Lựa chọn phương pháp ôn thi, hướng dẫn ôn tập tích cực để học viên cảm thấy hứng thú, cảm thấy được niềm yêu thích trong giờ học 5 2.3.3 Vận dụng sơ đồ, phiếu học tập, hỗ trợ học viên gh
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRUNG TÂM GDNN – GDTX HOẰNG HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
LỰA CHỌN ĐỔI MỚI GIẢI PHÁP CHO NHỮNG GIỜ
ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN NGỮ VĂN “HẠNH PHÚC” MÀ HIỆU QUẢ TẠI TRUNG TÂM GDNN-GDTX HOẰNG HÓA
Người thực hiện: Trương Thị Hiền Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2022
Trang 2MỤC LỤC
g
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3 2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 3
2.3.1 Tinh giản nội dung dạy học bộ môn, lựa chọn kiến thức kỹ năng
phù hợp với đề thi tốt nghiệp để đơn giản kiến thức, tránh căng thẳng,
áp lực
3
2.3.2 Lựa chọn phương pháp ôn thi, hướng dẫn ôn tập tích cực để học
viên cảm thấy hứng thú, cảm thấy được niềm yêu thích trong giờ học 5 2.3.3 Vận dụng sơ đồ, phiếu học tập, hỗ trợ học viên ghi nhớ kiến thức
và ghi chép bài học, phát huy năng lực các nhân, không nhàm chán
trong học tập
6
Trang 32.3.4 Tinh giản nội dung dạy học bộ môn, lựa chọn kiến thức kỹ năng
phù hợp với đề thi tốt nghiệp để đơn giản kiến thức, tránh căng thẳng,
áp lực
8
2.3.5 Quan tâm và hướng dẫn tận tình các kỹ năng trình bày, kỹ năng
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
Tài liệu tham khảo
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Giao viên: GV Học viên: HV Đối chứng: ĐC Thực nghiệm: TN Trung học phổ thông: THPT Giáo dục phổ thông: GDPT Giáo dục và đào tạo: GD&ĐT Giáo dục nghề nghiệp: GDNN Giáo dục thường xuyên: GDTX
Trang 41.MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) mới – mà trước hết là chương
trình tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo được xây dựng theo định hướng tiếp
cận năng lực, phù hợp với xu thế phát triển chương trình của các nước tiên tiến,
nhằm thực hiện yêu cầu của Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội: "tạo
chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả
về phẩm chất và năng lực, hài hoà trí, đức, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh" Đổi mới phương pháp dạy học là một giải pháp được
xem là then chốt, có tính đột phá cho việc thực hiện chương trình này
Căn cứ vào mục tiêu của Sở GD&ĐT Thanh Hóa về chất lượng trong kì
Trang 5thi tốt nghiệp THPT, Trung tâm GDNN – GDTX Hoằng Hóa đặt ra mục tiêu phấn đấu đạt tỉ lệ 98 đến 100% học viên đậu tốt nghiệp trong năm học 2019 – 2020; 2020 – 2021 và tiếp tục cho năm học 2021 – 2022 đòi hỏi các giáo viên dạy học các môn dự thi tốt nghiệp phải thay đổi phương pháp dạy học, tạo dựng những tiết học hạnh phúc để đạt được mục tiêu đề ra
Hiện nay ở các Trung tâm GDNN - GDTX, môn Ngữ văn không chỉ là môn học bắt buộc trong kì thi tốt nghiệp THPT quốc gia mà còn là môn học giúp học viên có thể hoàn thiện bản thân về đạo đức, nhân cách, về khả năng ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày và về năng lực nhận diện các hiện tượng xã hội Nhưng trong thực tế, việc dạy và học văn hiện nay ở các Trung tâm GDTX còn khô khan, nhàm chán không hấp dẫn, không thu hút được sự chú ý của học viên
Văn học là một bộ môn khoa học nhưng việc dạy học văn lại là một nghệ thuật Vậy phải làm như thế nào để biến nghệ thuật dạy văn của người giáo viên trên lớp thành một "quá trình rèn luyện toàn diện" như lời của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng? Làm thế nào để văn học thực sự là "nhân học"? Làm thế nào
để mỗi giờ dạy văn học viên thực sự hạnh phúc để đạt được mục tiêu tốt nghiệp THPT quốc gia?
