TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂNKHOA LUẬT CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP KHÓA 24 ĐỀ TÀI: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI LAO
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN
KHOA LUẬT
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
KHÓA 24
ĐỀ TÀI: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
TRONG GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI TAND
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
TRẦN THỊ THU UYÊN
ĐÀ NẴNG - 03/ 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN
KHOA LUẬT
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
TRONG GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC ĐƠN
PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI TAND
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thời gian thực tập : 17/02/2022 - 24/03/2022
Địa điểm thực tập : Tòa án Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Thanh Tâm
Sinh viên thực hiện : Trần Thị Thu Uyên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường cùng quýthầy cô trong khoa luật - trường Đại học Duy Tân, đã tạo điều kiện để em có cơ hộiđược đi thực tập, học hỏi kinh nghiệm và vận dụng những kiến thức đã học vào thực
tế cuộc sống Đây là một cơ hội tốt giúp em có thêm những trải nghiệm va chạmtrong thực tế, đồng thời có thể làm quen với công việc tương lai sau này của mình.Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến thầy Nguyễn Thanh Tâm đã giúp em hoànthành tốt bài báo cáo này Để đạt được kết quả như ngày hôm nay, không chỉ dựavào sự nổ lực của bản thân mà thêm vào đó là sự giúp đỡ nhiệt tình đến từ phía nhàtrường và đơn vị thực tập
Trong suốt quá trình thực tập tại Tòa án Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, em đãnhận được nhiều sự giúp đỡ tận tình và tạo điều kiện từ phía đơn vị thực tập Qua
đó, em xin bày tỏ lòng biết ơn đến bác Phó Chánh án Bùi Văn Thanh và chị Thư kýNguyễn Thị Như Thuần đã tận tình chỉ dẫn, tạo điều kiện để em có thể nghiên cứuhọc tập, thu thập tài liệu và hướng dẫn em trong quá trình thực tập ở đơn vị
Mặc dù, em đã cố gắng để hoàn thành tốt bài báo cáo này Tuy nhiên, vì thờigian, kinh nghiệm cùng với nhận thức còn hạn chế, thêm vào đó là lượng kiến thứccòn non nớt sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót khi làm báo cáo cũng như trongquá trình tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm Do vậy, kính mong nhận được sự góp ý từquý thầy cô để bài báo cáo của em có thể hoàn thiện hơn
Cuối cùng, xin chúc quý thầy cô cùng các anh chị trong cơ quan dồi dào sứckhỏe, thành công trong công việc và hạnh phúc trong cuộc sống
Chân thành cảm ơn!
ĐÀ NẴNG - 03/ 2022
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4
MỞ ĐẦU 5
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 9
1.1 Khái quát chung về hợp đồng lao động 9
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng lao động 9
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng lao động 10
1.2 Khái quát chung về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động 11
1.2.1 Khái niệm về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động 11
1.2.2 Đặc điểm của đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động 12
1.2.3 Ý nghĩa của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động 14
1.3 Pháp luật trong giải quyết vụ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động 15
1.3.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật trong giải quyết vụ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động 15
1.3.2 Nội dung điều chỉnh bằng pháp luật trong giải quyết vụ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động 16
Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 19
2.1 Khái quát về Tòa án Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế 19
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Tòa án Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế 19
2.1.2 Cơ cấu, tổ chức của Tòa án Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế 20
1
Trang 52.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động tại Tòa án Nhân dân
tỉnh Thừa Thiên Huế 21
2.2.1 Khái quát về tình hình áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động 21
