Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc Việt Nam. Thực tiễn Việt Nam gần một trăm năm qua chứng minh, chỉ có Đảng Cộng sản mới có đủ uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước và không có một lực lượng chính trị nào có thể thay thế được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Sự lãnh đạo của Đảng đối với đất nước được thực hiện thông qua hệ thống chính trị, nhưng quan trọng nhất và chủ yếu là thông qua Quốc hội và Chính phủ. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ở nước ta là tất yếu. Đảng đã lãnh đạo nhân dân làm cách mạng và lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Đảng Cộng sản luôn giữ vai trò lãnh đạo Quốc hội và Chính phủ từ khi giành được chính quyền cho đến nay và sẽ còn tiếp tục lâu dài về sau. Nhà nước mà chúng ta hiện nay đang xây dựng là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Về bản chất là Nhà nước xã hội chủ nghĩa, tức là tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật, bản thân Nhà nước cũng phải tổ chức và hoạt động theo pháp luật. Nhà nước tổ chức và hoạt động theo pháp luật còn Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng chủ trương, đường lối. Trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước cụ thể hóa thành pháp luật, chính sách… để thực hiện trong toàn xã hội.Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã quy định rất rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Không chỉ được hiến định trong Hiến pháp, mà trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp cùng nhiều văn bản pháp luật của nước ta cũng quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội.Hiện nay cả nước ta đang bước vào tiến trình mới trong công cuộc xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và các kết luận, quyết định chỉ đạo của Đảng trong bối cảnh, tình hình có nhiều khó khăn, thách thức lớn hơn trước và gay gắt hơn so với dự báo, nhiều vấn đề mới nổi lên như dịch bệnh, biến đổi khí hậu, vấn đề an ninh quốc gia, công nghệ số internet,… đã tác động nhiều mặt đến trật tự, an toàn xã hội, cấu trúc kinh tế, phương thức quản trị và tổ chức hoạt động kinh tế và đời sống xã hội. Đòi hỏi cần phải nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội và Chính phủ để điều hành, phát triển đất nuớc thích ứng với tình hình mới. Từ lý do trên, tôi chọn đề tài “Phân tích những giải pháp chủ yếu nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội và Chính phủ trong tình hình hiện nay” để nghiên cứu viết bài tiểu luận kết thúc học phần môn Đảng lãnh đạo Nhà nước và các lĩnh vực đời sống xã hội;
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 3
6 Kết cấu của tiểu luận 3
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI QUỐC HỘI VÀ CHÍNH PHỦ……… 4
1.1 Vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và đặc điểm của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 4
1.2 Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 7
CHƯƠNG II ĐẢNG LÃNH ĐẠO QUỐC HỘI VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 9
2.1 Đảng lãnh đạo Quốc hội 9
2.2 Đảng lãnh đạo Chính phủ 12
2.3 Quan điểm của Đảng về đổi mới Quốc hội, Chính phủ theo tinh thần Đại hội toàn quốc lần thứ XIII 14
CHƯƠNG III NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI QUỐC HỘI VÀ CHÍNH PHỦ TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY 17
3.1 Bối cảnh tình hình 17
3.2 Giải pháp chủ yếu nâng cao năng lực lãnh đạo của đảng đối với Quốc hội và Chính phủ 18
KẾT LUẬN 22
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 2MỞ ĐẦU
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của giai cấp công nhân,nhân dân lao động và toàn dân tộc Việt Nam Thực tiễn Việt Nam gần mộttrăm năm qua chứng minh, chỉ có Đảng Cộng sản mới có đủ uy tín và khảnăng lãnh đạo đất nước và không có một lực lượng chính trị nào có thể thaythế được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Sự lãnh đạo của Đảng đối vớiđất nước được thực hiện thông qua hệ thống chính trị, nhưng quan trọng nhất
và chủ yếu là thông qua Quốc hội và Chính phủ
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ở nước ta là tất yếu Đảng đã lãnh đạonhân dân làm cách mạng và lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; giảiphóng dân tộc và thống nhất đất nước Đảng Cộng sản luôn giữ vai trò lãnhđạo Quốc hội và Chính phủ từ khi giành được chính quyền cho đến nay và sẽcòn tiếp tục lâu dài về sau Nhà nước mà chúng ta hiện nay đang xây dựng làNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Về bản chất là Nhà nước xã hội chủnghĩa, tức là tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, là nhà nước của nhân dân, donhân dân và vì nhân dân Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội chủ yếu bằngpháp luật, bản thân Nhà nước cũng phải tổ chức và hoạt động theo pháp luật.Nhà nước tổ chức và hoạt động theo pháp luật còn Đảng lãnh đạo Nhà nướcbằng chủ trương, đường lối Trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, Nhànước cụ thể hóa thành pháp luật, chính sách… để thực hiện trong toàn xã hội
Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đãquy định rất rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp côngnhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc ViệtNam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động
và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làmnền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” Không chỉđược hiến định trong Hiến pháp, mà trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội vàđại biểu HĐND các cấp cùng nhiều văn bản pháp luật của nước ta cũng quy
Trang 3định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và
xã hội
Hiện nay cả nước ta đang bước vào tiến trình mới trong công cuộc xâydựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, quá trình triển khai thực hiện Nghịquyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và các kết luận, quyết định chỉ đạo củaĐảng trong bối cảnh, tình hình có nhiều khó khăn, thách thức lớn hơn trước
và gay gắt hơn so với dự báo, nhiều vấn đề mới nổi lên như dịch bệnh, biếnđổi khí hậu, vấn đề an ninh quốc gia, công nghệ số internet,… đã tác độngnhiều mặt đến trật tự, an toàn xã hội, cấu trúc kinh tế, phương thức quản trị và
tổ chức hoạt động kinh tế và đời sống xã hội Đòi hỏi cần phải nâng cao hơnnữa năng lực lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội và Chính phủ để điều hành,phát triển đất nuớc thích ứng với tình hình mới Từ lý do trên, tôi chọn đề tài
“Phân tích những giải pháp chủ yếu nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội và Chính phủ trong tình hình hiện nay” để nghiên
cứu viết bài tiểu luận kết thúc học phần môn Đảng lãnh đạo Nhà nước và cáclĩnh vực đời sống xã hội;
2 Mục đích của việc nghiên cứu:
Trang bị thêm kiến thức để nhận thức cơ sở lý luận, thực tiễn và nội
dung cơ bản về hoạt động, tổ chức của Quốc hội và Chính phủ nước ta hiện
nay và các phương pháp nâng cao năng lực lãnh đạo cuả Đảng đối với Quốchội và Chính phủ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Quốc
hội và Chính phủ, nội dung lãnh đạo của đảng đối với Quốc hội và Chínhphủ; bối cảnh tình hình và các phương pháp nâng cao năng lực lãnh đạo cuảĐảng đối với Quốc hội và Chính phủ
4 Về cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở Hiến pháp và các quy định của pháp Luậtliên quan đến sự lãnh đạo của Đảng với Quốc hội và Chính Phủ
Trang 45 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn:
Việc nghiên cứu phân tích các phương pháp nâng cao năng lực lãnhđạo cuả Đảng đối với Quốc hội và Chính phủ trong tinh hình hiện nay là cơ
sở quan trọng để chúng ta khẳng định lập trường, nâng cao tinh thần cảnh giáccách mạng, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo
vệ nền tảng, tư tưởng của Đảng, bảo vệ Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa
6 Về kết cấu nội dung của tiểu luận gồm 3 phần:
- Phần 1 Mở đầu
- Phần 2 Nội dung (gồm 3 chương)
+ Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNGSẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI QUỐC HỘI VÀ CHÍNH PHỦ
+ Chương 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO QUỐC HỘI VÀ CHÍNH PHỦNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
+ Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO NĂNGLỰC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI QUỐC HỘI VÀ CHÍNH PHỦTRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY
- Phần 3 Kết luận: Tổng kết lại những vấn đề đã nghiên cứu
Trang 5CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỐI VỚI QUỐC HỘI VÀ CHÍNH PHỦ
1.1 Vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và đặc điểm của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
a) Vị trí, vai trò:
- Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trongnhững cơ quan tối cao quan trọng của bộ máy Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa xã hội Việt Nam, do nhân dân trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc phổthông bầu phiếu: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủhai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân”
(Điều 27 Hiến pháp sửa đổi)
- Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân Việt Nam, khi
nhân dân thực hiện quyền làm chủ nhà nước của mình; đồng thời về mặtquyền lực nhà nước, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Điều
69 Hiến pháp sửa đổi (2013) qui định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhấtcủa Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam”
- Là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam, nên Quốc hội là cơ quan Nhà nước duy nhất có chứcnăng lập Hiến, lập pháp Do thực tiễn chính trị Việt Nam qui định, Quốc hội
là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện chứcnăng lập hiến; việc lập Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp chưa thực hiện quyềnphúc quyết trực tiếp của toàn thể nhân dân Mặt khác, Quốc hội còn có chứcnăng quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước như: chính sách đốinội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước;những nguyên tắc tổ chức và hoạt động chủ yếu của bộ máy nhà nước; về cácquan hệ xã hội xã hội và hoạt động của công dân; Quốc hội còn là cơ quanNhà nước có chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ
Trang 6máy Nhà nước: “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyếtđịnh các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt độngcủa Nhà nước” (Điều 69 Hiến pháp sửa đổi 2013).
b) Nhiệm vụ, quyền hạn
Điều 70 của Hiến pháp sửa đổi 2013 đã qui định nhiệm vụ, quyền hạncủa Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên những nội dung
cơ bản sau đây:
- Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật
- Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật vànghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ banthường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhândân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước và cơ quan khác
- Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước
- Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chínhphủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia,Kiểm toán Nhà nước, chính quyền địa phương và cơ quan khác do Quốc hộithành lập
- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm từ Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước,Chủ tịch Quốc hội, cho đến những người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hộithành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm một số các chức danhkhác của cơ quan nhà nước
- Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặcphê chuẩn
Trang 7- Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ;
thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ
cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật
- Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội,Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội
- Quyết định đại xá
- Quy định hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoạigiao và những hàm, cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương
và danh hiệu vinh dự nhà nước
- Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạngkhẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốcgia
- Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; các điều ước quốc tế về
quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và các điều ướcquốc tế khác trái với luật, nghị quyết của Quốc hội
- Quyết định trưng cầu ý dân
c) Đặc điểm:
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là cơ quan quyềnlực Nhà nước cao nhấ, được tổ chức theo nguyên tắc tập trung, dân chủ, làmviệc theo chế độ hội nghị và quyết đinh theo đa số Nhà nước cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam được tổ chức theo mô hình nhà nước pháp quyền, Quốchội được xác định là cơ quan quyền lực cao nhất, có quyền lập hiến, lập pháp,giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước là mộtđặc điểm rất khác biệt với nhà nước pháp quyền ở nhiều nước trên thế giới.Chính phủ là cơ quan hành pháp, có nhiệm vụ chấp hành nghị quyết của Quốchội
Về mặt tổ chức, Quốc hội bao gồm Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội
Trang 8đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội và cácđại biểu Quốc hội Uỷ ban Thường vụ gồm: Chủ tịch và các phó chủ tịchQuốc hội, các uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, các ban của Uỷ banThường vụ Quốc hội; các uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội không đượcđồng thời là thành viên Chính phủ, làm việc theo chế độ chuyên trách Các uỷban của Quốc hội gồm: Uỷ ban pháp luật; Uỷ ban kinh tế và ngân sách; Uỷban quốc phòng và an ninh; Uỷ ban văn hoá giáo dục, thanh thiếu niên và nhiđồng; Uỷ ban về các vấn đề xã hội; Uỷ ban khoa học, công nghệ và môitrường; Uỷ ban đối ngoại Hội đồng dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội lànhững cơ quan của Quốc hội, làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đasố.