Xuất phát từ những trăn trở đó, tôi quyết định lưạ chọn đề tài: Lựa chọn
đổi mới giải pháp cho những giờ ôn thi tốt nghiệp môn Ngữ văn “hạnh phúc”
mà hiệu quả tại trung tâm GDNN - GDTX Hoằng Hoá với mong muốn trao
đổi, học hỏi, lan tỏa những giải pháp dạy học hay, hấp dẫn, đạt hiệu quả trong đồng nghiệp
1.2 Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn biện pháp cho những giờ ôn thi tốt nghiệp môn Ngữ văn nhằm
mục đích mang lại những giờ ôn thi tốt nghiệp hạnh phúc và thực sự hiệu quả;
Có tác dụng bồi dưỡng năng lực và phẩm chất cho học viên bên cạnh mục tiêu trang bị kiến thức; Giúp học viên thực sự yêu thích, hứng thú, giảm thiểu áp lực
và sự mất tập trung trong học tập
Về kiến thức: Học viên có kiến thức bộ môn để thi tốt nghiệp môn Ngữ
văn với hai yêu cầu cơ bản: Đọc hiểu văn bản và tạo lập văn bản
Về kĩ năng: Thông qua biện pháp, học viên sẽ được rèn luyện những kĩ
năng: Kĩ năng học tập bộ môn, kĩ năng ghi nhớ trình bày kiến thức bằng bài viết,
kĩ năng quan sát, nhận xét nội dung học tập Học viên có thêm các năng lực làm việc nhóm, tự học, giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, sáng tạo, tự chủ…những năng lực này sẽ giúp học viên có hứng thú học tập tích cực
Về phẩm chất: Hình thành cho học viên tinh thần đoàn kết tập thể, ý chí
tập trung học tập và hoàn thành nhiệm vụ được giao Yêu trường, yêu lớp, cảm thấy hạnh phúc với môi trường học tập và môn học
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng là học sinh lớp 12 trung tâm GDNN-GDTX Hoằng Hóa với sĩ
số là 87 học sinh (lớp 12A6: 47, lớp 12A7: 40), bên cạnh đó là nghiên cứu giờ dạy, giải pháp có hiệu quả từ các lớp học cùng khối 12 của đồng nghiệp dạy bộ môn Ngữ văn tại nhà trường
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 6Các phương pháp chung khi tôi thực hiện đề tài này là:
Phương pháp so sánh
Phương pháp thống kê
Phương pháp thực nghiệm
1.5 Điểm mới sáng kiến kinh nghiệm
Học viên GDTX thuộc đối tượng yếu kém về năng lực, hạn chế về nhận thức, phẩm chất Ngưỡng tiếp nhận cảu các học viên còn thấp để phù hợp với cách đổi mới đề thi tốt nghiệp đề tài đưa ra những giải pháp cụ thể để giúp học viên thực sự yêu thích, hứng thú, giảm thiểu áp lực và sự mất tập trung trong học tập đói với môn Ngữ văn
2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
Nghiên cứu về hạnh phúc của học sinh vừa được PGS.TS Huỳnh Văn Sơn- Phó hiệu trưởng ĐH Sư phạm TP.HCM công bố tại buổi tọa đàm “Hành
động vì hạnh phúc học sinh” đã phát biểu: Trên bình diện tổng thể, lớp học
hạnh phúc là lớp học có sự tương tác chủ động, tích cực với cảm xúc tính từ hai phía: Nhà tổ chức và chủ thể thực hiện Lớp học hạnh phúc là điểm đến của mỗi cá nhân cảm thấy muốn đến, khi có những hứng thú, có niềm vui, có
sự mong chờ, có rung cảm…Lớp học hạnh phúc là nơi có thể cảm nhận được
sự an toàn, sự nâng đỡ hay sự thú vị khi có nhiều điều nằm trong nhu cầu được thỏa mãn Bởi vậy mỗi nhà trường và giáo viên cần phải tạo cho học viên