2.2.2 Những kết quả đạt được 23
2.2.3 Những khó khăn, vướng mắc 23
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOÀN THIỆN VÀ TỔ CHỨC THI HÀNH PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 25
3.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoàn thiện pháp luật trong giải quyết vụ việc đơn phương chấm dứt hợp đông lao động của người lao động25 3.2 Giải pháp tổ chức thi hành pháp luật trong giải quyết vụ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động 26
KẾT LUẬN 27
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
DANH MỤC TÀI LIỆU SƯU TẦM 29
2
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Hình 2.1 Cơ cầu tổ chức của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế 21
Bảng 2.2Thống kê số lượng các vụ án tranh chấp đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động tại Tòa án Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm
2019 đến năm 2021
22
4
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay, các QHLĐ được hình thànhchủ yếu trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm cótrả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trongQHLĐ Từ những thương lượng, thỏa thuận này đã hình thành nên HĐLĐ giữa cácbên và vì vậy QHLĐ sẽ kết thúc khi HĐLĐ chấm dứt
Trên thực tế HĐLĐ đã chứng minh được những thuận lợi cho các bên trongQHLĐ khi giao kết, thực hiện công việc theo thỏa thuận Để đảm bảo quyền và lợiích của các chủ thể khi một bên không còn muốn tiếp tục giao kết hợp đồng với bênkia tùy vào ý chí của họ, điều này đòi hỏi pháp luật phải có những quy định cụ thể,chặt chẽ về việc này Xuất phát từ lý do nêu trên, quy định của pháp luật về đơnphương chấm dứt HĐLĐ ra đời là hết sức cần thiết và hữu ích, hành vi đơn phươngchấm dứt HĐLĐ sẽ giúp cho các chủ thể giải phóng được quyền và nghĩa vụ đãtừng ràng buộc mình trước đó Và hành vi này được xem là biện pháp hữu hiệu bảo
vệ các bên trong QHLĐ khi có sự vi phạm trong cam kết hợp đồng, vi phạm phápluật lao động từ phía đối phương
Đảm bảo quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ còn là yếu tố quan trọng gópphần cân bằng mức độ năng động, linh hoạt của thị trường lao động trong thời kỳhội nhập kinh tế hiện nay Tuy nhiên, những quy định về vấn đề này như thế nàođồng thời việc hiểu và thực hiện các quy định đó trong thực tiễn ra sao? Như vậy, từ
những lý do nêu ở trên, tôi quyết định chọn đề tài “Thực tiễn áp dụng pháp luật
trong giải quyết vụ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động” để làm chuyên đề báo cáo trong suốt quá trình thực tập của mình Đồng thời,
thông qua bài viết này tôi muốn các bạn có những hiểu biết cụ thể về những quyđịnh của pháp luật Việt Nam về đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ và thựctrạng thực hiện các quy định đó trong một phạm vi nhất định trên lãnh thổ hình chữ
S của nước ta, cụ thể đó là TAND tỉnh Thừa Thiên Huế Qua đó, đưa ra những bấtcập và ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật Việt Nam vềlĩnh vực này
2 Tình hình nghiên cứu
5
Trang 9Việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ luôn mang đến những ảnh hưởng nhất định
về quyền lợi và nghĩa vụ đối với các bên trong QHLĐ Thế nên, nội dung này luônđược các nhà lập pháp, các nhà nghiên cứu đánh giá là vấn đề quan trọng và cơ bản,luôn quan tâm để tìm ra phương hướng hoàn thiện hơn Đứng trước việc cần thiếtnghiên cứu về pháp luật HĐLĐ, điển hình là vấn đề đơn phương chấm dứt HĐLĐ
đã có nhiều tác giả với những công trình nghiên cứu sau đây:
“Pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động - Những vấn đề lý luận vàthực tiễn” của Nguyễn Thị Hoa Tâm - Trường đại học Luật TP.HCM
Khóa luận tốt nghiệp “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật - Lýluận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền, trường Đại học Luật HàNội, năm 2015
“Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng lao động” của Thạc sĩNguyễn Thúy Hà, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin khoa học thuộc viện nghiêncứu lập pháp đăng trên website của Viện nghiên cứu lập pháp ngày 09/06/2012.Luận văn thạc sĩ luật học “Pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động qua thực tiễntại tỉnh Quảng Bình” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền, Trường Đại học Luật Huế,năm 2019
