghị luận (hành văn diễn đạt, chọn trình bày dẫn chứng, nghệthuật lập luận, tư duy logic ) từ đó vận dụng trong thực tiễn viết bài làm văn Nói cách khác, đọc hiểu văn bản nghị luận tạo nên mối liên hệ hữu cơ giữahai phân môn Đọc văn và làm văn Tuy nhiên, vì mới được đưa vào trongchương trình nên vấn đề dạy và học các văn bản nghị luận còn khá mới mẻ, khókhăn với cả giáo viên và học sinh Thiết nghĩ, việc nâng cao hiệu quả dạy cácvăn bản thuộc thể loại nghị luận là một việc làm cần phải được chú trọng đặcbiệt Nó mang tính bức thiết đòi hỏi mỗi giáo viên phải không ngừng trau dồi,tìm tòi phương pháp, cách thức tổ chức để tạo hứng thú, cuốn hút học sinh tronggiờ học, giúp các em chiếm lĩnh văn bản một cách chủ động Có như vậy, các
em mới xứng đáng là con người mới – con người XHCN ở thế kỉ XX
Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển
từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chútrọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của
Trang 2người học Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH là phát huy tính tíchcực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làmviệc của người học Đó cũng là những xu hướng tất yếu trong cải cách PPDH
tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/
TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theođịnh hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phươngpháp dạy học theo hướng này
Tuy nhiên, tổ chức dạy học nhằm giúp học sinh hình thành và phát triểnnăng lực, phẩm chất cũng không phải là mới Song, quá trình tổ chức dạy học đểphát huy năng lực cá nhân, tạo điều kiện cho học sinh được sáng tạo và tươngtrợ lẫn nhau trong học tập thì mỗi tiết học cần sự thay đổi và thay đổi cụ thểtrong mỗi giáo viên
Bản thân nhận thấy rằng: Học sinh có tích cực chủ động, sáng tạo thamgia vào quá trình tìm hiểu, tiếp nhận văn bản thì các em mới hiểu nhanh và hiểusâu Trong bài viết này , người viết không có tham vọng đi sâu vào tìm hiểu tất
cả các tác phẩm văn học được dạy trong chương trình THPT mà mạnh dạn nêumột vài suy nghĩ về việc: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học
sinh qua văn bản “Một thời đại trong thi ca”(Hoài Thanh), tiết PPCT
105-106 , Ngữ Văn 11, tập 2.
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Từ việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh thông quamột số phương pháp, biện pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, phương tiện thiết bịdạy học hiện đại nhằm nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh, giúpcác em tiếp cận, khám phá một cách sâu sắc nhất về nhà nghiên cứu phê bìnhvăn học Hoài Thanh và “Tinh thần thơ mới” trong ý nghĩa văn chương và ýnghĩa xã hội Đồng thời, kích thích tinh thần tự học của học sinh, tạo không khísôi nổi cho giờ dạy, từ đó chất lượng giờ dạy được nâng cao
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là nhà nghiên cứu phê bình văn học Hoài Thanh và
văn bản “Một thời đại trong thi ca”(Hoài Thanh) (Sgk Ngữ Văn 11, tập 2,NXB Giáo dục 2008 từ Tr 100 đến Tr 103) Trên cơ sở khoa học về việc xâydựng kế hoạch GD nhà trường do Sở GD& ĐT cho phép các trường tự xây dựng
để phù hợp thực tiễn nhà trường Trường THPT Hậu Lộc 4 xây dựng kế hoạch
GD nhà trường cho văn bản là 3 tiết: Tiết PPCT 104-105-106 Do thời gian
Trang 3không cho phép nên trong đề tài này, tôi chỉ mạnh dạn nêu một vài suy nghĩ vềviệc: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh qua văn bản
“Một thời đại trong thi ca”(Hoài Thanh), tiết PPCT 105-106, Ngữ Văn 11, tập 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Trong phạm vi đề tài, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như:Phương pháp thống kê; Phương pháp phân tích, so sánh; Phương pháp vấn đáp -gợi mở… và một số phương pháp khác
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.1 Bám sát nguyên tắc dạy học văn bản theo đặc trưng bài học.