sự tích cực, chủ động một cách thoải mái để thực hiện nhiệm vụ học tập một cách tích cực nhất.Chúng ta cần xem xét những định hướng mới trong giáo dục hiện nay như: Chương trình giáo dục phát triển năng lực; tương tác tích cực và gắn kết thầy- trò; đánh giá sự phát triển mà không phải hướng đến tiêu chuẩn hoàn hảo tuyệt đối … chính là những gì cần quyết tâm
Vai trò của người thầy sẽ góp phần không nhỏ tới sự tạo hứng thú trong mỗi giờ học Thay vì giảng dạy kiến thức có sẵn trong sách vở giáo viên trở thành người gợi mở, kích thích sự tò mò, khả năng sáng tạo của học viên dựa trên chính năng lực của học viên qua việc cung cấp phiếu bài tập, bài tập nhóm,
sơ dồ tư duy, tổ chức học tập xen kẽ với các trò chơi, trao đổi, thảo luận…Từ đó
sẽ tạo sự tích cực, thoải mái khi các học viên thực hiện nhiệm vụ học tập một cách chủ động và vui vẻ
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Học viên GDTX thuộc đối tượng yếu kém về năng lực, hạn chế về nhận thức, phẩm chất Nhiều học viên đến lớp không soạn bài, ghi bài, trong giờ học nói chuyện, làm việc riêng, ngủ gục; không khí giờ học nhàm chán, buồn tẻ Điều kiện học tập thiếu thốn, tâm lí bất an, không ổn định, cá biệt có nhiều học viên thường xuyên vi phạm nội quy trường học, đánh nhau, nghiện game, thuốc
lá, bảo kê, cá độ… Kết quả trong giờ dạy học sinh không hạnh phúc, kết quả các bài kiểm tra, bài thi giữa kì, cuối kì thấp, chưa đạt yêu cầu có nguy cơ trượt tốt nghiệp THPT Qua khảo sát về kết quả học tập học đầu năm học 2020-2021 môn Ngữ văn ở hai lớp giảng dạy cho thấy:
Đối tượng Số lượng
HV
Kết quả khảo sát đầu năm Giỏi Khá Trung bình Yếu, kém
Trang 7Lớp TN 47 4 10 25 8
Trước khi áp dụng giải pháp, không chỉ kết quả chất lượng bộ môn dựa trên bài khảo sát đầu năm với đề thi thử theo cấu trúc đề thi tốt nghiệp còn hạn
chế như trên, mà khi được khảo sát với câu hỏi: Em có hạnh phúc trong giờ học
môn Ngữ văn không? Cho kết quả như sau:
Đối tượng
Số lượng HV
Kết quả Rất
hạnh phúc
Khá hạnh phúc
Bình thường
Không hạnh phúc Lớp TN 47 3 (6,38%) 6 (12,76
%)
24 (51,07%) 14 (29,79%)
Giáo viên với 10 – 20 năm trong nghề gắn với phương pháp dạy học truyền đạt kiến thức “một chiều”, giảng văn, bình văn, chép văn mẫu… đã ăn sâu vào nhận thức, tư duy, ngại đổi mới Khi tiếp cận với Chương trình GDPT
2018 với sự thay đổi phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực phẩm chất người học còn nhiều lúng túng, mơ hồ Cuộc sống mưu sinh đầy áp lực, chế
độ đãi ngộ, khích lệ động viên không đủ sức hút, nhiều thầy cô không còn thời gian đầu tư cho chuyên môn, mai một dần niềm đam mê theo mỗi giờ lên lớp
Bên cạnh đó, các nhà lãnh đạo giáo dục chưa có giải pháp tối ưu, còn lúng túng trong chỉ đạo, đổi mới “Giám đốc hạnh phúc mới tạo ra được trung tâm hạnh phúc”, mới truyền được cảm hứng cho những tiết dạy hạnh phúc ở tất cả các môn học, các hoạt động ngoài giờ lên lớp còn nặng về hình thức, thiếu chiều sâu… thì không thể tạo ra môi trường giáo dục hạnh phúc Cũng giống như cây đời muốn đơm hoa kết trái thì phải có môi trường gieo trồng vui vẻ và hạnh phúc
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Tinh giản nội dung dạy học bộ môn, lựa chọn kiến thức kĩ năng phù hợp với đề thi tốt nghiệp để đơn giản kiến thức, tránh căng thẳng, áp lực.