Luận văn thạc sĩ luật học “Hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt hợpđồng lao động trái pháp luật, qua thực tiễn tại tỉnh Phú Yên” của tác giả TrươngDũng Khả, Trường Đại học Luật Huế, năm 2019
Tuy nhiên, về gốc độ nghiên cứu riêng về đơn phương chấm dứt HĐLĐ củaNLĐ thì có rất ít công trình tập trung đi sâu vào nghiên cứu Đặc biệt, là từ khiBLLĐ 2019 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóaXIV, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2019 và có hiệu lực thi hành từngày 01 tháng 01 năm 2021 Vậy nên, thông qua chuyên đề báo cáo thực tập này tôimuốn trình bày cho người đọc có cái nhìn khái quát hơn, toàn diện hơn để làm rõ vềvấn đề đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ theo quy định của văn bản pháp luậthiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
6
Trang 10Mục đích của chuyên đề báo cáo này là nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề cơbản và thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ việc đơn phương chấm dứtHĐLĐ của NLĐ Trên cơ sở đã nghiên cứu được, từ đó đưa ra những đề xuất, kiếnnghị nhằm nâng cao hiệu quả hoàn thiện pháp luật trong giải quyết vụ việc đơnphương chấm dứt HĐLĐ góp phần đáp ứng những điều kiện kinh tế thị trường và
xu hướng hội nhập Quốc tế của nước ta hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đã đề ra, thì chuyên đề báo cáo thực tập đã thiết lậpnhững nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, nghiên cứu một số vấn đề cơ bản như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và hệ
quả pháp lý của đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ
Thứ hai, nghiên cứu sự cần thiết phải điều chỉnh và nội dung điều chỉnh bằng pháp
luật đối với việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ, từ đó làm cơ sở pháp lý để đánh giátính hợp lý của pháp luật hiện hành về vấn đề này
Thứ ba, nghiên cứu về thực trạng áp dụng pháp luật Việt Nam hiện hành về đơn
phương chấm dứt HĐLĐ và thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật nhằmtìm ra những điểm bất cập, chưa hợp lý của các quy định hiện hành, tạo điều kiệnđưa ra kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ
Thứ tư, đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hiện thiện pháp luật về đơn
phương chấm dứt HĐLĐ ở nước ta hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề báo cáo thực tập xoay quanh về nhữngquy định của pháp luật thông qua các văn bản pháp luật về HĐLĐ nói chung, chấmdứt HĐLĐ và đơn phương chấm dứt HĐLĐ nói riêng Bên cạnh đó, đối tượngnghiên cứu của chuyên đề còn đề cập đến thực trạng pháp luật Việt Nam về đơnphương chấm dứt HĐLĐ và một số văn bản pháp luật mới được ban hành về nộidung này
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này tập trung nghiên cứu nhằm làm rõ các quyđịnh của pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ Thêm vào đó là thực
7
Trang 11tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ tại TANDtỉnh Thừa Thiên Huế.
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thể hiện lên tính chân thật, chính xác đồng thời đảm bảo được tính logiccủa bài báo cáo thực tập thì bài viết được vận dụng khá nhiều phương pháp nghiêncứu như: phương pháp phân tích, tổng hợp, suy luận, đánh giá và phương pháp thuthập thông tin Để làm rõ nội dung về quy định của pháp luật đơn phương chấm dứtHĐLĐ thì phương pháp được vận dụng chủ yếu ở đây là phương pháp phân tích cácquy định của pháp luật về vấn đề này, qua đó đánh giá và tổng hợp lại một cáchhoàn chỉnh
6 Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung của
đề tài bao gồm ba chương chính sau đây:
Chương 1 Một số vấn đề cơ bản về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và pháp luật về giải quyết đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động.
Chương 2 Thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động tại Tòa án Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chương 3 Một số kiến nghị, đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoàn thiện và thực thi pháp luật trong giải quyết vụ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động.