2.1.1.1 Văn nghị luận và đặc trưng của văn nghị luận.
Nghị luận là một thể loại văn học đặc biệt, dùng lí lẽ, phán đoán, chứng
cứ để bàn về một vấn đề nào đó thuộc lĩnh vực như chính trị, xã hội, vănhọc Vấn đề được nói ra như một câu hỏi cần phải giải đáp, làm sáng tỏ Luận làbàn luận đúng- sai, phải –trái, khẳng định điều này, bác bỏ điều kia để người tanhận ra chân lí, đồng tình với mình,chia sẻ quan điểm và niềm tin của mình Sứcmạnh của văn nghị luận biểu hiện ở sự sâu sắc của tư tưởng, tình cảm, tínhmach lạc chặt chẽ của suy nghĩ và cách trình bày, luận chặt chẽ đầy sức thuyếtphục Vận dụng các thao tác như giải thích , phân tích, chứng minh, bác bỏ sosánh Nghị luận tác động vào lí trí, nhận thức và cả tâm hồn người đọc, giúp họhiểu rõ những vấn đề nêu ra
Văn nghị luận ngoài yếu tố trình bày, diễn giải, ít hoặc nhiều, trực tiếphoặc gián tiếp, còn có yếu tố tranh luận Do đó, ngôn ngữ trong văn nghị luậncũng giàu hình ảnh và sắc thái biểu cảm nhưng quan trọng nhất là “ phải dùng từvới một sự chính xác nghiệt ngã” (M Go rơ ki) Nghị luận có thể chia thành hai
thể chính : Văn chính luận và văn phê bình văn học Dựa trên cách phân loại
đó, chúng tôi nhận thấy, số lượng văn bản nghị luận được đưa vào chương trìnhTHPT là khá đa dạng
2.1.1.2 Thể loại văn phê bình văn học và đặc trưng của phê bình văn học.
Phê bình văn học có thể hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa thông tục của ngôn
ngữ thường nhật hay nghĩa hẹp, nghĩa chuyên môn của khoa học văn học Theo
nghĩa thứ nhất, phê bình chỉ bất kỳ một sự khen chê, bình phẩm, đánh giá nào đó
về một tác phẩm, một sự kiện văn học, một tác giả, từ vi mô một nhãn tự, một câu văn, một dòng thơ đến vĩ mô một sự nghiệp sáng tạo, một nền văn học dân tộc Nó có thể chỉ là một lời nhận xét thông thường, nhưng cũng có thể là nhữngphương châm, những nguyên lý chỉ đạo văn chương từ một ý thức hệ triết học
hoặc thẩm mỹ nào đó Phê bình văn học ở nghĩa này là kẻ song sinh với sáng
tác, có sáng tác là có phê bình
Phê bình theo nghĩa rộng thường chỉ biết đến tác phẩm Một thứ tác phẩm không có liên lạc gì đến tác giả và người đọc Và người phê bình văn học đứng ngoài hệ thống văn học này Hơn nữa, khi nhận xét tác phẩm, người phê bình
thường cũng chỉ coi đó là một cái cớ để phát biểu những ý kiến chủ quan của mình, thoảng hoặc nếu có chiếu cố đến tác phẩm thì cũng chỉ để so sánh nó với
Trang 4những nguyên lý đã được định trước, những lời chỉ dạy của thánh hiền, những khuôn vàng thước ngọc của cổ nhân Bởi vậy, phê bình này rất chú trọng đến ý nghĩa đạo đức của tác phẩm văn học,.
