1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư duy tối cao của con người được thực hiện thông qua một loạt những người mà tư duy cực kỳ không tối cao

12 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 30,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI BÀI KIỂM TRA GIỮA HỌC PHẦN MÔN TRIẾT HỌC Họ và tên Nguyễn Thị Hồng Liên Mã học viên 20K71010004 ĐỀ BÀI Hãy phân tích luận điểm sau “Tư duy tối cao của con người được thực hiện thông qua một loạt những người mà tư duy cực kỳ không tối cao Nhận thức có quyền đạt đến chân lý tuyệt đối, được thực hiện qua một loạt những sai lầm tương đối” BÀI LÀM “Tư duy tối cao của con người được thực hiện thông qua một loạt những người mà tư duy cực kỳ không tối cao” Cùng với tồn tại, t.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

BÀI KIỂM TRA GIỮA HỌC PHẦN

MÔN TRIẾT HỌC

Họ và tên: Nguyễn Thị Hồng Liên Mã học viên:20K71010004

ĐỀ BÀI Hãy phân tích luận điểm sau: “Tư duy tối cao của con người được thực hiện thông qua một loạt những người mà tư duy cực kỳ không tối cao Nhận thức có quyền đạt đến chân lý tuyệt đối, được thực hiện qua một loạt những sai lầm tương đối”

BÀI LÀM

“Tư duy tối cao của con người được thực hiện thông qua một loạt những người mà tư duy cực kỳ không tối cao”

- Cùng với tồn tại, tư duy là một trong những vấn đề xuyên suốt trong lịch sử triết học của mọi thời đại Là một trong những người sáng lập ra triết học Mác-xít, Ph Ăng-ghen cũng bàn đến rất nhiều về vấn đề tư duy, nhất là về tư duy lý luận

Vấn đề tư duy đã được Ph.  Ăng-ghen bàn đến trong nhiều tác phẩm Trong tác phẩm

“Chống rinh”, ở Phần thứ nhất với tên gọi “Triết học”, khi tranh luận với O Đuy-rinh về vấn đề những nguyên lý, Ph.  Ăng-ghen viết: “Nếu người ta đặt câu hỏi rằng tư duy và ý thức là gì, chúng từ đâu đến, thì người ta thấy rằng chúng là sản vật của bộ óc con người và bản thân con người, là sản vật của giới tự nhiên, một sản vật đã phát triển trong một môi trường nhất định và cùng với môi trường đó Vì vậy, lẽ tự nhiên là những sản vật của bộ óc con người, - quy đến cùng cũng là những sản vật của giới tự nhiên - không mâu thuẫn mà lại còn phù hợp với mối liên hệ còn lại của giới tự nhiên”(1) Từ luận giải nói trên, chúng ta nhận thấy Ph.  Ăng-ghen đã khẳng định ý thức, tư duy của con người chính là chức năng của bộ não Bộ não người là một dạng vật chất có tính tổ chức cao, có khả năng sản sinh ra tư duy, ý thức

-Về luận điểm “tư duy tối cao của con người được thực hiện thông qua một loạt những người mà tư duy cực kỳ không tối cao” có 2 khía cạnh: nếu xét nó trong vai trò là công cu cầm quyền, cai trị của chủ nô, bạo chúa, thì tư duy cấp thấp hơn, là tầng lớp bị trị sẽ phải thực hiện nhưng tư tưởng tàn bạo, độc đoán mang lại lợi ích cho giai tầng cấp cao đó Mặt khác, nếu xét trên vai trò là công cu để dẫn dắt cho những người dân lầm than, đang lạc bước trong bóng tối, chưa xác định được hướng đi của mình, thì tư duy đó trở thành ngọn đuốc soi đường chỉ lối cho cả 1 dân tộc, trở thành tôn chỉ hành động, giúp đất nước thoát khỏi tăm tối

Trang 2

- “Nhận thức có quyền đạt đến chân lý tuyệt đối, được thực hiện qua một loạt những sai lầm tương đối.”

