1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài những vấn đề đặt ra đối với NHNN việt nam để thực thi chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu

21 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề tài: Những vấn đề đặt ra đối với NHNN Việt Nam để thực thi chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu
Tác giả Nhóm Sinh Viên, Hoàng Thu Phương, Phạm Thu Hà, Phan Thị Loan, Bùi Ngọc Lan, Nguyễn Thị Hà My, Nguyễn Thị Hà Phương, Nguyễn Thị Phương Chung, Phạm Thị Ngọc Trang, Trần Thị Thanh Tâm, Phạm Quang Khải
Người hướng dẫn PGS.TS Cao Thị Ý Nhi
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Ngân Hàng Trung Ương
Thể loại Bài tập nhóm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 695,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ---***--- BÀI TẬP NHÓM Môn học: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG Đề tài: Những vấn đề đặt ra đối với NHNN Việt Nam để thực thi chính sách tiền tệ theo lạm phát m

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-*** -

BÀI TẬP NHÓM

Môn học: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

Đề tài: Những vấn đề đặt ra đối với NHNN Việt Nam

để thực thi chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu

1 Hoàng Thu Phương : 11194201

Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Cao Thị Ý Nhi

Lớp học phần : Ngân hàng Trung ương (221) _01

Nhóm sinh viên : Nhóm 5

Sinh viên thực hiện:

Trang 2

M ỤC LỤC

Phần I: Tổng quan về chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu 1

1 Chính sách lạm phát mục tiêu là gì: 1

2 Ưu điểm của chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu 2

3 Nhược điểm của chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu 3

4 Các điều kiện tiên quyết của chế độ lạm phát mục tiêu 3

4.1 Mục tiêu lạm phát được ưu tiên hơn so với các mục tiêu khác 4

4.2 Không có thống trị tài khóa (físcal dominance) 4

4.3 NHTW độc lập về công cụ CSTT 4

Phần II: Thực trạng áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam và những vấn đề đặt ra 5

1 Đánh giá khả năng áp dụng CSMTLP ở Việt Nam hiện nay 5

2 Thuận lợi khi áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam 6

2.1 Ngân hàng Nhà nước thành công kiểm soát lạm phát trong nhiều năm 6

2.2 Ngân hàng Nhà nước có kinh nghiệm trong việc linh hoạt điều chỉnh chính sách tiền tệ theo mục tiêu lạm phát 8

2.3 Tại Việt Nam, lạm phát đã và đang là mục tiêu được ưu tiên hơn 8

3 Thách thức NHNN gặp phải khi áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu 8

3.1 NHNN VN là ngân hàng trực thuộc Chính Phủ 8

3.2 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chưa độc lập hoàn toàn về công cụ chính sách tiền tệ 8

3.3 Ngân hàng Nhà nước cần phải công khai minh bạch hơn và có trách nhiệm cao hơn 9

3.4 Đây là thời điểm nhạy cảm để thay đổi chính sách 9

3.5 Ngân hàng Nhà nước phải đối mặt với khó khăn trong điều hành chính sách tiền tệ và chọn ra khoảng lạm phát hợp lý 9

Phần III: Một số quốc gia đã áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu 11

1 Kinh nghiệm của các nước trong việc điều hành chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu 11

1.1 Nhóm nước áp dụng do kỳ vọng một cơ chế CSTT mới hiệu quả hơn 11

1.1.1 Kinh nghiệm của New Zealand 11

1.1.2 Kinh nghiệm của Canada 12

1.2 Nhóm nước áp dụng nhằm ứng phó hoặc bị tác động bởi các cú sốc về khủng hoảng tài chính – tiền tệ 13

1.2.1 Kinh nghiệm của Brazil 13

Trang 3

1.2.2 Kinh nghiệm của Thái Lan 14

2 Bài học kinh nghiệm về điều hành chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu cho Việt Nam 15 Phần IV: Đề xuất các giải pháp 17