Một khoa học muốn trở thành khoa học phải có một đối tượng riêng, một
phương pháp nghiên cứu riêng Vậy đối tượng của phê bình văn học là gì? Theo tôi, đó là tác phẩm Người ta có thể phê bình một tác giả, một hiện tượng văn
học, thậm chí một thời đại văn học, nhưng cơ sở của tất cả các phê bình trên vẫn
là phê bình tác phẩm Bởi, tác phẩm “bầu” nên nhà văn, gây thành hiện tượng, tạo ra những thời đại văn chương Như vậy, tác phẩm vừa là ga đi mà cũng là gađến của phê bình văn học
Văn học là nghệ thuật ngôn từ, nhà văn dùng ngôn từ để xây dựng nhữnghình tượng nghệ thuật Mỗi tác phẩm văn học không chỉ phản ánh hiện thựccuộc sống phong phú, đa dạng mà còn có khả năng gây ấn tượng, tình cảm, tạo
tư duy cảm xúc cho người đọc Học Văn không chỉ có tác dụng bồi dưỡng chohọc sinh kiến thức như môn khoa học thông thường mà còn có vai trò hết sứcquan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách, đặc biệt bày tỏ trựctiếp tư tưởng, quan điểm, tình cảm của bản thân về vấn đề đặt ra qua tác phẩm
Để đạt được điều đó, khi khám phá một tác phẩm văn học, đặc biệt là văn phêbình văn học người giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm hiểu kĩ về tác giả, vềnghệ thuật lập luận, cách nêu chứng cứ, sử dụng ngôn ngữ Trong tiết học này,
giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu về tiểu luận Một thời đại trong thi ca dựa trên những quan niệm của Hoài Thanh về tinh thần thơ mới trong ý nghĩa văn
chương và xã hội, tìm hiểu về nghệ thuật lập luận Từ việc nắm chắc nhữngyếu tố này, học sinh hiểu sâu sắc về các nhà thơ mới, từ đó rút ra những bài học
bổ ích cho bản thân Đây là một trong những yếu tố hình thành và phát triển tàinăng, nhân cách cho học sinh
2.1.2 Dạy văn bản: Một thời đại trong thi ca như một tác phẩm đặc biệt.
Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh là một bài tiểu luận tổng kết sâu
sắc phong trào Thơ mới, đồng thời thể hiện sâu sắc văn phong của Hoài Thanh
Do vậy, phương pháp thích hợp để giảng dạy văn bản như một tác phẩm đặc biệtcần phối hợp nhiều thủ pháp, biện pháp, phương pháp khác nhau vừa đảm bảophù hợp với đặc trưng bài học, vừa phát huy được tính tích cực chủ động củahọc sinh, vừa hướng dẫn học sinh làm việc tại lớp, làm việc tại nhà Có như vậymới hoàn thành được mục tiêu đề ra Phương pháp này gồm một số biện phápnhư: Hướng dẫn học sinh tự làm việc với sách giáo khoa; Hướng dẫn học sinhthu thập, chọn lọc, sắp xếp tư liệu có liên quan đến bài học về Hoài Thanh, vềcác nhà Thơ mới; Hướng dẫn học sinh thuyết trình, thảo luận …
2.1.3 Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
2.1.3.1 Thế nào là phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
Theo từ điển Tiếng Việt: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tựnhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Hoặc: Năng lực là khả nănghuy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng để thực hiện thành công một loại
Trang 5công việc trong một bối cảnh nhất định Năng lực gồm có năng lực chung vànăng lực đặc thù Năng lực chung là năng lực cơ bản cần thiết mà bất cứ ngườinào cũng cần phải có để sống và học tập, làm việc Năng lực đặc thù thể hiệntrên từng lĩnh vực khác nhau như năng lực đặc thù môn học là năng lực đượchình thành và phát triển do đặc điểm của môn học đó tạo nên.
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học được xem như mộtnội dung giáo dục, một phương pháp giáo dục Điều quan trọng hơn cả là nếu so
sánh với các quan niệm dạy học trước đây, việc “Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh” sẽ làm cho việc dạy và việc học được tiếp cận gần hơn,
sát hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách con người
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý
tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời
gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc họctập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV – HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quantrọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và
kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tậpphức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp
2.1.3.2 Những đặc trưng cơ bản của việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lựcthể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:
-Thứ nhất: Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập,
giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thunhững tri thức được sắp đặt sẵn Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinhtiến hành các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiếnthức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn
- Thứ hai: Chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa
và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận đểtìm tòi và phát hiện kiến thức mới Định hướng cho học sinh cách tư duy nhưphân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… đểdần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo
- Thứ ba: Tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học
trở thành môi trường giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết
và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ họctập chung
- Thứ tư: Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong
suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học).
Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh vớinhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác địnhtiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai
sót(tạo điều kiện để học sinh tự bộc lộ, tự thể hiện, tự đánh giá).
2.1.3.3 Những năng lực và phẩm chất cần thiết của học sinh cần phát huy
trong giờ học về tiểu luận: Một thời đại trong thi ca(Hoài Thanh):
Trang 6+ Những năng lực cần thiết:
- Năng lực tự học:
Học sinh sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin… từ đóhiểu sâu sắc về nhà nghiên cứu phê bình văn học Hoài Thanh, thấu rõ hơn nộidung tinh thần thơ mới và bi kịch của các nhà thơ mới
- Năng lực giải quyết vấn đề:
Phân tích được những nguyên nhân dẫn đến bi kịch của các nhà thơ mới, cáchgiải thoát của họ ,từ đó thu thập thông tin và có những giải pháp giải quyết phùhợp, đặc biệt là cách giải quyết của bản thân khi gặp bi kịch trong cuộc sống
- Năng lực sáng tạo.