8
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI LAO
ĐỘNG 1.1 Khái quát chung về hợp đồng lao động
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng lao động
Hợp đồng theo Từ điển tiếng Việt được hiểu: “Là sự thỏa thuận giao ước giữahai hay nhiều bên quy định các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia, thườngđược viết thành văn bản” Tại Điều 385 BLDS 2015 có quy định khái niệm về hợpđồng: “Là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứtquyền, nghĩa vụ dân sự” Như vậy, về bản chất, hợp đồng phải là sự thoả thuận, giaoước giữa các bên và nội dung của nó phải là những quy định về các quyền lợi vànghĩa vụ của các bên tham gia HĐLĐ cũng là một loại hợp đồng (trước đây HĐLĐđược xem là hợp đồng dân sự, sau này mới tách ra thành loại HĐLĐ riêng), vì vậy
nó cũng phải mang bản chất của hợp đồng nói chung đó là tính khế ước, được hìnhthành trên cơ sở sự thoả thuận của các bên Song khác với hợp đồng dân sự hay hợpđồng thương mại, sự thoả thuận này phải là sự thoả thuận giữa các chủ thể củaQHLĐ và nội dung của nó phải liên quan đến các quyền và nghĩa vụ của các bênnhư vấn đề về việc làm, tiền lương, thời gian làm việc, bảo hiểm xã hội
Tại Điều 1 Pháp lệnh HĐLĐ được Hội đồng Nhà nước ban hành ngày30/8/1990 - văn bản pháp lý đánh dấu mốc quan trọng về HĐLĐ quy định: “Hợpđồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động với người sử dụng thuê mướnlao động (gọi chung là NSDLĐ) về việc làm có trả công, mà hai bên cam kết vớinhau về điều kiện sử dụng lao động và điều kiện lao động, về quyền và nghĩa vụ củamỗi bên trong quan hệ lao động” Tiếp đến tại Điều 26 của BLLĐ 1994 (sửa đổi, bổsung 2002, 2006, 2007) quy định về HĐLĐ như sau: “ Hợp đồng lao động là sựthỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công,điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ mỗi bên trong quan hệ lao động” Thêm vào
đó, tại Điều 15 của BLLĐ năm 2012 quy định: “ Hợp đồng lao động là sự thỏathuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điềukiện làm việc quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động” Quy định
9
Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)
Trang 13này gần như tương đồng với nội dung trong BLLĐ 1994, tuy có phần chỉnh sửa “trảlương, điều kiện làm việc” thay cho “ trả công, điều kiện lao động”
Hiện nay, tại Điều 13 của BLLĐ 2019 quy định: “Hợp đồng lao động là sựthỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công,tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ laođộng” Có thể thấy khái niệm HĐLĐ trong BLLĐ năm 2019 về cơ bản quay lạiđịnh nghĩa về hợp đồng lao động theo BLLĐ năm 1994 nhưng có thêm yếu tố tiềnlương Định nghĩa này đã nêu được các yếu tố cơ bản của HĐLĐ, đó là về bản chấthợp đồng lao động là sự thương lượng, thoả thuận, giao ước của các bên, chủ thểcủa HĐLĐ là NLĐ và NSDLĐ, nội dung là việc làm có trả công, tiền lương điềukiện lao động, quyền và nghĩa vụ của các bên trong QHLĐ Đặc biệt BLLĐ năm
2019 còn quy định: “Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nộidung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sátcủa một bên thì được coi là hợp đồng lao động” Điều đó có nghĩa việc xác địnhmột hợp đồng là HĐLĐ không quá phụ thuộc vào tên gọi của hợp đồng mà phụthuộc vào nội dung của nó
Như vậy, có thể thấy “Hợp đồng lao động thực chất là sự thoả thuận giữa hai
chủ thể, một bên là người lao động có nhu cầu về việc làm, một bên là người sử dụng lao động có nhu cầu thuê mướn người lao động để mua sức lao động” Trong
đó, NLĐ cam kết tự nguyện làm một công việc cho NSDLĐ và đặt mình dưới sự quản lí của NSDLĐ và được NSDLĐ trả lương”.