- Về tinh giản nội dụng dạy học bộ môn Ngữ văn: Năm học 2019-2020,
thực hiện các chỉ đạo của Sở GD&ĐT cũng như hướng dẫn tự chủ xây dựng chương trình kế hoạch giáo dục bộ môn, tổ chuyên môn đã chủ động xây dựng KHDH cũng như ôn thi tốt nghiệp ngay từ đầu năm với tinh thần lựa chọn nội dung dạy học phù hợp nhất, trọng tâm nhất với điều kiện dạy học của nhà trường
và đối tượng học sinh
Năm học 2020-2021, thực hiện văn bản số 3280/BGDĐT-GDTrH ngày 27/8/2020 của Bộ GD&ĐT, Năm học 2021 – 2022 tiếp tục điều chỉnh giảm tải các tiết học theo hướng dẫn Công văn số 4044 của Bộ GD&ĐT ngày 16/9/2021,
tổ chuyên môn có thêm cơ sở để điều chỉnh lại nội dung dạy học đảm bảo phát triển phẩm chất, năng lực bộ môn, đảm bảo dạy học an toàn trước diễn biến của dịch Covid 19
- Việc lựa chọn kiến thức kĩ năng phù hợp với đề thi tốt nghiệp để đơn giản kiến thức, tránh căng thẳng, áp lực : Với tiêu chí không học tủ, không
Trang 8dạy học văn mẫu, lấy yêu cầu cơ bản trong đề thi làm các tiêu chí dạy học và kiểm tra, đánh giá, tôi giúp học viên có cái nhìn đơn giản, khái quát nhất về bài thi tốt nghiệp môn Ngữ văn
- Phần I (Đọc hiểu) chiếm 30 %, tôi tập trung hướng dẫn học viên:
+ Nhận biết: Phương thức biểu đạt; Phong cách ngôn ngữ; Thể loại văn bản
+ Nhận biết các từ ngữ, hình ảnh, chi tiết nổi bật
+ Hiểu ý nghĩa, nội dung văn bản, tác dụng của các biện pháp nghệ thuật; Hiểu thông điệp, ý nghĩa nội dung văn bản; quan điểm của tác giả; cách thức trình bày…
+ Vận dụng nêu quan điểm đánh giá của bản thân về các nội dung thông điệp, quan điểm được trình bày trong văn bản, nhận xét thông điệp…
- Phần II (Làm văn) chiếm 70 % với hai yêu cầu cơ bản:
+ Viết đoạn văn nghị luận xã hội:
Tôi tập trung dạy học viên cách tạo lập đoạn văn theo 5 tiêu chí:
Đúng hình thức đoạn văn (0,25 điểm)
Xác định đúng vấn đề nghị luận (0,25 điểm)
Triển khai vấn đề (Giải thích, Phân tích, nêu bài học) (1,0 điểm)
Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm)
Sáng tạo (0,25 điểm)
Tôi cũng thường xuyên hướng dẫn học viên thực hành viết đoạn văn với các chủ đề nghị luận xã hội gần gũi, thiết thực, liên quan trực tiếp đến văn bản đọc hiểu như: Các phẩm chất, năng lực của thanh niên (bản lĩnh, trách nhiệm, cống hiến…); Các vấn đề tình cảm, đạo đức (sự sẻ chia, cho đi, yêu thương…); Gương người tốt, việc tốt có ý nghĩa lan tỏa…