1 Ngân hàng trung ương phải chủ động, linh hoạt hơn trong việc điều hành chính sách tiền tệ 17

2 Tiếp thu bài học của các quốc gia đi trước, từng bước độc lập về công cụ chính sách tiền tệ 17

3 Cân bằng được mục tiêu của chính sách tiền tệ 17

4 Nâng cao độ tin cậy và trách nhiệm của ngân hàng nhà nước 18

Trang 4

Phần I: Tổng quan về chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu

1 Chính sách lạm phát mục tiêu là gì:

Quỹ tiền tệ quốc tế IMF cho rằng: Chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu là một bản công báo ra công chúng về chỉ tiêu trung hạn của lạm phát cũng như uy tín của cơ quan thẩm quyền về tiền tệ để đạt mục tiêu này Các yếu tố khác bao gồm phổ biến thông tin

về các kế hoạch và mục tiêu của nhà hoạch định chính sách tiền tệ tới công chúng và thị trường, cũng như trách nhiệm giải trình của Ngân hàng Trung ương để đạt được các chỉ tiêu lạm phát của mình Các quyết định về chính sách tiền tệ sẽ dựa trên độ lệch dự báo lạm phát (một cách hoàn toàn hay rõ ràng) đóng vai trò là chỉ tiêu trung gian của chính sách tiền tệ”

Theo NHTW Châu Âu (ECB) (2004) định nghĩa CSLPMT là “một chiến lược CSTT nhằm mục tiêu duy trì ổn định giá cả bằng cách tập trung vào khoảng chênh giữa dự báo

lạm phát được công bố với mức CSLPMT đã được công bố”.Quan điểm của ECB cho

rằng trong cơ chế của LPMT, dự báo lạm phát là trọng tâm của việc lập và công bố chính sách, đồng nghĩa với việc “NHTW thông báo các quyết định CSTT dưới hình thức điều chỉnh đối với độ lệch của dự báo lạm phát theo một thước đo cụ thể so với LPMT cụ thể trong một thời gian cụ thể”

Theo quan điểm của Nguyễn Văn Hà (2007), LPMT được miêu tả như một

cơ chế điều hành CSTT dựa trên nền tảng sử dụng việc dự báo lạm phát làm mục tiêu trung gian Theo đó NHTW căn cứ vào chỉ tiêu lạm phát dự báo năm kế hoạch cũng như độ lệch so với dự báo đó trong thực tế từ đó đưa ra những quyết định tiền tệ

để thực hiện mục tiêu đó và đây là mục tiêu duy nhất của họ

Nội dung của cơ chế điều hành chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu

Cách thức NHTW điều hành CSTT theo LPMT như sau:

Thứ nhất, NHTW phải xác định trước một mục tiêu lạm phát trung hạn và mục

tiêu lạm phát này được xác định rõ ràng về mặt định lượng bằng một con số hoặc một khoảng biên độ xác định sẽ được công bố trước công chúng Điều này có

nghĩa là NHTW phải có trách nhiệm hàng đầu về việc thực hiện mục tiêu lạm

phát đó và đó là mục tiêu duy nhất của NHTW, coi đó là cái chốt để điều hành

CSTT

Thứ hai, NHTW cần thiết lập một mô hình dự báo thông qua sử dụng các chỉ số

thông tin như tổng cung tiền, lãi suất, tỷ giá, … những chỉ số ảnh hưởng đến lạm phát để dự đoán tỷ lệ lạm phát trong tương lai

Thứ ba, dựa trên độ lệch dự báo lạm phát mà NHTW sẽ xây dựng kế hoạch điều

hành CSTT thông qua sử dụng các công cụ của mình để tác động, thực hiện mục tiêu lạm phát sao cho tỷ lệ lạm phát thực tế bằng hoặc gần bằng với tỷ lệ lạm phát

mà NHTW thiết lập

Trang 5

Thứ tư, báo cáo đánh giá lại hiệu quả, mức độ đạt được của CSTT theo LPMT

do NHTW thực hiện, đây là bằng chứng để thể hiện sự minh bạch trong CSTT theo LPMT Đồng thời thể hiện uy tín của NHTW trong việc hoàn thành mục tiêu lạm phát đã đề ra, đó cũng là cơ sở để NHTW rút kinh nghiệm cho điều hành CSTT ở giai đoạn sau

2 Ưu điểm của chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu

So với cơ chế điều hành chính sách tiền tệ cũ, cơ chế điều hành chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu có những ưu điểm như sau:

• Đây là một khuôn khổ chính sách tiền tệ minh bạch với sự đảm bảo bằng trách nhiệm và uy tín của ngân hàng trung ương trước dân chúng