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng lao động
Theo khái niệm đã phân tích ở trên, thì HĐLĐ mang những đặc trưng cơ bảnsau đây:
Thứ nhất, trong HĐLĐ có sự phụ thuộc pháp lý của NLĐ với NSDLĐ Đây là đặc
trưng được coi là tiêu biểu nhất của HĐLĐ mà các hệ thống pháp luật khác nhaunên thừa nhận Khi tham gia vào QHLĐ, mỗi NLĐ thực hiện các nghĩa vụ có tính
cá nhân, đơn lẻ nhưng lao động ở đây là lao động mang tính xã hội hóa, vì thế hiệuquả cuối cùng lại phụ thuộc vào sự phối hợp của cả tập thể, của tất cả các QHLĐ
Vì vậy, cần thiết phải có sự thống nhất, liên kết, điều phối bằng các yêu cầu, đòi hỏi,rằng buộc, mệnh lệnh… của chủ sở hữu doanh nghiệp
10
Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)
Trang 14Thứ hai, đối tượng của HĐLĐ là việc làm có trả công Khi NSDLĐ mua hàng hóa
sức lao động thì cái mà họ được sở hữu đó là một quá trình lao động biểu thị thôngqua thời gian làm việc, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thái độ, ý thức… của NLĐ
và để thực hiện được những yêu cầu nói trên, NLĐ phải cung ứng sức lao động từthể lực và trí lực của chính mình Như vậy, lao động được mua bán trên thị trườngkhông phải là lao động trừu tượng mà là lao động cụ thể, lao động thể hiện thànhviệc làm
Thứ ba, HĐLĐ do đích danh NLĐ thực hiện Đặc trưng này xuất phát từ bản chất
của quan hệ HĐLĐ Nó thường được thực hiện trong môi trường xã hội hóa, có tínhchuyên môn hóa và hợp tác hóa rất cao, vì vậy, khi NSDLĐ thuê NLĐ người takhông chỉ quan tâm tới đạo đức, ý thức, phẩm chất Do đó, NLĐ phải trực tiếp thựchiện các nghĩa vụ đã cam kết, không được chuyển dịch vụ cho người thứ ba
Thứ tư, HĐLĐ được thực hiện liên tục trong thời gian nhất định hay vô định Thời
hạn của hợp đồng có thể được xác định rõ từ ngày có hiệu lực tới một thời điểm nào
đó, xem cũng có thể không xác định trước thời hạn kết thúc Ở đây, các bên – đặcbiệt là NLĐ không có quyền lựa chọn hay làm việc theo ý chí chủ quan của mình
mà công việc phải được thi hành tuần tự theo thời gian đã được NSDLĐ xác định :ngày làm việc, tuần làm việc
1.2 Khái quát chung về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
1.2.1 Khái niệm về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
Hợp đồng lao động là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của QHLĐ, là cơ sở đểhình thành, duy trì và chấm dứt QHLĐ HĐLĐ được hình thành dựa trên sự thỏathuận của các bên QHLĐ thông thường là loại quan hệ mang tính ổn định, lâu dàinhưng không phải là quan hệ “vĩnh cửu” nên có thể được chấm dứt bởi những căn
cứ khác nhau Một trong những căn cứ nổi bật làm chấm dứt QHLĐ đó chính là đơnphương chấm dứt HĐLĐ, là một hành vi có chủ ý của một bên và không phụ thuộcvào ý chí của chủ thể còn lại Ý chí này phải được biểu thị ra bên ngoài dưới hìnhthức nhất định và được truyền đạt tới chủ thể đối tác mà không cần thiết phải được
chủ thể đó chấp nhận Vì vậy, có thể hiểu “Đơn phương chấm dứt hợp hợp đồng
lao động của người lao động là việc một bên tự ý (hay còn gọi là người lao động)
11
Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)
Trang 15chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động mà không phụ thuộc hay không cần thiết phải nhận được sự chấp thuận của bên còn lại (hay còn gọi là người sử dụng lao động)”.