Chân lý, theo quan điểm triết học Mác-Lênin, là tri thức phù hợp với hiện thực khách quan mà con người phản ánh và được thực tiễn kiểm nghiệm Chân lý phải được hiểu như

1 quá trình, bởi lẽ bản thân sự vật có quá trình vận động, biến đổi, phát triển và sự nhận thức về nó cũng phải được vận động, biến đổi, phát triển Cho nên, nhận thức chân lý cũng phải là 1 quá trình

-Bên cạnh tính khách quan, chân lý có tính tương đối và tuyệt đối.Tính tương đối của chân lý thể hiện ở chỗ những tri thức của chân lý đúng nhưng chưa hoàn toàn đầy đủ, nó mới phản ánh đúng 1 mặt, 1 bộ phận nào đó của hiện thực khách quan trong những điều kiện giới hạn xác định Tính tuyệt đối của chân lý thể hiện ở chỗ những tri thức của chân

lý phản ánh đầy đủ, toàn diện hiện thực khách quan ở 1 giai đoạn lịch sử cu thể nhất định Con người càng tiến gần đến chân lý tuyệt đối chứ không thể đạt chân lý tuyệt đối 1 cách trọn vẹn, toàn diện theo nghĩa đen của từ Nhận thức chân lý tuyệt đối phải thông qua 1 loạt các chân lý tương đối.V.I Lê-nin nhấn mạnh: “ theo bản chất của nó, tư duy của con người có thể cung cấp và đang cung cấp cho chúng ta chân lý tuyệt đối mà chân lý này chỉ

là tổng số những chân lý tương đối Mỗi giai đoạn phát triển của khoa học lại đem thêm những hạt mới vào cái tổng số ấy của chân lý tuyệt đối, ”

Cho đến nay, chỉ cần nghiên cứu xem những lời khẳng định cá biệt của triết học hiện thực

đã nói một "giá trị tối cao" và một "quyền tuyệt đối về chân lý" đến mức nào, là đủ; còn bây giờ chúng ta đi đến vấn đề xét xem liệu những sản phẩm của nhận thức của con người nói chung có thể có được giá trị tối cao và quyền tuyệt đối về chân lý hay không, và nếu

có thì đó là những sản phẩm nào Khi tôi nói: "nhận thức của con người", thì tôi nói như vậy không phải với ý định làm mất lòng những dân cư trên các thiên thể khác mà tôi không có hân hạnh được biết mà chỉ vì súc vật cũng nhận thức, mặc dù không có gì là tối cao cả Con chó nhận thức người chủ của nó là thượng đế của nó, mặc dầu người chủ này

có thể là một thằng đểu cáng nhất

-Tư duy của con người có phải là tối cao hay không? Trước khi trả lời là phải hay không phải, trước hết phải nghiên cứu xem tư duy của con người là gì đã Nó có phải là tư duy của một cá nhân không? Không phải Nhưng nó vẫn chỉ tồn tại với tư cách là tư duy cá nhân của hàng tỷ người trong quá khứ, hiện tại và tương lai Song nếu tôi nói rằng tư duy của tất cả những con người ấy, kể cả của những con người tương lai nữa, được tổng hợp lại trong quan niệm của tôi, là tư duy tối cao, rằng nó có khả năng nhận thức được thế giới hiện có trong chừng mực mà nhân loại tồn tại đủ lâu dài và trong chừng mực mà nhận thức ấy không bị giới hạn bởi những những khí quan nhận thức và bởi những đối tượng nhận thức - thì như thế là tôi đã nói một điều khá tầm thường, hơn nữa khá vô bổ Vì kết quả quý báu nhất của điều đó chỉ có thể là làm cho chúng ta hết sức hoài nghi nhận thức hiện nay của chúng ta, bởi lẽ chắc chắn rằng chúng ta hầu như chỉ mới ở bước đầu của

Trang 3

lịch sử nhân loại, và những thế hệ sau này sẽ uốn nắn lại chúng ta, tất phải đông hơn rất nhiều so với những thế hệ mà nhận thấy hiện phải được chúng ta uốn nắn lại - lắm lúc với một thái độ khá khinh miệt

Bản thân ông Đuy-rinh cũng tuyên bố điều sau đây là một tất yếu: ý thức, và do đó cá tư duy và nhận thức, chỉ có thể biểu hiện ở một loạt sinh vật cá biệt thôi Chúng ta chỉ có thể gán quyền tối cao cho tư duy của mỗi cá nhân ấy trong chừng mực chúng ta không thấy

có một quyền lực nào có thể dùng bạo lực áp đặt cho cá nhân ấy - trong trạng thái khoẻ mạnh và tỉnh táo - một tư tưởng nào đấy Còn vế giá trị tối cao của những nhận thức mà tư duy của mỗi cá nhân đạt được thì tất cả chúng ta đều biết rằng không thể nói như thế được, rằng căn cứ vào vào tất cả kinh nghiệm từ trước đến nay của chúng ta thì những nhận thức ấy, không trừ một kinh nghiệm nào, bao giờ cũng chứa đựng những yếu tố có thể cái tiến được nhiều hơn nhiều so với những yếu tố không cần một sự cải tiến như thế, hay những yếu tố đúng đắn