• Với cơ chế này, ngân hàng trung ương được phép độc lập đưa ra các quyết định

về chính sách tiền tệ

• Mục tiêu duy nhất cuối cùng của chính sách là ổn định giá cả hay giữ lạm phát

ổn định ở mức thấp Điều này sẽ góp phần tác động tốt tới việc hình thành một môi trường vĩ mô ổn định cho nền kinh tế phát triển

• Với chính sách lạm phát mục tiêu, mọi công dân, nhà đầu tư … đều có thể hiểu được cách thức và hiệu quả hoạt động của chính sách Do đó, nó được xem là chính sách có độ minh bạch rất cao Điều này thể hiện điểm vượt trội của chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu so với chính sách tiền tệ theo cung tiền bởi khi chính sách tiền tệ theo cung tiền sẽ không dễ dàng được hiểu bởi công chúng bởi mối liên hệ giữa cung tiền và lạm phát được xem là khó dự báo trong tương lai (Do mối quan hệ không rõ ràng giữa cung tiền và lạm phát, có khi ngân hàng trung ương đạt được các mục tiêu về cung tiền nhưng lại không đạt được mức lạm phát như mong muốn.)

• Chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu giúp ngân hàng trung ương xác định mục tiêu rõ ràng của mình là quản lý và kiềm chế lạm phát trong dài hạn, chứ không phải chạy theo các chỉ tiêu tăng trưởng và tỷ lệ việc trong ngắn hạn Bởi, chính sách tiền tệ mở rộng có thể kích thích kinh tế phát triển , tạo công ăn việc làm trong ngắn hạn, nhưng nó sẽ bị đánh đổi bởi lạm phát cao trong dài hạn.Chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu buộc ngân hàng trung ương phải minh bạch thông tin và truyền thông nhiều hơn với công chúng Ngân hàng trung ương không chỉ thường xuyên với chính phủ, trả lời thắc mắc của quần chúng, mà còn có cũng như buổi họp báo thường xuyên về chính sách đang thực hiện Ngoài ra, ngân hàng trung ương các nước áp dụng IT phải làm là công bố và phát hành bản báo cáo về tình hình lạm phát Sử dụng những công cụ truyền thông nêu trên, ngân hàng trung ương sẽ giải thích cho mọi tầng lớp trong xã hội về một số khái niệm như: (1) mục tiêu và lý do tại sao nên áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu, (2) mức lạm phát mục tiêu là bao nhiêu và nó được xác định như thế nào, (3) làm thế nào để đạt được lạm phát mục tiêu trong điều kiện kinh tế hiện tại, (4) tại sao có

sự chênh lệch giữa lạm phát thực tế và lạm phát mục tiêu Với chiến lược truyền thông như vậy, các nhà đầu tư sẽ hiểu hơn về CSTT quốc gia, lạm phát, lãi suất,

Trang 6

hỗ trợ các quyết định, người dân sẽ hiểu thêm về những việc ngân hàng có thể làm và không thể làm được, làm rõ vai trò và nhiệm vụ của ngân hàng trung ương

và các nhà chính trị trong việc điều hành chính sách tiền tệ

Chính nhờ những ưu điểm trên, các quốc gia áp dụng IT có thể kiềm chế lạm phát ở mức thấp và neo đậu sự kỳ vọng lạm phát của công chúng Có thể nói, ở các quốc gia đã áp dụng IT, cơ chế điều hành chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu đã thể hiện rõ tính ưu việt của mình

3 Nhược điểm của chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu

Bên cạnh những ưu điểm thì CSTT theo LPMT cũng có nhược điểm là:

• Điều hành chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu đòi hỏi một khoảng thời gian dài để đạt được các mục tiêu của chính sách Do đó, trong ngắn hạn, có thể các mục tiêu đưa ra sẽ không đạt được do độ trễ của chính sách

quốc gia có thể phải đánh đổi bằng tăng trưởng thấp đi so với trước và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng Khi năng lực điều tiết của CSTT không cao sẽ đẩy NHTW vào vòng luẩn quẩn trong việc lựa chọn ưu tiên giữa các cơ chế điều hành (tỷ giá, lãi suất và khối lượng tiền) của CSTT