1.2.2 Đặc điểm của đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
Trải qua hơn 6 năm triển khai thực hiện, BLLĐ 2012 đã bộc lộ những bất cập,hạn chế, đặc biệt có nhiều quy định sẽ trở thành rào cản khi Việt Nam hội nhập quốc
tế Vì vậy, ngày 20/11/2019, Quốc hội Khóa XIV đã thông qua BLLĐ sửa đổi năm
2019 với nhiều thay đổi lớn nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; đồngthời khắc phục những tồn tại, bất cập trong BLLĐ 2012 Quyền đơn phương chấmdứt HĐLĐ của NLĐ cũng là một trong những nội dung được chú ý sửa đổi theohướng mở rộng nhằm phù hợp hơn với các tiêu chuẩn lao động quốc tế, bảo vệ tốthơn quyền và lợi ích của các bên trong QHLĐ BLLĐ 2019 đã quy định những đặcđiểm liên quan đến quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ như sau:
Thứ nhất, người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần nêu lý do, chỉ cần tuân thủ thời hạn báo trước
Nhằm khắc phục những hạn chế, Điều 35 Bộ luật Lao động 2019 cho phép NLĐđược quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần lý do chấm dứt mà chỉ cầnbáo trước cho NSDLĐ theo thời hạn được quy định tương ứng với từng loại hợp
đồng Quy định này đã giúp NLĐ có thể tự do lựa chọn việc làm theo nhu cầu của
bản thân Khi NLĐ thấy công việc hiện tại không đáp ứng được nhu cầu của mìnhthì họ có thể dễ dàng đơn phương chấm dứt công việc cũ để chuyển sang một côngviệc phù hợp hơn, giúp cho NLĐ được đảm bảo hơn về quyền tự do lựa chọn việclàm Tuy nhiên, do việc chấm dứt HĐLĐ sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động củaNSDLĐ nên pháp luật yêu cầu người lao động phải có trách nhiệm với hợp đồng
mà mình đã ký kết thông qua việc họ phải thông báo việc đơn phương chấm dứtHĐLĐ cho NSDLĐ trước một khoảng thời gian, tùy thuộc vào loại hợp đồng mà họ
đã giao kết, để NSDLĐ có hời gian sắp xếp, tìm kiếm lao động thay thế
12
Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)
Trang 16Thứ hai, hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động dẫn đến việc hợp đồng lao động chấm dứt hiệu lực pháp lý trước thời hạn hoặc trước khi công việc theo hợp đồng được hoàn thành.
Một khi các bên đã giao kết hợp đồng thì có lẽ cả hai bên đã xác định được thờiđiểm kết thúc của hợp đồng, và cam kết thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận tronghợp đồng Và khi hết khoảng thời gian đó thì quyền lợi, nghĩa vụ của các bên đãcam kết trong hợp đồng sẽ kết thúc và đương nhiên hợp đồng cũng sẽ chấm dứt.Mặc khác, đơn phương chấm dứt HĐLĐ xảy ra trong trường hợp HĐLĐ chưa hếthạn hay có thể hiểu là hợp đồng vẫn đang trong thời gian thực hiện hoặc công việcđược giao chưa hoàn thành mà trong đó do ý chí của một chủ thể quyết định đơnphương chấm dứt hợp đồng và có thể là thông báo hoặc không thông báo cho chủthể kia biết, tùy vào từng loại hợp đồng đã giao kết
Thứ ba, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật sẽ giải phóng cho chủ thể khỏi các nghĩa vụ ràng buộc trong hợp đồng lao động.
Điều này khác hẳn với việc thay đổi hay tạm hoãn hợp đồng Thay đổi HĐLĐ làviệc tăng hay giảm một số quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, thay đổi một số nội dung
mà hợp đồng trước đó đã ký kết Còn đối với tạm hoãn thực hiện hợp đồng chỉ làviệc tạm thời dừng thực hiện hợp đồng trong một khoảng thời gian nhất định haytheo các căn cứ của luật định Sau một thời gian các bên tiếp tục thực hiện quyền vànghĩa vụ đã ký kết trong hợp đồng và hiển nhiên hợp đồng này vẫn có giá trị về mặtpháp lý, không bị hủy bỏ hay mất hiệu lực thi hành Vì vậy, việc đơn phương chấmdứt HĐLĐ đúng pháp luật sẽ làm cho QHLĐ được thiết lập trong hợp đồng trước
13
Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)
Trang 17chỉ cần một chủ thể sử dụng quyền để chấm dứt QHLĐ và đồng thời ý chí này đượcbiểu hiện ra bên ngoài dưới hình thức nhất định để cho phía bên kia được biết màkhông cần thiết phải nhận được sự chấp thuận của bên kia.