=>Nói một cách khác: tính tối cao của tư duy chỉ được thực hiện trong một loạt người tư duy cực kỳ không tối cao; nhận thức có quyền tuyệt đối nắm chân lý thì được thực hiện trong một loạt những sai lầm tương đối; cả hai đều không thể thực hiện được đầy đủ bằng cách nào khác ngoài cách thông qua một dẫy dài vô tận của nhân loại

Ở đây, chúng ta lại thấy cũng cái mâu thuẫn đã gặp ở trên kia, giữa cái tính chất nhất thiết phải được coi là tuyệt đối của tư duy con người, với tính hiện thực của nó trong những cá nhân có tư duy hạn chế, một mâu thuẫn chỉ có thể giải quyết được trong quá trình tiến lên

vô tận, trong sự nối tiếp trên thực tế là vô hạn - ít nhất là đối với chúng ta - của các thế hệ loài người Theo ý nghĩa đó thì tư duy của con người vừa là tối cao vừa là không tối cao,

và khả năng nhận thức của con người vừa là vô hạn vừa là có hạn Tối cao và vô hạn - xét theo bẩm tính, sứ mệnh, khả năng và muc đích lịch sử cuối cùng; không tối cao và có hạn

- xét theo sự thực hiện cá biệt và thực tế trong mỗi một thời điểm nhất định

-Về những chân lý vĩnh cửu thì cũng vậy Nếu nhân loại đạt tới chỗ chỉ vận dung toàn những chân lý vĩnh cửu, những kết quả của tư duy có giá trị tối cao và có quyền tuyệt đối nắm chân lý, thì điều đó có nghĩa là nhân loại đã tới một điểm mà tính vô tận của thế giới tri thức đã cùng kiệt xét về mặt hiện thực cũng như về mặt tiềm năng và như thế là đã thực hiện được cái điều thần kỳ nổi tiếng là đếm được sự hằng hà vô số

-Chân lý và sai lầm, cũng giống như tất cả những tính quy định của tư duy[1] đang vận động trong những mặt đối lập hoàn toàn, chỉ có giá trị tuyệt đối trong một phạm vi cực kỳ hạn chế; như chúng ta vừa thấy điều đó và như ông Đuy-rinh cũng có thể biết được nếu ông ta làm quen chút ít với những yếu tố sơ đẳng nhất của phép biện chứng, những yếu tố này chính là nói đến tính không đầy đủ của tất cả những đối lập hoàn toàn Một khi chúng

ta đem ứng dung sự đối lập giữa chân lý và sai lầm ra ngoài phạm vi chật hẹp mà chúng ta

đã chỉ ra ở trên, thì sự đối lập ấy trở thành tương đối và do đó không thích hợp với

phương thức biểu hiện khoa học chính xác; nhưng nếu chúng ta có ứng dung sự đối lập ấy

Trang 4

ra ngoài lĩnh vực nói trên như là sự đối lập tuyệt đối thì chúng ta sẽ hoàn toàn thất bại; một cực trong hai cực của mặt đối lập ấy sẽ biến thành cái đối lập với nó, chân lý sẽ trở thành sai lầm và sai lầm sẽ trở thành chân lý Chúng ta hãy lấy định luật nổi tiếng của Boyle làm ví du, theo định luật này thì dưới một nhiệt độ không thay đổi, thể tích của những chất khí tỷ lệ nghịch với áp lực mà những chất khí đó phải chịu Regnault đã phát hiện ra rằng định luật này không đúng đối với một số trường hợp Nếu Regnalult là một nhà triết học hiện thực thì hẳn ông ta đã phải nói rằng: định luật Boyle là có thể biến đổi, vậy nó quyết không phải là một chân lý thật sự, vậy nói chung nó không phải là một chân

lý, vậy nó là một sai lầm Nhưng nói như vậy thì ông sẽ phạm vào một sai lầm còn lớn hơn nhiều so với cái sai lầm nằm trong định luật Boyle; cái hạt chân lý của ông sẽ biến mất trong một đống cát sai lầm; do đó ông ta sẽ biến cái kết quả đúng đắn ban đầu của ông thành một sai lầm mà so với nó thì định luật Boyle, với chút sai lầm vốn có của nó, lại hoá ra là một chân lý Nhưng là một nhà khoa học, Regnault đã không để cho mình rơi vào những trò trẻ con như vậy, ông đã tiếp tuc nghiên cứu và thấy rằng nói chung, định luật Boyle chỉ là gần đúng; đặc biệt nó mất hiệu lực của nó đối với những chất khí do áp lực mà có thể biến thành chất lỏng, hơn nữa là khi áp lực lên tới gần điểm ở đó bắt đầu diễn ra bước chuyển sang trạng thái lỏng Như vậy tức là định luật Boyle chỉ đúng trong những giới hạn nhất định Nhưng trong những giới hạn ấy, nó có tuyệt đối, vĩnh viễn đúng không? Không một nhà vật lý học nào dám khẳng định như vậy cả Họ sẽ nói rằng định luật Boyle có hiệu lực đối với một số khí nào đó, trong những giới hạn nhất định về áp lực