1.2 Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
a) Vị trí, vai trò của Chính phủ
Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trongnhững cơ quan trọng yếu nhất của bộ máy Nhà nước, thực hiện quyền hànhpháp và được xác định là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất, đồng thời là
cơ quan chấp hành của Quốc hội Điều 94 của Hiến pháp (2013) xác định:
“Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hànhcủa Quốc hội Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo côngtác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước” Với vị trí,vai trò nói trên, Chính phủ có nhiệm vụ soạn thảo các dự án luật, ban hànhcác văn bản qui phạm pháp luật; tổ chức quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnhvực đời sống và xã hội
Trang 9b) Chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ
Với tư cách là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chínhnhà nước cao nhất, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước bằng pháp luậtcác nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng, an ninh và đốingoại; bảo đảm hiệu lực của bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảođảm việc tôn trọng hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhândân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc; bảo đảm ổn định và nângcao đời sống của nhân dân Chính phủ được nhân dân uỷ quyền quản lý đấtnước bằng pháp luật và phải tuân theo pháp luật, được sử dụng quyền lựccông (công quyền), tức quyền lực của nhân dân được thể chế hoá thành quyềnlực nhà nước, dưới hình thức Hiến pháp, pháp luật, đối với mọi tổ chức xã hội
và công dân Chính phủ trong sạch, vững mạnh thì quyền làm chủ của nhândân được tôn trọng và phát huy Đảng cầm quyền phải chăm lo xây dựngChính phủ trong sạch, vững mạnh để xứng với niềm tin của nhân dân đã uỷquyền cho Đảng
Là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, từ thực tiễn quản lý đấtnước, Chính phủ có nhiệm vụ soạn thảo và trình các dự án luật, ban hành cácvăn bản pháp luật dưới luật; tạo lập môi trường hành chính và thực thi luậtpháp bình đẳng để các thành phần kinh tế cùng phát triển Luật tổ chức Chínhphủ qui định: “Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụchính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước;bảo đảm hiệu lực của bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở ,”
Trang 10CHƯƠNG II ĐẢNG LÃNH ĐẠO QUỐC HỘI VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
2.1 Đảng lãnh đạo Quốc hội
- Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội
Một là, Đảng định ra quan điểm, chủ trương xây dựng cơ cấu tổ chức,
bộ máy, cán bộ và nguyên tắc hoạt động của Quốc hội
Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương (BCHTW)khoá IX về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thốngchính trị xác định rằng: đối với hoạt động của Quốc hội, “Ban Chấp hànhTrung ương, Bộ Chính trị lãnh đạo chặt chẽ bầu cử Quốc hội, định hướng tiêuchuẩn, số lượng, cơ cấu, tỉ lệ đại biểu chuyên trách, tỉ lệ đảng viên ứng cử đạibiểu Quốc hội ; lãnh đạo việc sửa đổi bổ sung luật bầu cử, ; luật tổ chứcQuốc hội”
Hai là, Đảng lãnh đạo các cơ quan của Quốc hội, các đoàn đại biểu và
đại biểu Quốc hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo qui định của pháp luật:lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan trọngcủa đất nước Về nội dung lãnh đạo này, Đảng ta cũng xác định rất cụ thể như
sau: “Trong lĩnh vực lập pháp: Ban Chấp hành Trung ương xác định chủ trương, định hướng nội dung sửa đổi, bổ sung Hiến pháp Bộ Chính trị cho ý
kiến về chương trình xây dựng luật của nhiệm kỳ Quốc hội; định hướng chínhtrị đối với những nội dung lớn, quan trọng trong các luật, pháp lệnh theo đềnghị của Đảng đoàn Quốc hội; lãnh đạo xây dựng cơ chế phán quyết vềnhững vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp”.Trong lĩnh vực giám sát: Bộ Chính trị, Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo Quốchội xây dựng chương trình kế hoạch thực hiện chức năng giám sát, địnhhướng trọng tâm giám sát và có biện pháp nâng cao hiệu lực giám sát củaQuốc hội tại các kỳ họp, giám sát của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng
Trang 11dân tộc và các uỷ ban và các đoàn đại biểu Quốc hội giữa các kỳ họp Đối vớinhững vấn đề quan trọng của đất nước, Ban Chấp hành Trung ương sẽ lãnhđạo, định hướng Quốc hội quyết định mục tiêu, chính sách lớn trong chiếnlược kinh tế xã hội 5 năm, 10 năm; vấn đề phân bổ ngân sách, chủ trương đầu
tư những công trình quan trọng của đất nước; phê chuẩn những hiệp ước quốctế; vấn đề sát nhập, chia tách bộ máy các bộ, địa giới hành chính các tỉnhthành phố trực thuộc Trung ương
Ba là, Đảng lãnh đạo phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực giữa
Quốc hội, Chính phủ và cơ quan tư pháp
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không thực hiện cơ chế “tamquyền phân lập” như mô hình nhà nước pháp quyền nó chung mà thực hiện cơchế phân công công , phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan Nhànước: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Đảng Cộng sảnViệt Nam là Đảng duy nhất cầm quyền, nên Đảng là lực lượng chính trị lãnhđạo thực hiện sự phân công, phối hợp và kiểm soát các quyền lực cơ bản nàycủa bộ máy Nhà nước
Bốn là, Đảng Lãnh đạo Quốc hội phối hợp hoạt động với với Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội trong hệ thống Chính trịnhằm thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của Quốc hội với nội dung này,Đảng ta lập Đảng đoàn Quốc hội xác định chức năng nhiệm vụ của Đảngđoàn Quốc hội, thiết lập mối quan hệ công tác giữa Đảng doàn Quốc hội với
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các uỷ ban; mối quan hệcông tác với Ban cán sự Chính phủ, Ban cán sự Viện kiểm sát nhân dân tốicao, Ban cán sự Toà án nhân dân tối cao; Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc ViệtNam
- Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội
Một là, Đảng lãnh đạo Quốc thông qua ban hành Cương lĩnh, đường
lối, chủ trương, chính sách để Quốc hội thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ
do pháp luật qui định Cơ sở pháp lý của phương thức lãnh đạo này đã được
Trang 12Điều 4 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 qui định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lựclượng chính trị lãnh đạo Nhà nước và xã hội Bởi vậy, Quốc hội có tráchnhiệm thực hiện cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng.
Hai là, Đảng kịp thời cho ý kiến định hướng những vấn đề quan trọng
thuộc chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội như: chủ trương xây dựng pháp luật;quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; vấn đề cơ chế và nội dunggiám sát của Quốc hội
Ba là, Đảng lãnh đạo Quốc hội thông qua tiến hành các măt công tác
của Đảng trong Quốc hội:
Đảng lãnh đạo thông qua tiến hành công tác tổ chức và cán bộ củaĐảng Đảng thiết lập hệ thống tổ chức của Đảng và bố trí cán bộ, đảng viêncủa Đảng nắm giữ những vị trí quan trọng trong các cơ quan Quốc hội (Đảngđoàn Quốc hội, các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên hoạt động trong Uỷ banThường vụ Quốc hội; Hội đồng dân tộc; các uỷ ban của Quốc hội); đảng viên
là đại biểu Quốc hội và các đoàn đại biểu Quốc hội
Đảng lãnh đạo Quốc hội thông qua tiến hành công tác tư tưởng củaĐảng trong Quốc hội Để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội,chẳng những về mặt tổ chức, Đảng phải thiết lập hệ thống tổ chức của Đảngtrong các cơ quan của Quốc hội, phân công đảng viên hoạt động trong Quốchội, mà còn tiến hành công tác tư tưởng, lý luận của Đảng trong Quốc hộinhằm tuyên truyền, vận động, thuyết phục đội ngũ đảng viên và các đại biểukhông phải là đảng viên của Đảng, phục tùng sự lãnh đạo của Đảng đối vớiQuốc hội
Để lãnh đạo chặt chẽ Quốc hội, cùng với việc tiến hành công tác tổchức cán bộ và công tác tư tưởng nói trên, Đảng ta còn nắm chắc và thườngxuyên tiến hành công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với các tổ chứcđảng và đảng viên hoạt động trong Quốc hội Bảo đảm cho đội ngũ đảng viêncủa Đảng chấp hành nghiêm túc Cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảngtrong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội và quyền, nghĩa vụ của đại