1.2.3 Ý nghĩa của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
Tuy QHLĐ mang tính chất lâu dài và ổn định nhưng nó không phải là “vĩnhcửu” để có thể tồn tại lâu dài Không phải trong tất cả các QHLĐ cả hai bên đều đạtđược mục tiêu như mong muốn đã đề ra, mà đôi khi thay vào đó là một bên sử dụngquyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ như là một phương hướng giải quyết tốt nhất,một sự lựa chọn phù hợp để tránh những tranh chấp không đáng có xảy ra
Đối với NLĐ, việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ giúp cho họ có quyền tự dotrong tìm kiếm việc làm, lựa chọn môi trường làm việc phù hợp với bản thân Quyđịnh này góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ trong trường hợpNLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật Không những thế, khi NSDLĐ
có những hành vi ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói nhục mạ, hành vi làm ảnhhưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự thì NLĐ có quyền đơn phương chấm dứtHĐLĐ mà không cần phải báo trước cho NSDLĐ Điều này đã cho thấy pháp luật
đã có quy định giúp NLĐ tự chủ hơn trong vấn đề chấm dứt HĐLĐ, họ không cầnphải nhẫn nhục hay chịu đựng về những hành vi bất công đó, mà thay đó pháp luật
đã trao cho NLĐ được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng Góp phần bảo vệ lợiích chính đáng của NLĐ, một tầng lớp được cho là có vị thế yếu hơn trong QHLĐ Đối với xã hội, quy định này góp phần thúc đẩy xã hội ngày càng văn minhtiến bộ hơn Việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ của người lao động giúp cải thiệnđược QHLĐ, nâng cao sức cạnh tranh của NLĐ, đồng thời tạo cho họ có khả năngthích nghi và tìm kiếm được những công việc tốt hơn, phù hợp với khả năng củabản thân
Đối với kinh tế, việc NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ có ý nghĩa to lớn đốivới NSDLĐ Bởi lẽ, nếu NSDLĐ không muốn mất những nhân tài của công ty mìnhthì đòi hỏi phải có những chế độ đãi ngộ tốt hơn, cùng với một môi trường làm việcthân thiện, hòa đồng Xây dựng một mối quan hệ ôn hòa với NLĐ Có như thế, mớitạo được niềm tin cùng với sự trung thành từ phía NLĐ Một khi NLĐ nhận được
14
Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)
Trang 18những đãi ngộ tốt từ phía NSDLĐ thì họ sẽ yên tâm làm việc, cống hiến sức lực, tàinăng của mình cho công ty Điều này, không những làm tăng khả năng doanh thucủa doanh nghiệp mà còn góp phần thúc đẩy nền kinh tế của đất nước phát triểnmạnh mẽ, ngày càng đi lên
Nói tóm lại, mặc dù bên cạnh những khía cạnh tích cực thì vẫn còn tồn tạikhông ít những mặt trái của quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ, songchúng ta cũng phải thừa nhận rằng chính quyền này đã góp phần bảo vệ quyền vàlợi ích chính đáng của NLĐ khi họ đơn phương chấm dứt HĐLĐ một cách đúngpháp luật
1.3 Pháp luật trong giải quyết vụ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
1.3.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật trong giải quyết vụ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thànhphần kinh tế, để đảm bảo sự bình đẳng và tự do cạnh tranh lành mạnh của các chủthể trong QHLĐ, BLLĐ và các văn bản hướng dẫn ra đời với mục đích bảo vệquyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của NLĐ, đồng thời cũng bảo vệ quyền
và lợi ích của NSDLĐ BLLĐ 2019 đã giải quyết được phần lớn những vướng mắc,bất cập của BLLĐ năm 1994, sửa đổi, bổ sung năm 2006, 2007 và BLLĐ năm
2012, trong đó có nội dung quan trọng là quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ củaNLĐ Chính vì thế, trong bất kỳ các quan hệ nào cũng cần đến sự điều chỉnh củapháp luật, và trong QHLĐ của các chủ thể thì lại càng không thể thiếu được sự điềuchỉnh của pháp luật thông qua BLLĐ 2019 Do đó, điều chỉnh bằng pháp luật vềđơn phương chấm dứt HĐLĐ của người lao động là một yêu cầu mang tính kháchquan, góp phần ổn định tạo ra khung hành lang pháp lý để hạn chế những ảnhhưởng tiêu cực của đơn phương chấm dứt HĐLĐ
Xét về phương diện xã hội, điều chỉnh bằng pháp luật đối với hành vi đơnphương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ sẽ góp phần giúp cho xã hội ổn định Bởi lẽ, khiNLĐ được làm việc ở trong môi trường phù hợp, bản thân cảm thấy thoải mái vàyêu thích chính công việc đó Điều này sẽ là một động lực to lớn thúc đẩy tạo ra lợi
15
Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)