và nhiệt độ: và trong phạm vi những giới hạn đã thu hẹp lại đó, họ vẫn sẽ không loại trừ khả năng thu hẹp hơn nữa hoặc sẽ phải nêu quy luật ấy một cách khác đi do có những sự nghiên cứu về sau này"[1] Đó là tình hình của những chân lý tuyệt đỉnh cuối cùng trong vật lý học chẳng hạn Vì vậy những công trình thật sự khoa học thường thường tránh dùng những từ ngữ có tính chất giáo điều và đạo đức như sai lầm và chân lý; trái lại, chúng ta thấy những từ ngữ này có mặt nhan nhản trong các trước tác như triết học hiện thực trong

đó người ta muốn bắt chúng ta coi những lời lẽ ba hoa rỗng tuếch là kết quả tối cao của tư duy tối cao

-Nếu như trong vấn đề chân lý và sai lầm, chúng ta đã chẳng tiến được chút nào thì trong vấn đề thiện và ác, tình hình lại càng tồi tệ hơn nữa Sự đối lập này chỉ vận động trong lĩnh vực đạo đức, tức là một lĩnh vực thuộc về lịch sử loài người, và chính trong lĩnh vực này, những chân lý tuyệt đỉnh cuối cùng hiếm có hơn hết Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau - Nhưng sẽ có người cãi lại rằng dù sao điều thiện cũng vẫn không phải là điều ác, điều ác không phải là điều thiện; nếu thiện và ác bị nhét vào cùng một bị với nhau thì mị tính đạo đức sẽ không còn nữa, mỗi người sẽ có thể hành động tuỳ ý - Đó cũng là ý kiến của ông Đuy-rinh, nếu chúng ta loại bỏ cái vỏ sấm truyền của nó đi Nhưng không thể giải quyết vấn đề một cách đơn giản như vậy đâu Nếu

Trang 5

điều đó quả thực đơn giản như vậy, thì đã chẳng có một cuộc tranh luận về điều thiện và điều ác, khi mỗi người đều đã biết cái gì là thiện và cái gì là ác rồi Nhưng hiện nay, tình hình như thế nào ? Ngày nay người ta đang truyền bá trong chúng ta thứ đạo đức nào ? Trước hết đó là đạo đức phong kiến thiên chúa giáo, do những thời kỳ tín ngưỡng trước kia để lại; đến lượt nó, đạo đức này về cơ bản lại chia thành đạo đức thiên chúa giáo và đạo đức tin lành, nhưng không phải vì thế mà không chia nhỏ thành nhiều nhánh phu nữa,

từ đạo đức thiên chúa giáo dòng gia tô và đạo đức tin lành chính thống cho đến đạo đức khai sáng phóng túng Bên cạnh những đạo đức đó, có đạo đức tư sản cận đại, rồi bên cạnh đạo đức này, lại có đạo đức vô sản của tương lai, thành thử chỉ riêng trong các nước tiên tiến ở Châu âu, quá khứ, hiện tại và tương lai đã đề xuất ba nhóm lớn những học thuyết về đạo đức, đều có giá trị song song với nhau và cùng tồn tại bên cạnh nhau Vậy thì đạo đức nào là chân chính? Không có đạo đức nào là chân chính cả, nếu nói theo ý nghĩa tuyệt đối cuối cùng; nhưng đạo đức nào hiện nay đang tiêu biểu cho sự lật đổ hiện tại, tiêu biểu cho tương lai, tức là đạo đức vô sản, thì đạo đức đó có một số lượng nhiều nhất những nhân tố hứa hẹn một sự tồn tại lâu dài

PHÂN CÔNG LÀM CÂU HỎI SEMINAR CHUYÊN ĐỀ 2

4 Nguyễn Thị Hồng Liên: Hãy phân tích sự đối lập giữa triết học của Đêmôcrít với triết học của Platon về vấn đề bản thể luận?

Tư tưởng triết học ra đời rất sớm ở Hy Lạp cổ đại, nhưng với tư cách là một hệ thống (một nền) triết học hoàn chỉnh, nó xuất hiện khoảng thế kỷ VII đến đầu thế

kỷ VI tr.CN Do sự phát triển của kinh tế, nên sự phân công lao động diễn ra khá sâu sắc Điều này đã góp phần hình thành tầng lớp trí thức Đây là yếu tố quan trọng thúc nđẩy sự phát triển của khoa học nói chung và triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng Chính cuộc đấu tranh giữa chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc đã là những điều kiện chính trị quan trọng cho cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng cũng như sự ra đời và phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại nói chung Cuộc đấu tranh giữa hai đường lối triết học duy vật và duy tâm của Đêmôcrít với đường lối triết học duy tâm thần bí của Platôn là cuộc đấu tranh điển hình trong lịch sử triết học, thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: bản thể luận, nhận thức luận, lôgic học, đạo đức học và chính trị

-xã hội.

Đêmôcrít (460 – 370 tr.CN) sinh trưởng trong một gia đình chủ nô dân chủ ở Hy Lạp Ông am hiểu toán học, vật lý học, sinh vật học cũng như mỹ học, ngôn ngữ học và âm nhạc Ông được Mác và Ăngghen coi là bô óc bách khoa đầu tiên của người Hy Lạp cổ đại.

Đêmôcrít là đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy vật cổ đại Thuyết nguyên tử là cống hiến nổi bật của ông đối với chủ nghĩa duy vật Ngoài ra ông còn có nhiều đóng góp quý giá về lý luận nhận thức Triết học của ông thể hiện tinh thần của giới chủ nô dân chủ có tư tưởng cấp tiến trong triết học Hy Lạp cổ đại Hầu hết các tác phẩm của ông đã bị tiêu hủy, các tư tưởng của ông đều được biết thông qua các nhà

Trang 6

tư tưởng khác, chẳng hạn một số tư tưởng trong Luận văn “Về bản chất con người”,

“Bàn về lôgic học”

Platôn (427 – 347 tr.CN), xuất thân trong một gia đình chủ nô quý tộc ở Aten, là một trong những nhà triết học, nhà tư tưởng kiệt xuất nhất thời cổ đại, người mà theo Hêghen có ảnh hưởng to lớn đến tiến trình phát triển tư tưởng, tới văn hóa tinh thần của nhân loại Ông là học trò của Xôcrát (470-399 tr.CN).

Ông để lại nhiều tác phẩm như: 34 thiên đối thoại và nhiều bức thư triết học (Teitet, Timei, Parmenit) Đặc biệt tác phẩm “Nước cộng hòa” có vị trí đặc biệt quan trọng trong triết học của ông.

1 Tư tưởng triết học cơ bản

1.1 Về bản thể luận: Tính quyết liệt và triệt để của cuộc đấu tranh này là cơ sở cho những vấn đề khác.

Đêmôcrít (460 – 370 tr.CN) kiên định lập trường duy vật vô thần.

- Ông cho rằng, cội nguồn của thế giới là nguyên tử , là vật chất Ông đã phát triển thuyết nguyên tử của Lơxíp – người thầy của ông – lên trình độ mới.

+ Nguyên tử là hạt vật chất cực nhỏ, không phân chia được, không nhìn thấy được, không màu, không mùi, không vị, không âm thanh và tồn tại vĩnh viễn.

+ Các nguyên tử đồng nhất về chất, chỉ khác nhau về lượng, hình thức (cấu tạo), về

tư thế (xoay trở) và về trật tự (kế tiếp).

+ Sự hình thành, tan rã và sự khác nhau của các sự vật, hiện tượng là do sự kết hợp hay tách ra của các nguyên tử theo những cách thức khác nhau và phu thuộc vào sự khác nhau của các nguyên tử

- Trong quan niệm về vũ tru của ông cũng không có chỗ cho thần thánh Trong đó chỉ có những nguyên tử vận động theo những cơn lốc xoáy Các nguyên tử cùng loại cố kết với nhau làm thành những vòng lớp nguyên tử, càng nặng càng ở gần tâm, càng nhẹ càng ở xa tâm Đất, nước, lửa, không khí là những vòng ở trung tâm cơn lốc Từ đó hình thành các hành tinh và trái đất.

Nhìn chung ông có quan điểm duy vật khi giải quyết vấn đề cơ bản của triết học Đối lập với quan điểm của Đêmôcrít, Platôn (427 – 347 tr.CN):

- Về mặt bản thể luận theo Platôn vũ tru này có hai thế giới là thế giới ý niệm và thế giới của các sự vật cảm tính (hay cảm biết được bằng giác quan).

