Định nghĩaLoạn trương lực cơ cấp do an thần kinh được mô tả là sự duy trì tư thế bất thường hoặc co cứng cơ khởi phát trong vòng 7 ngày từ khi bắt đầu dùng an thần kinh hoặc tăng nhanh l
Trang 1LOẠN TRƯƠNG LỰC CƠ CẤP DO
AN THẦN KINH
Trang 2Định nghĩa
Loạn trương lực cơ cấp do an thần kinh được mô
tả là sự duy trì tư thế bất thường hoặc co cứng cơ khởi phát trong vòng 7 ngày từ khi bắt đầu dùng
an thần kinh hoặc tăng nhanh liều an thần kinh
hoặc giảm liều các thuốc An thần kinh đang điều trị
sẽ gây nên các triệu chứng ngoại tháp cấp
Trang 3II.Nguyên nhân
Bệnh nguyên và bệnh sinh của loạn trương lực cơ cấp do an thần kinh còn chưa rõ ràng, vì tất cả các thuốc an thần kinh đều gắn với Receptor D2, do
đó người ta cho rằng việc chặn Receptor này tại các vị trí như nhân đuôi, hạch nhân, cầu nhạt đóng góp phần quan trọng gây nên loạn trương lực cơ cấp Điều này cũng có thể giải thích lý do vì sao loạn trương lực cơ cấp ít khi xảy ra ở người cao tuổi, vì hoạt động của D2 giảm đi theo tuổi
Trang 4III Chẩn đoán
1 Chẩn đoán xác định
Một hoặc nhiều hơn các dấu hiệu xuất hiện liên quan đến việc dùng thuốc
an thần kinh:
-Tư thế bất thường của đầu, cổ so với cơ thể: xoắn vặn các cơ cổ, ưỡn
cổ ra sau có thể gây sai khớp hàm ;
- Co thắt các cơ hàm: cứng hàm, há hốc miệng, nhăn nhó ;
- Khó nuốt, khó nói, khó thở (do co thắt các cơ hầu họng) có thể gây ngạt thở;
- Nói ngọng, nói cứng lưỡi (do cứng lưỡi hoặc to lưỡi), loạn vận ngôn; lưỡi thập thò hoặc rối loạn chức năng lưỡi; mắt bị kéo xếch lên trên, xuống dưới hay về một bên, có khi có hiện tượng đảo lộn nhãn cầu;
Trang 5- Tư thế bất thường của các chi, ngọn chi hoặc
thân mình
Các dấu hiệu trên xuất hiện vài ngày (trong vòng 7 ngày) sau khi bắt đầu, hoặc tăng nhanh liều thuốc
an thần kinh, hoặc khi giảm liều, khi ngừng các thuốc dùng để dự phòng các triệu chứng ngoại
tháp
Các dấu hiệu trên không do các rối loạn tâm thần gây ra như căng trương lực trong tâm thần phân liệt
Trang 62 Chẩn đoán phân biệt
Chẩn đoán loạn trương lực cơ cấp do an thần kinh chỉ đặt ra khi bệnh nhân có dùng an thần kinh trong vài ngày gần đây, tuy nhiên cần nhớ rằng khi bệnh nhân loạn thần thì việc cung cấp thông tin của bệnh nhân cũng không đáng tin cậy, hoặc bệnh nhân có thế được tiêm một loại an thần kinh nào đó trước
đó mà không được giải thích Đôi khi các thuốc
chống nôn như Metoclopramide cũng gây loạn
trương lực cơ cấp, cũng có khi trẻ em vô tình sử
dụng thuốc an thần kinh mà không biết
Trang 72.1 Giả bệnh hoặc chuyển di (phân ly)
Giả bệnh và chuyển di (phân ly) là một chẩn đoán phân biệt quan trọng Loạn trương lực cơ nguyên nhân tâm lý cần được để ý nếu như loạn trương lực cơ đó ở trạng thái tĩnh, và hết đi khi bệnh nhân nghĩ rằng không ai đang quan sát mình, khi những rối loạn vận động khác do nguyên nhân tâm lý
hoặc các triệu chứng thần kinh mà không có
nguyên nhân thực thể cũng tồn tại, hoặc khi bệnh nhân được lợi gì đó (ví dụ về kinh tế) từ việc này
Trang 82.2 Căng trương lực
Căng trương lực tương đồng với loạn trương lực cơ Căng trương lực thường có các triệu chứng như cứng, mất vận động, giữ nguyên dáng, câm, những biểu hiện này không gặp trong loạn trương lực cấp Trá i ngược với loạn trương lực cấp, căng trương lực không liên quan tới việc bắt đầu dùng hay tăng liều an thần kinh
và điều trị bằng các thuốc kháng cholinergic cũng
không nhanh chóng phục hồi giống như loạn trương lực cấp
Trang 92.3 Loạn động muộn
Trên thực tế đặc điểm của loạn trương lực cơ cấp
và loạn động muộn giống nhau, tuy nhiên loạn động muộn chỉ xảy ra sau nhiều tháng nhiều năm
sử dụng an thần kinh, và không đáp ứng tốt với các thuốc kháng cholinergic
2.4 Những nguyên nhân khác
Động kinh thái dương có thể gây đến những hành
vi và động tác dị thường có thể nhầm với loạn trương lực cơ Hạ canxi máu cũng có thể nhầm với loạn trương lực cơ, do vậy nếu điều trị theo hướng loạn trương lực cơ không đỡ nên định lượng canxi máu
Trang 104.Điều trị và chăm sóc
4.1 Nguyên tắc điều trị
• Loạn trương lực cơ cấp cần được khám phát hiện và xử trí kịp thời Bệnh nhân cần được đánh giá mức độ nặng
và có điều trị tương ứng, nên nhớ rằng bệnh nhân có thể khó nuốt.
• Dùng đường tiêm bắp khi bệnh nhân không uống được Biperiden 5mg hoặc hoặc thuốc kháng histamin
(promethazine 50mg) Chỉ sử dụng đường tĩnh mạch nếu loạn trương lực cơ cấp đe dọa tính mạng.
• Sử dụng thuốc tiêm bắp có thể hiệu quả trong 20 phút, nếu không hiệu quả có thể cần đến mũi tiêm thứ hai hoặc ba cách nhau khoảng nửa giờ.
Trang 11• Sau khi loạn trương lực cơ được kiểm soát, các thuốc kháng
cholinergic nên được tiếp tục dùng dự phòng khoảng 4 – 7 ngày rồi giảm dần.
• Xem xét giảm liều an thần kinh hoặc chuyển sang sử dụng an thần kinh ít tác dụng phụ ngoại tháp.
4.2 Điều trị cụ thể
• Sử dụng các thuốc kháng cholinergic đường uống : Trihexyphenidyl 2mg : uống 2- 4v/ 24 giờ
Tiêm bắp các thuốc kháng Cholinergic khi bệnh nhân không uống được: Biperiden 5mg hoặc Procyclidine 5mg; hoặc sử dung Atropin 0,25mg X 2 ống tiêm dưới da
• Thuốc kháng Histamine như Promethazine 50mg, thường có hiệu quả sau 20 phút, có thể tiêm 2- 3 lần cách nhau 30 phút Nếu bệnh nhân có cơn xoay mắt mà không đáp ứng điều trị với kháng
Cholinergic thì có thể dùng Clonazepam 0,5-4 mg Sau khi tình trạng tăng trương lực cơ được hồi phục thì việc điều trị bằng kháng
Cholinergic vẫn nên được tiếp tục dùng cùng với các thuốc ATK từ 4-7 ngày Ngoài ra, có thể tiêm tĩnh mạch những thuốc kháng Cholinergic (Benztropine) hoặc Diphenhydramine HCl khi thực sự cần thiết trong những trường hợp loạn trương lực cơ cấp đe dọa đến tính mạng (ngạt thở).
Trang 12• Ngoài ra, còn thể dùng nhóm thuốc bình thần để điều trị trạng thái loạn trương lực cơ cấp (Diazepam 5 – 10mg tiêm tĩnh mạch khi bệnh nhân ít đáp ứng với các thuốc đặc hiệu nói trên)
• Độc tố vi khuẩn ngộ độc thịt bất hoạt (Botilium toxin )hoặc kích thích từ xuyên sọ có thể có tác dụng
Tiên lượng và biến chứng
• Loạn trương lực cơ cấp nếu được chẩn đoán và xử trí kịp thời sẽ cải thiện nhanh chóng và gần như luôn luôn điều trị được hiệu quả
• Biến chứng ít gặp nhưng nặng nề nhất là gây tắc nghẽn
đường hô hấp trên do co thắt các cơ hầu họng – thanh quản, tiếp đó là các biến chứng khác như trật khớp thái dương hàm, rối loạn vận động nuốt.