• Xuất phát điểm của các quốc gia khi áp dụng cơ chế LPMT cũng phải thỏa mãn các điều kiện như: NHTW phải có tính độc lập cao; tình trạng đô la hóa thấp; hệ thống tài chính phát triển; Nhiều quốc gia không đáp ứng được những điều kiện khắt khe này có thể áp dụng cơ chế LPMT hoặc phải có những điều chỉnh lớn trong nền kinh tế để có thể phù hợp với cơ chế này Khi áp dụng LPMT, NHTW

sẽ phải chịu trách nhiệm chính thức và vô điều kiện trong việc thực hiện CSTT

để đạt được chỉ số LPMT dựa trên chỉ số dự báo lạm phát do chính NHTW đưa

ra để đảm bảo uy tín của NHTW trong việc thực thi CSTT theo mục tiêu đã định, nhằm tạo sự tin tưởng cao từ xã hội, điều này gây áp lực trong quá trình điều hành CSTT của NHTW

• Một bất lợi khác là các quốc gia áp dụng cơ chế LPMT yêu cầu phải có cơ chế tỷ giá linh hoạt Trong khi đó điều hành tỷ giá linh hoạt có thể là nguyên nhân gây

ra sự không ổn định về tài chính, nhất là những quốc gia có nền kinh tế thị trường mới nổi

4 Các điều kiện tiên quyết của chế độ lạm phát mục tiêu

Một quốc gia chỉ cần thiết lập được mục tiêu lạm phát trung hạn, cam kết ổn định giá

cả là mục tiêu cuối cùng cũng như xây dựng được tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong điều hành CSTT là có thể coi như quốc gia đó đã chuyển đổi sang chế độ LPMT Tuy nhiên, nhiều học giả khuyến cáo rằng khi quốc gia cân nhắc việc chuyển đổi chế độ CSTT, quốc gia đó cần xem xét sự thỏa mãn các điều kiện tiên quyết để đảm bảo LPMT có thể được thực hiện một cách suôn sẻ và thành công

Trang 7

Freedman và Otker-Robe (2010) lại cho rằng chỉ có ba điều kiện cốt lõi để triển khai LPMT, đó là:

4.1 Mục tiêu lạm phát được ưu tiên hơn so với các mục tiêu khác

Ưu tiên tập trung vào mục tiêu quan trọng nhất là kiểm soát lạm phát, thay vì cùng một lúc tập trung vào nhiều mục tiêu khác như ổn định tỷ giá, tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ có việc làm

4.2 Không có thống trị tài khóa (físcal dominance)

Việc điều hành CSTT của NHTW phải độc lập với chính sách tài khoá Nói cách khác, NHTW không được để xảy ra hiện tượng áp chế tài chính (fiscal dominance), nghĩa là không được tài trợ cho việc thâm hụt ngân sách của chính phủ vì việc làm này có thể dẫn tới gia tăng lạm phát và làm giảm hiệu quả điều hành CSTT Hơn nữa, việc không

để chính sách tài khoá chi phối CSTT đồng nghĩa với việc NHTW không in tiền để tạo nguồn thu cho ngân sách Để làm được điều này, NHTW cần có nguồn thu độc lập với ngân sách nhà nước

4.3 NHTW độc lập về công cụ CSTT

Không nhất thiết hoàn toàn độc lập với chính phủ trong việc điều hành CSTT, NHTW chỉ cần độc lập trong việc lựa chọn công cụ để điều hành CSTT hướng tới việc kiểm soát lạm phát

Trang 8

Ph ần II: Thực trạng áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam và những vấn đề đặt ra

1 Đánh giá khả năng áp dụng CSMTLP ở Việt Nam hiện nay

Tại Việt Nam, nên áp dụng CS LPMT tuy nhiên, chưa đủ khả năng áp dụng chính

sách này

Trong vòng 10 năm trở lại đây, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam lên xuống hết sức thất thường khi ở mức 2 con số, khi ở mức một con số và thậm chí có thể xuống dưới cả 0% Nguyên nhân lạm phát của chúng ta rất đa dạng từ cầu kéo đến chi phí đẩy, từ sự dư thừa tiền trong lưu thông đến sự bất cập trong công tác quản lý của các cơ quan nhà nước Đứng trước nguy cơ lạm phát bùng nổ, phải chăng đã đến lúc chúng ta cần phải nhìn nhận lại về CSTT của chúng ta một cách đúng đắn hơn

Từ trước đến nay, Việt Nam đã thực hiện một CSTT đa mục tiêu Theo Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành vào tháng 10/1998, điều 2 đã có quy định: “CSTT quốc gia là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh và nâng cao đời sống nhân dân”