Học sinh có những suy nghĩ về cách hiểu bài tiểu luận Một thời đại trong thi ca
không theo lối mòn mà có những sáng tạo độc đáo, tích cực
- Năng lực tự quản lí bản thân:
Học sinh làm chủ được cảm xúc của bản thân trong tiết học này
- Năng lực giao tiếp
Học sinh chủ động , biết tôn trọng, lắng nghe và có phản ứng tích cực trong giờhọc Các em tự tin nói trước lớp, biết lựa chọn nội dung và ngôn ngữ phù hợpvới bài học
- Năng lực hợp tác.
Có ý thức trách nhiệm để tạo nên không khí sôi nổi trong giờ học Khiêm tốntiếp thu sự góp ý và nhiệt tình chia sẻ những hiểu biết của mình về bài tiểu luậncho các bạn trong lớp
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ.
Học sinh trong lớp nghe hiểu và chắt lọc thông tin bổ ích từ bài bài giảng củagiáo viên, từ sách giáo khoa…để có cách sử dụng ngôn từ phù hợp khi nói vàviết
+ Những phẩm chất cần thiết:
Từ bài tiểu luận Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh) giáo viên giúp cho
hoc sinh hiểu sâu sắc hơn về những phẩm chất đáng quý ở Hoài Thanh, ở mỗinhà thơ mới Đó là khát khao được hòa nhập và cao hơn là tình yêu đất nướcthầm kín Đó còn là sự đồng cảm, thấu hiểu , là sự tự lập, tự tin và tinh thầnvượt qua bi kịch, là lối sống có trách nhiệm không chỉ với bản thân mà còn với
cộng đồng, đất nước.
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN
2.2.1 Thực trạng
Từ những điều nói trên, giúp ta hiểu một thực tế rằng :
Thứ nhất: Các bài dạy về văn nghị luận, đặc biệt là văn phê bình văn học
thường hay khô khan Vì vậy, từ trước đến nay, việc dạy học về các tác phẩmvăn nghị luận nói chung, dạy học về các tác phẩm phê bình văn học nói riêngnhiều giáo viên và học sinh không mấy hào hứng thậm chí còn có cảm giác nặng
nề, nhàm chán Thầy cô thì cố gắng dạy cho xong “nghĩa vụ’’, hết bài là được,chỉ giảng lại các kiến thức mà SGK đã viết, còn học sinh thì hờ hững, khôngquan tâm, kiến thức thu được như người “cưỡi ngựa xem hoa ”
Trang 7Thứ hai :Tâm lí chung của nhiều giáo viên và học sinh cho rằng: Đây là
tác phẩm gần cuối kì, cuối năm học, không quan trọng nên không nhất thiết phảihọc kĩ, học sâu, chỉ cần nắm qua kiến thức cơ bản Tâm lí ấy đã ảnh hưởngkhông nhỏ đến chất lượng giờ dạy
Thứ ba : Do tâm lí của cả giáo viên và học sinh, đó là: Mấy năm gần đây,
chưa có kì thi quan trọng nào ra riêng về thể văn phê bình văn học Vì vậy,nhiều thầy cô chưa thực sự đầu tư thoả đáng cho tiết dạy của mình, còn soạn sơsài theo kiểu đối phó
Cuối cùng, do xu thế của học sinh ngày nay, các em chủ yếu chuyên tâm
học các môn khoa học tự nhiên, rất ít em học các môn xã hội Đây một phầncũng do cái nhìn thực tế, khối thi thuộc các môn xã hội số lượng trường thi ít, ratrường cơ hội tìm việc làm cũng không dễ Mặt khác, số lượng học sinh say mê
và ham học môn Ngữ Văn rất ít, nếu không nói là là rất hiếm
2.2.2 Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên
Từ những điều nói trên, có thể nói: Nhìn chung, các giờ dạy về thể văn phê
bình văn học còn rời rạc, bài giảng chưa thực sự cuốn hút học sinh, giáo viêncảm thấy khó giảng, học sinh chán học, ngồi nói chuyện, làm việc riêng, hoặcngủ gật không khí lớp trầm lắng, mệt mỏi Chất lượng bài giảng chưa đạtđược kết quả cao
Do vậy, tìm ra phương pháp dạy tốt nhất , phù hợp nhất với đặc trưng bàihọc, để tạo hứng thú cho học sinh quả là một việc làm không dễ Đó là một thửthách lớn với không ít giáo viên
Với tôi , một giáo viên có lương tâm nghề nghiệp, tôi luôn băn khoăn ,trăntrở về vấn đề trên Song, nhân đây, tôi cũng mạnh dạn đưa ra một vài suy nghĩcủa mình về việc : Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh qua
văn bản “Một thời đại trong thi ca”(Hoài Thanh), tiết PPCT 105-106, Ngữ Văn 11, tập 2.
2.3 Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1 Một số biện pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực qua
văn bản “Một thời đại trong thi ca”(Hoài Thanh), Ngữ Văn 11, tập 2.
- Thứ nhất: Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống
Các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyệntập luôn là những phương pháp quan trọng trong dạy học Đổi mới phương phápdạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống quenthuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhượcđiểm của chúng Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này ngườigiáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹthuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, chẳng hạnnhư kỹ thuật mở bài, kỹ thuật trình bày, giải thích trong khi thuyết trình, kỹthuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làmmẫu trong luyện tập Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống cónhững hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thốngcần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, đặc biệt là những phươngpháp và kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh Chẳng
Trang 8hạn có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình,đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề.
- Thứ hai: Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực
tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề Học được đặt trong một tìnhhuống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông quaviệc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương phápnhận thức Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tíchcực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học vớinhững mức độ tự lực khác nhau của học sinh
- Thứ ba: Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học
Không có một phương pháp dạy học toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu
và nội dung dạy học Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những ưu,nhựơc điểm và giới hạn sử dụng riêng Vì vậy việc phối hợp đa dạng cácphương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phươnghướng quan trọng để phát huy tính tích cực, chủ động và nâng cao chất lượngdạy học Trong tiết học này giáo viên sử dụng nghiều phương pháp dạy họckhác nhau để phát triển năng lực học sinh như: Phương pháp vấn đáp- gợi mở;phương pháp động não; phương pháp tự nghiên cứu; phương pháp diễn giải;phương pháp trình bày một phút; phương pháp học thông qua thực hành, đặc
biệt là phương pháp kể chuyện, từ đó các em hiểu sâu sắc hơn về cuộc đời, văn
phong Hoài Thanh, về nội dung tinh thần thơ mới cũng như bi kịch của các nhàthơ mới
- Thứ tư: Sử dụng kết hợp các phương tiện dạy học hiện đại
Như trên đã nói, dạy văn học sử, đặc biệt là phần tác giả thường rơi vào sựkhô khan, nhàm chán nên tôi cho rằng cần sinh động hoá giờ học bằng cách vậndụng linh hoạt các phương tiện dạy học hiện đại Nhận thức được điều này,nhiều giáo viên đã dạy học bằng giáo án điện tử Đây là một hình thức dạy họctiên tiến , có khả năng lưu trữ, tích hợp, thể hiện thông tin nhanh đa dạng, chophép đẩy mạnh sự tương tác giữa thầy và trò dẫn đến sự thay đổi sâu xa hìnhthức dạy và học Nếu được đầu tư cẩn thận, phương pháp này sẽ giúp cho ngườihọc dễ dàng tiếp thu, khắc sâu kiến thức và tăng hứng thú cho học sinh nhiềuhơn, đặc biệt là khi giảng những nội dung có minh hoạ bằng tranh ảnh, âmthanh, sơ đồ Mặt khác, hình thức dạy này vừa lạ đối với học sinh vừa giúpgiáo viên tiết kiệm một lượng lớn thời gian ghi bảng, giáo viên sẽ sử dụng thờigian đó vào việc mở rộng vấn đề liên hệ những kiến thức bên ngoài góp phầnlàm cho bài học phong phú, sinh động , sâu sắc hơn
Cái được nhất ở mỗi tiết giảng bằng giáo án điện tử chính là một lượngkiến thứ , hình ảnh trực quan sinh động được chuyển tải đến các em học sinh Giáo viên vừa có thể thực hiện việc giảng dạy ở bất cứ không gian, thời giannào vừa hạn chế bị cháy giáo án vừa tránh được bụi phấn và hạn chế những cănbệnh thường thấy do ảnh hưởng của nghề nghiệp tạo nên
Rõ ràng, hiệu quả của phương pháp giảng dạy mới bằng giáo án điện tử làkhông thể phủ nhận Tuy nhiên công nghệ thông tin không phải là tất cả, công
Trang 9nghệ thông tin không thể thay thế được người thầy Theo chúng tôi, nó chỉ giúpngười thầy thay đổi cách chế biến để học sinh có những món ăn ngon và bổdưỡng –những bài học hấp dẫn, lí thú Nếu quá lạm dụng công nghệ thông tin thìnhững món ăn ngon và bổ dưỡng ấy sẽ không còn nữa, học sinh sẽ không có khảnăng cảm thụ vẻ đẹp của ngôn từ văn chương mà chỉ chú tâm đến phần trìnhdiễn kỹ thuật tin học Vì vậy, trong tiết học này, giáo viên sử dụng công nghệthông tin như là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho bài giảng của mình đạt hiệu quảcao.