+ Viết bài văn nghị luận văn học:
Dạy cách thức tạo lập văn bản ba phần, mong muốn học viên tôn trọng kết cấu đó và không có tư tưởng bỏ bê, không biết phân bố thời gian, không hoàn thành bài viết
Học viên không học tủ, nội dung ôn thi sẽ tập trung ở những tác phẩm rất
cụ thể, dễ tiếp nhận, được hướng dẫn ôn tập trong suốt năm học thuộc các thể loại: Nghị luận (Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh); Thơ (Tây Tiến- Quang Dũng; Việt Bắc – Tố Hữu; Đất Nước (trích)- Nguyễn Khoa Điềm; Sóng – Xuân Quỳnh); Truyện ngắn (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài; Vợ nhặt – Kim Lân; Rừng xà nu- Nguyễn Trung Thành); Kịch (Hồn Trương Ba, da hàng thịt – Lưu Quang Vũ), như vậy tổng số tác phẩm thực chất là không nhiều như học viên vẫn nghĩ
2.3.2 Lựa chọn phương pháp ôn thi, hướng dẫn ôn tập tích cực để học viên hứng thú, cảm thấy được niềm yêu thích trong giờ học
- Trong mỗi tiết ôn tập luôn luôn có hoạt động khởi động tạo tâm thế,
khởi động để làm mất cảm giác buồn ngủ, sự thiếu tập trung trong giờ học buổi chiều là rất cần thiết Khởi động không được làm tăng thêm kiến thức hay phức
tạp bài học, mà xuất phát từ cái đã biết, nội dung liên quan bài học để kể
chuyện, chơi trò chơi, nghe nhạc hay đơn giản là nêu một tình huống hấp dẫn
để học viên trả lời Ví dụ dạy ôn thi bài Sóng - Xuân Quỳnh, tôi mở video bài
hát Sóng (Hoàng Anh, Thúy Anh) trong một đoạn có tiếng sóng xô bờ dạt dào
Trang 9và mời học sinh hát theo, học sinh vô cùng tự nhiên thích thú.
Ví dụ minh họa:
Khởi động (Tiết 1) Nghe nhạc đoán tên bài hát
* Mục tiêu: Tạo không khí sôi nổi, tạo tâm thế cho học viên bước vào bài học
mới
* Cách thức thực hiện: Trò chơi: Ai nhanh hơn
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ cho HV: GV hỏi: các em sẵn sàng chưa? Sau
đây chúng ta sẽ chơi trò chơi Ai nhanh hơn? Các em sẽ nghe 1 đoạn nhạc dạo
và đoán tên bài hát hoặc bài thơ được phổ nhạc
Bước 2: HV thực hiện nhiệm vụ: GV mở các đoạn nhạc (chỉ nghe nhạc dạo
và 1 câu hát, GV cắt rồi nối liền hoặc mở bất kì trong 10 giây)
Đoạn 1: Thuyền và biển
Đoạn 2: Thơ tình cuối mùa thu
Đoạn 3: Mẹ của Anh
Đoạn 4: Sóng
Bước 3: Báo cáo kết quả: GV gọi những HS giơ tay có đáp án trước, đoạn
nhạc nào HS không có đáp án thì GV gợi ý
* Dự kiến sản phẩm của HV: Tên các bài hát được phổ thơ Xuân Quỳnh.
GV nhận xét kiến thức và sự chuẩn bị của HV, dẫn vào bài học:
- Luôn luôn mời học viên làm, trình bày, nêu quan điểm, thực hành: giáo viên không được thuyết giảng, hướng dẫn trong suốt giờ học, hãy tìm cách để mời học viên nói và kiên trì lắng nghe, hỗ trợ
- Không dạy lại hoàn toàn kiến thức lý thuyết chính khóa, biến kiến thức thành các dạng đề theo cấu trúc đề thi để học viên được phân tích đề, tìm ý, luyện viết từng đoạn văn bản
- Thiết kế các hoạt động học tích cực: Để giờ ôn thi không nhàm chán, ngoài các hoạt động: Ôn tập kiến thức lý thuyết, học viên trình bày, tái hiện, giáo viên ra đề, hướng dẫn, học viên viết…thì phải luôn luôn kết hợp các hình thức khác nữa:
+ Kết hợp đọc hiểu và luyện viết với văn bản đọc hiểu cùng thể loại với văn bản ôn tập
+ Chơi trò chơi ô chữ/ Ai là triệu phú? Vòng quay kì diệu…với các câu hỏi chơi liên quan đến nội dung bài học
+ Giáo viên tạo các mảnh ghép kiến thức trên các tờ giấy nhỏ sau đó cho học viên ghép lại để tạo thành câu/văn bản đầy đủ, có nghĩa…
- Sử dụng các từ ngữ động viên khích lệ: Cô khen; Cô mời; Cô hài lòng; Rất tốt…Em đã thực sự cố gắng…
- Có sự nhận xét, đánh giá sự tiến bộ của học viên một cách kịp thời, giúp học viên cảm thấy từng ngày mình thay đổi về năng lực nói, trình bày vấn đề…
2.3.3 Vận dụng sơ đồ, phiếu học tập hỗ trợ học viên ghi nhớ kiến thức
và ghi chép bài học, phát huy năng lực cá nhân, không nhàm chán trong học tập.
Với học viên hạn chế về ghi nhớ kiến thức thì điều này rất quan trọng,
Trang 10nhiều em học trước, quên sau hoặc ghi bài chậm, chữ viết xấu, gặp khó khăn trong trình bày, giáo viên phải luôn hỗ trợ các em bằng việc chuẩn bị kĩ lưỡng các phiếu học tập và sơ đồ, bảng biểu:
- Phiếu học tập là nội dung các nhiệm vụ học tập mà các em thực hiện trên lớp và ở nhà, các em dùng phiếu này để lưu trữ mình đã làm, đã biết, đã ghi nhớ kiến thức và kĩ năng gì
- Các bảng hệ thống mà giáo viên tạo trống để hướng dẫn học viên tự học: Bảng hệ thống dấu hiệu nhận biết các phương thức biểu đạt, phong cách ngôn ngữ…Bảng hệ thống tác giả, tác phẩm, bảng hệ thống theo thể loại, bảng hệ thống kiến thức một bài học…
- Các sơ đồ kĩ năng như: kĩ năng đọc hiểu văn bản theo thể loại, kĩ năng nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ, kĩ năng nghị luận về nhân vật…
Ví dụ: Sơ đồ kĩ năng nghị luận về bài thơ, đoạn thơ:
10
Nhiều đoạn văn liên kết với
MỞ BÀI
THÂN
BÀI
1 đoạn văn hoàn chỉnh
GIỚI THIỆU TÁC GIẢ (VỊ TRÍ, PHONG CÁCH)
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM (HOÀN CẢNH, GIÁ TRỊ)
GIỚI THIỆU ĐOẠN TRÍCH (NỘI DUNG, NGHỆ THUẬT)
NGHỊ LUẬN
VỀ NỘI DUNG
GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT ĐOẠN THƠ
GIẢI THÍCH CÁC TỪ NGỮ, HÌNH ẢNH THƠ
HÌNH TƯỢNG TRỮ TÌNH ĐƯỢC TÁI HIỆN
TƯ TƯỞNG CẢM XÚC TÁC GIẢ GỬI GẮM GẮM