Tuy nhiên trong thời gian gần đây, chính sách đa mục tiêu này cũng đã bắt đầu bộc

lộ những hạn chế tiềm ẩn của mình

Trước hết, nó khiến cho lạm phát của Việt Nam không mang tính thị trường mà chịu chi phối nhiều của yếu tố chủ quan Để phục vụ mục tiêu chính trị trong ngắn hạn, NHTW

có thể chấp nhận in thêm tiền mặc dù có thể đẩy tỷ lệ lạm phát lên siêu mã Có thể vì tỷ

lệ lạm phát chưa đạt được mức như mong muốn mà không có những biện pháp cần thiết đối với tỷ lệ lạm phát đang gia tăng

Đối với tầng lớp nhân dân thì những yếu tố chủ quan tâm lý cũng tác động mạnh đến những dự tính của họ về lạm phát

Hơn nữa, CSTT đa mục tiêu đã hạn chế khả năng của NHNN phản ứng lại những biến động của thị trường đặc biệt là biến động giá cả Việc phải đắn đo khi đưa ra các quyết định đối với sự biến động của lạm phát mà không làm ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng ít lên các mục tiêu khác đặt NHNN trước nhiều lựa chọn phức tạp hơn

Vậy đứng trước những khó khăn đó, như đã đặt ra ngay từ đầu, làm sao vừa kiềm chế được lạm phát, vừa vẫn tiếp tục đạt được mức tăng trưởng cao là một bài toán rất khó Đã đến lúc phải có những thay đổi cần thiết mang tính nền tảng cơ sở mới mong

có được những biến đổi theo ý muốn Học hỏi theo kinh nghiệm nhiều quốc gia đã thực hiện thì có thể nói CSMTLP chính là một lối thoát cho CSTT của Việt Nam

So với những tiêu chí cơ bản cho sự thành công của CSMTLP thì Việt Nam có vẻ còn thiếu khá nhiều Vì vậy việc áp dụng ngay CSMTLP tại thời điểm hiện tại cho Việt Nam là không khả thi, nhưng đây chính là lúc mà chúng ta phải hoàn thiện những điều kiện cơ bản, những tiền đề cho quá trình áp dụng chính sách này trong tương lai

Trang 9

2 Thuận lợi khi áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam

2.1 Ngân hàng Nhà nước thành công kiểm soát lạm phát trong nhiều năm

Giai đoạn 2018-2021 của Việt Nam là một giai đoạn cực kì biến động khi mà lần đầu tiền Việt Nam cũng như cả thế giới phải đối mặt với cuộc khủng hoảng mang tên COVID-19 cũng như biến động về cả kinh tế chính trị trên toàn cầu Do đó chính sách tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn này cũng có những chuyển biến vô cùng đặc biệt nhằm thích nghi với những biến động của thị trường cũng như dịch bệnh COVID-19 và kiểm soát tốt lạm phát trong mức 4% theo mục tiêu Quốc Hội đề ra

Trong năm 2018, Do chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và bất ổn chính trị ở Trung Đông, khiến mặt hàng lương thực thực phẩm, giá dầu lúc tăng cao, lúc giảm sâu Giá dầu cuối năm có xu hướng tăng dần và đạt đỉnh vào t10/2018 trong vòng 4 năm, tăng lần lượt 30% và 27% so với hồi đầu năm, song ngay lập tức giảm dần xuống còn mức thấp nhất trong năm giảm 32% và 34% chỉ trong vòng 8 tuần Áp lực lạm phát đối với Việt Nam là không thể phủ nhận, tuy nhiên, NHNN đã kiểm soát được lạm phát ổn định trong năm, không có những cú sốc về giá cả, chỉ số giá tiêu dùng bình quân cả năm khoảng 3,5% đạt mức lạm phát mục tiêu do Quốc Hội phê chuẩn

(nguồn: số liệu Ngân hàng nhà nước )

Và xét từ góc độ của CSTT có thể thấy, NHNN đã kiểm soát tốt cung tiền, chủ động trong việc điều chỉnh lượng cung tiền tác động đến lạm phát, điều này được phản ảnh bởi diễn biến lạm phát cơ bản được kiểm soát tương đối hợp lý, hài hòa với mức độ tăng/giảm giá hàng hóa do tác động bởi các yếu tố phi tiền tệ, đảm bảo kiểm soát được lạm phát ở mức mục tiêu