Hình ảnh 1: GV sử dụng CNTT như một công cụ hỗ trợ cho bài giảng
- Thứ năm: Sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh.
Kỹ thuật dạy học là những cách thức hành động của của giáo viên và họcsinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trìnhdạy học Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạyhọc Có những kỹ thuật dạy học chung, có những kỹ thuật đặc thù của từngphương pháp dạy học, ví dụ kỹ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại Ngày nayngười ta chú trọng phát triển và sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tíchcực, sáng tạo của người học như “động não”, “tia chớp”, bản đồ tư duy, mảnh
ghép, kỹ thuật khăn trải bàn Trong tiết học này, giáo viên sử dụng “động não”, “sơ đồ tư duy”, “kĩ thuật mảnh ghép” nhằm hệ thống hóa kiến thức
cho học sinh dễ nhớ, dễ thuộc bài Sơ đồ tư duy để phân biệt sự khác biệt giữa
chữ tôi trong thơ mới với chữ ta trong thơ cũ Sử dụng kĩ thuật mảnh ghép để
học sinh thấy rõ hơn bi kịch của các nhà thơ mới
Hình ảnh 2: GV trình chiếu sơ đồ tư duy Hình ảnh 3: GV yêu cầu HS hoàn thiện mảnh ghép
Trang 10
Hình ảnh 4: HS đang hoàn thiện mảnh ghép Hình ảnh 5: Sau khi HS đã hoàn thiện mảnh ghép
- Thứ sáu: Vận dụng tích hợp kiến thức liên môn góp phần nâng cao hiệu quả giờ học.
Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiên đại đang được quan tâmnghiên cứu, vận dụng vào thực tiễn giảng dạy ở nhiều môn học Môn Ngữ Văncũng vậy, nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học, từĐọc văn, Tiếng việt đến Làm văn Hơn thế nữa, việc vận dụng tích hợp kiến
thức liên môn không chỉ dừng lại trong văn bản môn Ngữ mà còn kết hợp kiến thức về Lịch sử, Giáo dục công dân, âm nhạc, đặc biệt là bài học về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, về các kĩ năng cần thiết khi giải quyết các tình huống trong cuộc sống …Việc tích hợp này chúng tôi đã tiến hành hiệu
quả trong quá trình dạy về bài tiểu luận“Một thời đại trong thi ca”(Hoài Thanh) Đây là biện pháp quan trọng nhằm kích thích sự hứng thú, tìm tòi, sáng
tạo của học sinh trong quá trình đọc hiểu văn bản, biến giờ học trở nên sinhđộng hơn, bài giảng đạt hiệu quả cao hơn
2.3.2.Thiết kế bài giảng thử nghiệm (trên cơ sở vận dụng các biện pháp trên).
- Thông hiểu: HS hiểu được quan niệm của Hoài Thanh về tinh thần thơ mới
trong ý nghĩa văn chương và xã hội
- Vận dụng thấp: Bàn về một nội dung mang tính lí luận trong bài phê bình của
Hoài Thanh;
- Vận dụng cao: Vận dụng hiểu biết về bài phê bình để phân tích những bài thơ
đã học trong phong trào thơ Mới;
2 Kĩ năng :
- Biết làm bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học thông qua bài phê bình
- Thông thạo các bước làm bài nghị luận văn học
Trang 113 Thái độ :
- Hình thành thói quen: Đọc hiểu văn bản phê bình văn học;
- Hình thành tính cách: Tự tin , sáng tạo khi tìm hiểu văn bản phê bình văn học;
4 Định hướng hình thành năng lực : Năng lực khái quát tổng hợp, năng lực
trình bày vấn đề, năng lực tự học, năng lực sáng tạo, năng lực tự quản lí bảnthân, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ…
B CHUẨN BỊ CỦA GV- HS.
- Giáo viên: Soạn giáo án, tài liệu tham khảo, SGK, thiết bị dạy học
- Học sinh: Soạn bài, SGK, vở ghi, các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ học tập ởnhà (do giáo viên giao từ tiết trước, đồ dùng học tập…
C CÁCH THỨC TIẾN HÀNH.
- Phương pháp đọc hiểu, kết hợp trao đổi thảo luận
- Phương pháp phân tích, bình giảng, kết hợp so sánh, liên tưởng
- Tích hợp phân môn Làm văn, Tiếng Việt, Đọc văn Tích hợp hợp các môn họckhác như Lịch sử, Giáo dục công dân, câu chuyện về các nhà thơ mới, âm nhạc,kịch, đặc biệt là bài học về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, về các kĩ năngsống khi giải quyết các tình huống trong cuộc sống
1 Ông sinh năm 1909 mất 1982
2 Ông sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo yêu nước ở mảnh đất NghiLộc, Nghệ An
3 Ông là nhà phê bình xuất sắc nhất trong văn học Việt Nam hiện đại
4 Ông là tác giả của cuốn sách Thi nhân Việt Nam
- Giáo viên cho HS nghe 1 đoạn thơ trong bài Đây thôn Vĩ Dạ chuyển thể
thành bài hát (Tích hợp âm nhạc)
Câu 4 : Lời bài hát được chuyển thể từ bài thơ nào? Tác giả bài thơ đó là ai?
Đáp án: Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)
Trang 12Câu 5 : Theo Hoài Thanh, phương pháp để nhận diện tinh thần thơ mới là:
a Phương pháp so sánh, đối chiếu c Phương pháp chứng minh
b Phương pháp phân tích d Phương pháp giải thích
Đáp án: a
- GV dẫn vào bài.
b Triển khai bài: (80 phút)
Hoạt động 1: Tìm hiểu tiểu dẫn và đọc hiểu văn bản
Phương pháp: Trao đổi, động não, trình bày 1 phút….
Hoạt động của GV & HS Yêu cầu cần đạt
GV trình chiếu nhanh các mục bài
giảng của tiết 1 (Tiết 104 PPCT)
I Tìm hiểu chung
1.Tác giả:
a Cuộc đời:
b Sự nghiệp sáng tác2.Tác phẩm: Một thời đại trong thi ca
2 Tìm hiểu chi tiết văn bản
a Luận điểm 1:Con đường đi tìm tinh thần thơ mới
Tiết 105:
Hoạt động 2: Tìm hiểu chi tiết hiểu văn bản
Phương pháp:Trao đổi, thảo luận, trình bày, động não, sơ đồ tư duy, mảnh ghép
Hoạt động của GV & HS Yêu cầu cần đạt
GV? Theo quan niệm của Hoài Thanh,
đâu là cốt lõi của tinh thần thơ mới? (Chữ
tôi, với cái nghĩa tuyệt đối của nó).
GV? Trước đây chữ tôi đã xuất hiện chưa?
Chữ tôi được hiểu như thế nào? (Trước
đây chữ tôi nếu có thì cũng phải ẩn mình
sau chữ ta Chữ tôi bây giờ là chữ tôi theo
ý nghĩa tuyệt đối của nó)
- - HS trả lời
- GV nhận xét, bổ sung.
GV chốt lại: Về đại thể: Xã hội Việt Nam
xưa không có chữ tôi Thảng hoặc có
b Luận điểm 2: Tinh thần thơ mới.
- Nội dung cốt lõi của tinh thần thơ mới:
+ Chữ tôi, với cái nghĩa tuyệt đối của nó.
+ Bản chất của chữ tôi là quan
niệm con người cá nhân trong nghĩa tuyệt đối của nó