+ Đứng trên lập trường duy tâm thần bí, Ông khẳng định rằng, bản nguyên của thế giới là “thế giới ý niệm”, mà ông gọi là “những ý tưởng có trước”, một thế giới trừu tượng, bất biến, tĩnh tại, đông lạnh, không có sự sống Chỉ có chúng mới tồn tại chân thực.

+ Linh hồn là do thánh tạo ra, có động cơ (“thần tình ái”) và muc đích rõ ràng Động cơ và muc đích đã khuyến khích các ý niệm vận động rồi in dấu ấn vào

“không tồn tại”, “hư vô” – cái mà ông gọi là “vật chất” – theo những “tương quan toán học”, những “hòa điệu” khác nhau mà sinh ra giới tự nhiên – “thế giới các sự vật cảm tính” muôn hình, muôn vẻ, xấu, đẹp khác nhau

Ví du: từ ý niệm “nhà” sinh ra những cái nhà cu thể Từ ý niệm “cây” sinh ra những cây cu thể

Trang 7

+ Theo V.I.Lênin: “thế giới ý niệm” chỉ là những khái niệm, phạm trù; là những cái chung, được rút ra từ những sự vật riêng lẻ đã được Platôn tuyệt đối hóa đi, đem đối lập, tách rời khỏi các sự vật cảm tính.

- Thế giới thứ hai, theo Platôn, thế giới các sự vật cảm tính chỉ là sản phẩm của “thế giới ý niệm”, chỉ là “cái bóng” của chúng nên nó là “tồn tại không chân thực” Vì mọi cái trong nó luôn biến đổi, có sinh ra, có mất đi, nó chỉ là cái bóng của thế giới

ý niệm, do thế giới ý niệm quyết định Ý niệm của Platôn như là khuôn mẫu để thế giới các sự vật cảm tính mô phỏng theo.

Như vậy, ông đã có tư tưởng duy tâm khách quan về thế giới, cả hai thế giới này theo ông đều là sản phẩm của thần.

1.2 Trong quan niệm về sự sống và con người:

- Đêmôcrít cho rằng: Sự sống và con người, theo ông, là kết quả tất yếu của tự nhiên phát triển từ thấp đến cao: từ sự vật tới sinh vật, từ sinh vật tới con người Con người có linh hồn, còn sự vật không có linh hồn Linh hồn của con người được cấu tạo từ những nguyên tử hình cầu, giống như nguyên tử lửa vận động với tốc độ lớn Linh hồn mất đi cùng với sự chết của con người Như vậy ông đã bác bỏ thuyết linh hồn bất tử của tôn giáo, chủ nghĩa duy tâm khách quan của Platôn.

- Platôn (427 – 347 tr.CN) cho rằng: Bàn về sự sống của con người, Platôn đưa ra thuyết linh hồn bất tử Cơ thể con người do nước, lửa, không khí và đất tạo ra, còn linh hồn do thần thánh ban nên bất tử Nô lệ, theo ông không phải là con người, chỉ

là công cu biết nói, không có linh hồn

Tuy trong học thuyết của Platôn chứa đựng ít nhiều yếu tố biện chứng chủ quan, nhưng toàn bộ học thuyết của ông vẫn là hệ thống duy tâm khách quan, thần bí, phản khoa học, phản tiến bộ.

1.3 Quan niệm về vận động:

- Tuy Đêmôcrít chưa tìm ra nguyên nhân của sự vận động và ông còn tách không gian (“không tồn tại”) ra khỏi sự vật, nhưng ông đã cố gắng giải thích sự vận động gắn với vật chất, vận động có động cơ tự thân của nguyên tử, còn không gian là điều kiện của vận động Kết luận của ông cho rằng thế giới là sự thống nhất giữa tồn tại của nguyên tử với không tồn tại (không gian) là một kết luận duy vật.

Dựa trên sự vận động của nguyên tử, Đêmôcrít đã khái quát được quy luật nhân quả Ông nói rằng: “tìm được cách giải thích hiện tượng theo nguyên nhân của nó còn thích hơn chiếm được ngôi vua Ba tư” Nhược điểm của ông là phủ nhận tính ngẫu nhiên Theo ông mọi cái đều là tất yếu, đều được quyết định sẵn theo nguyên nhân của nó Đó là bản chất quyết định luận mang màu sắc “định mệnh” của ông.

- Platôn đi tìm nguyên nhân của sự vận động ở lực lượng tinh thần, ở “thần tình ái”,

ở linh hồn: linh hồn thế giới làm cho vũ tru vận động, còn linh hồn riêng biệt làm cho sự vật vận động

Platôn đưa ra thuyết muc đích luận, cho rằng mọi sự vật được tạo ra phu thuộc vào muc đích của thần thánh.

2 Về nhận thức luận: Nếu Platôn vẫn đứng trên quan điểm duy tâm thì Đêmôcrít lại phát triển nhận thức luận duy vật.

Trang 8

2.1 Đối tượng, muc tiêu của nhận thức

- Đêmôcrít: Đối tượng nhận thức là giới tự nhiên Muc tiêu của nhận thức là đạt tới bản chất của sự vật.

- Platôn: Đối tượng, muc tiêu của nhận thức là “thế giới ý niệm”

2.2 Mối quan hệ giữa hai giai đoạn của quá trình nhận thức (cảm tính và lý tính)

- Theo Đêmôcrít, trình độ nhận thức cảm tính (mờ tối) tuy chỉ theo “dư luận” nhưng là cơ sở của trình độ nhận thức lý tính (nhận thức chân thực) qua các

“Iđôlơ” “Iđôlơ” là “hình tượng” của sự vật được cảm giác Nó cung cấp tài liệu để

lý tính nhận thức chân lý

- Platôn lại tuyệt đối hóa nhận thức lý tính Ông cho rằng, nhận thức cảm tính chỉ là những “tưởng tượng”, những “kiến giải” về “cái bóng của ý niệm” nên nó không chân thực Chỉ có lý tính ở trình động “trực giác trí tuệ” mới thấy được “ý niệm”,

đó mới là chân thực

“Trực giác trí tuệ” chính là quá trình hồi tưởng của linh hồn Linh hồn nhớ lại những gì nó đã thấy rõ khi tồn tại ở “thế giới ý niệm”, cái mà nó đã quên đi khi gia nhập vào thể xác con người

Để hồi tưởng tốt, phải đoạn tuyệt với thế giới cảm tính bằng cách nhắm mắt, bịt tai

và bằng phương pháp biện chứng (đialéctíc) Chỉ có những người có linh hồn ưu tú mới thực hiện được

Đialéctíc là phương pháp đàm thoại trực tiếp (đặt ra và trả lời các câu hỏi) nhằm phát hiện ra mâu thuẫn của đối phương trên cơ sở đối chiếu những khái niệm đối lập nhau Phương pháp đàm thoại của Platôn tuy có một số yếu tố biện chứng, nhưng nó là phương pháp biện chứng duy tâm, nó tách rời khỏi sự vật, chỉ hoàn toàn sử dung khái niệm với tư duy tư biện.

3 Về lôgic học: Hai ông đều có công phát triển lôgic học, nhưng trong đó có sự đối lập về quan điểm rất rõ.

- Đêmôcrít: Coi lôgic là công cu của nhận thức, nhấn mạnh phương pháp quy nạp nhằm vạch ra bản chất của giới tự nhiên.

- Platôn: Xem xét lôgic xen kẽ với phép biện chứng duy tâm nhằm đạt tới “ý niệm”, coi trọng phương pháp diễn dịch.

4 Về chính trị - xã hội

- Đêmôcrít là nhà triết học bảo vệ chế độ chiếm hữu nô lệ, nhưng đứng trên lập trường của chủ nô dân chủ, có tiến bộ, chẳng hạn, ông đòi hỏi phải có luật thành văn để quản lý xã hội Ông kêu gọi các chủ nô phải đối xử với các nô lệ như các bộ phận trên cơ thể con người.

Ông cũng đã phỏng đoán được nhu cầu là động lực phát triển của xã hội, tuy nhiên, luận điểm này chưa được ông phát triển đầy đủ (chỉ là phỏng đoán).

Ông là người vô thần, cho rằng thần thánh là do nỗi sợ hãi của con người tạo ra Ông cho rằng, trong xã hội, con người phải biết sống vừa đủ, đúng mực, phải biết

tu dưỡng để tâm linh trở nên thuần khiết, hành động được như vậy là có đạo đức Ông đề cao tự do, cho rằng nghèo mà có tự do còn hơn giàu có mà không có tự do.

Trang 9

Tóm lại, những tư tưởng của ông về chính trị - xã hội là tiến bộ, duy vật so với các nhà tư tưởng đương thời Nhìn chung triết học của ông đã góp phần không nhỏ vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo.

- Khác với Đêmôcrít, Platôn, đứng trên lập trường của phái chủ nô quý tộc bảo vệ chế độ nô lệ bằng mọi giá.

Chẳng hạn, ông đề xuất nhiều ý tưởng như: Thông qua một bộ luật cho nô lệ ăn no hơn và bắt phải lao động nhiều hơn Chủ nô nào thấy nô lệ ốm, chữa cho nô lệ khỏi

mà đem bán thì bị phạt gấp nhiều lần.

Platôn kiên quyết chống lại nền dân chủ Aten và chống lại các nhà triết học duy vật

vô thần.

Do thất bại trong hiện thực chính trị, ông đã đề ra biện pháp là xây dựng một nhà nước mang tính không tưởng, nhà nước mà ở đó có nhiều tính chất mang tính quân phiệt Chẳng hạn như: ông đòi xóa bỏ sở hữu gia đình; trẻ em khi sinh ra phải đưa vào các trường công để từ đó lựa chọn ra các nhà triết học, thông thái, các vệ binh, những con người phuc thuộc vào nhà nước, phải phuc vu nhà nước.

Trong nhà nước không tưởng này theo ông có ba lớp người: 1) Các nhà triết học, nhà thông thái làm nhiệm vu quản lý, điều hành xã hội; 2) Các vệ binh làm công tác chiến tranh; 3) Những người lao động chân tay Nô lệ không được coi là người nên không thuộc lớp người nào.

Như vậy, quan điểm về chính trị - xã hội của Platôn vừa mang tính duy tâm, vừa bảo thủ và phản tiến bộ.

5 Về đạo đức học

- Đêmôcrít: Hướng đạo đức vào đời sống hiện thực Hạt nhân của nó là lương tâm trong sáng, tinh thần lành mạnh của từng cá nhân Tư tưởng về đời sống kinh tế

-xã hội là cơ sở của đời sống đạo đức Đây là những tư tưởng có giá trị của ông Một người có đạo đức, theo ông, là một người sống đúng mực, không gây hại cho người khác.

- Platôn: hướng đạo đức vào đời sống của thế giới ý niệm, trong sự tha hóa của nó thành thiện và ác, thành sự thông thái và sự dũng cảm Ông cho rằng, chỉ có tầng lớp các nhà triết học và quý tộc mới đạt đạo đức thanh cao Còn đạo đức của thường dân chỉ là sự kìm chế duc vọng thấp hèn Nô lệ không có đạo đức Như vậy, đạo đức học của Platôn là thứ đạo đức duy tâm, tôn giáo, phân biệt đẳng cấp, hoàn toàn đối lập với đạo đức tiến bộ của Đêmôcrít.

Cuộc đấu tranh giữa đường lối triết học duy vật vô thần của Đêmôcít với đường lối duy tâm khách quan của Platôn là sự phản ánh cuộc đấu tranh kiên quyết giữa tầng lớp chủ nô dân chủ tiến bộ mà Đêmôcrít là người đại diện với tầng lớp chủ nô quý tộc, phản dân chủ mà Platôn là người đại diện Đêmôcít ca ngợi chế độ dân chủ chủ

nô, bảo vệ tự do, tình thân ái và lợi ích của công dân Còn Platôn lại bảo vệ chế độ quân chủ chủ nô, bảo vệ lợi ích của tầng lớp quý tộc, chống lại dân chủ.

Trang 10

4 Nguyễn Thị Hồng Liên: Hãy lý giải luận điểm “Nền tảng lý luận ở Việt Nam hiện nay là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”?.

Trong những thập niên đầu của thế kỷ XX, hành trình bôn ba tìm đường cứu nước đã đưa Nguyễn

Ái Quốc - Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với con đường cứu nước đúng đắn

khi được đọc tác phẩm “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I Lênin và Người khẳng định: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy, đau khổ! Đây là cái

cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”; “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”; Cách mệnh “trước hết phải

có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị

áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”; “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt” và “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”; “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng, muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hi sinh, phải thống nhất Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin” và Người đã nỗ lực hoạt động, xúc tiến, chuẩn bị về mọi mặt cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam mùa xuân năm 1930

Thực tiễn cách mạng nước ta từ khi có Đảng lãnh đạo đã cho thấy, trên nền tảng những nguyên lý

lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dung sáng tạo, phù hợp điều kiện của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương, đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn để lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc cách mạng mùa Thu năm 1945, sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội

Trước Đại hội VII của Đảng, văn kiện các kỳ Đại hội và Điều lệ Đảng đều khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động” Song từ quá trình nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của tiến trình cách mạng Việt Nam

Tư tưởng của Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề

cơ bản của cách mạng Việt Nam, không chỉ giải quyết vấn đề thuộc về tư duy lý luận mà cao hơn,

đó là tư duy hành động, nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn cách mạng Việt Nam đòi hỏi Tư tưởng của Người được hình thành, phát triển trên cơ sở kế thừa, chọn lọc những tư tưởng, giá trị

Ngày đăng: 04/06/2022, 12:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w