Các chính sách thành công kiểm soát lạm phát cơ bản bình quân ở mức 2,01% Mặc

dù chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc có nhiều diễn biến khó lường khiến đồng nhân dân tệ (CNY) của Trung Quốc mất giá xuống mức thấp nhất trong 11 năm qua, nhưng giá trị của đồng tiền Việt Nam vẫn giữ được xu hướng ổn định Mức tăng CPI bình quân giảm so với năm 2018 là 3,5%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra là 4%

Trang 10

Để đạt được kết quả này là sự kết hợp chặt chẽ của chính sách tiền tệ linh hoạt, hợp

lý cùng với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác Trong năm, cơ quan điều hành đã chủ động sử dụng một loạt các công cụ thị trường tiền tệ như hạ lãi suất điều hành, hạ lãi suất thông qua kênh tín phiếu/thị trường mở, hạ tỷ giá mua vào song song việc điều chỉnh tăng dần tỷ giá trung tâm phù hợp diễn biến thị trường VND tiếp tục nằm trong nhóm những đồng tiền ổn định nhất khu vực bất chấp những bất ổn địa chính trị và các sự kiện kinh tế toàn thế giới Cặp tỷ giá USD/VND gần như duy trì

đà ổn định xuyên suốt trong hầu hết các tháng của năm 2019 và thậm chí VND tăng giá

so USD

Bức tranh toàn cầu năm 2020 khởi đầu ảm đạm với sự bùng phát, lây lan nhanh chóng của đại dịch Covid-19, kéo theo suy thoái kinh tế toàn cầu nghiêm trọng Bên cạnh thiệt hại về con người, do phải cách ly và phong tỏa xã hội, dịch bệnh đã làm tê liệt nhiều hoạt động kinh tế, thương mại, đầu tư toàn cầu; các giao dịch xuyên biên giới sụt giảm mạnh, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao đột ngột, làm “đứt gãy” các chuỗi cung ứng toàn cầu Song nhờ sự chủ động triển khai quyết liệt kịp thời những chính sách phù hợp, NHNN kiểm soát lạm phát khá tốt:

CPI bình quân năm 2020 tăng do một số nguyên nhân chủ yếu sau: (i) Giá các mặt hàng lương thực tăng 4,51%, (ii) Giá các mặt hàng thực phẩm tăng 12,28%; bên cạnh

đó, do ảnh hưởng của mưa bão, lũ lụt tại các tỉnh miền Trung trong tháng 10 và tháng

11 làm cho giá rau tươi, khô và chế biến tăng; (iii) Giá thuốc và thiết bị y tế tăng 1,35%

do dịch Covid-19

Bên cạnh đó có một số yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI năm 2020: (i) Giá xăng, dầu giảm 23,03%; giá dầu hỏa giảm 31,21%; giá gas trong nước giảm 0,95%;(ii) Nhu cầu đi lại, du lịch của người dân giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm giá của nhóm du lịch trọn gói giảm 6,24% so với năm trước; giá cước vận tải của các loại phương tiện như tàu hỏa, máy bay giảm; (iii) Chính phủ triển khai các gói hỗ trợ cho người dân

và người sản xuất gặp khó khăn do dịch Covid-19 điển hình là gói hỗ trợ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) triển khai giảm giá điện;

Theo ước tính cuối cùng, Lạm phát cơ bản bình quân năm 2020 tăng 2,31% so với bình quân năm 2019, đạt được mục tiêu dưới 4%

Đầu năm 2021, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tuyên bố có thể chấp nhận lạm phát cao hơn 2% trong một thời gian nhất định Trong khi đó, tại Việt Nam, mặc dù giá hàng nhập khẩu, giá xăng dầu và than tăng, nhưng áp lực lạm phát vẫn rất thấp Lạm phát bình quân 10 tháng đầu năm 2021 chỉ ở mức 1,81%, so với thời điểm cuối tháng 12/2020 chỉ tăng 1,67%, nguyên nhân chính là do tổng cầu giảm mạnh, nền kinh tế nằm dưới sản lượng tiềm năng, nên hầu như không có áp lực cho lạm phát Mức lạm phát cả năm 2021 ước đạt khoảng 2,5%, cách khá xa mục tiêu 4% đặt ra

Ngày đăng: 04/06/2022, 22:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm