1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài thuyết trình về hợp đồng vì lợi ích của người thứ 3

11 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 25,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài thuyết trình về hợp đồng vì lợi ích của người thứ 3 I) Khái quát chung về hợp đồng vì lợi ích của người thứ 3 1 Khái niệm Khái niệm hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba được ghi nhận tại Khoản 5 Điều 402 BLDS 2015 “Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ đó” Từ điều khoản trên, ta nhận thấy hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là một loại thỏa thuận theo đó một bên.

Trang 1

Bài thuyết trình về hợp đồng vì lợi ích của người thứ 3

I) Khái quát chung về hợp đồng vì lợi ích của người thứ 3

1 Khái niệm

Khái niệm hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba được ghi nhận tại Khoản 5 Điều 402 BLDS 2015: “Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ đó”.

Từ điều khoản trên, ta nhận thấy hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là một loại thỏa thuận theo đó một bên yêu cầu bên kia thực hiện một nghĩa vụ không phải vì lợi ích của mình mà vì lợi ích của người thứ ba Đây là một loại hợp đồng khá phức tạp

vì nó có liên quan đến ba chủ thể khác nhau: người có quyền, người có nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi

Ví dụ: • các hợp đồng giảng dạy, chăm sóc sức khỏe tại nhà… -> Người thứ ba chỉ là

chủ thể được hưởng lợi, không phải là chủ thể của HĐ

Bên cạnh đó, còn có loại hợp đồng không chỉ đem lại lợi ích cho người thứ ba mà còn song song đem lại lợi ích cho người giao kết:

• Hợp đồng bảo hiểm, người mua bảo hiểm để bảo hiểm cho chính mình nhưng cũng

có thể cho người khác cùng thụ hưởng.

1 Hiệu lực hợp đồng

Khoản 1 Điều 401 của BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc luật liên quan có quy định khác”

Vậy có thể nói từ thời điểm ngay sau khi các bên “đặt bút ký” thì hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba đã có hiệu lực

1 Đặc điểm pháp lý

- Thứ nhất- Tính thỏa thuận: sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên trong hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba không chỉ làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ cho

chính các bên trong hợp đồng mà còn làm cơ sở làm phát sinh quyền và lợi ích cho người thứ ba.

- Thứ hai- Tính trói buộc: người thứ ba hưởng lợi ích từ hợp đồng trong phạm vi các điều kiện do hợp đồng quy định Theo đó, họ có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực

Trang 2

hiện nghĩa vụ, có quyền từ chối hưởng lợi ích và cho phép các bên trong hợp đồng sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng

- Thứ ba- tính xác định của người thứ 3: người thứ ba phải là một người được xác định rõ trong hợp đồng Đây cũng là một trong những dấu hiệu người thứ ba được

hưởng lợi, Họ không nhất thiết phải đang tồn tại vào thời điểm hợp đồng được xác lập mà chỉ cần được xác định về mặt đặc tính hay những thông tin nhất định Có như vậy, bên thực hiện nghĩa vụ mới có thể thực hiện đúng những cam kết trong hợp đồng, đảm bảo quyền lợi cho người thứ ba

- Thứ tư - tính tương đối: Người thứ ba trong trường hợp này không phải là chủ thể của hợp đồng nhưng vẫn bị ràng buộc bởi hiệu lực của hợp đồng; việc người thứ ba

từ chối hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ có thể là lý do khiến hợp đồng bị hủy bỏ.Hiệu lực tương đối còn làm phát sinh một số quyền của người thứ ba mà chỉ trong hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba họ mới nắm giữ: quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ, quyền cho phép các bên sửa đổi nội dung của hợp đồng Các quyền này khi được thực hiện bởi người thứ ba có thể làm thay đổi đến nội dung, thậm chí chấm dứt hiệu lực của hợp đồng

- Thứ 5- Hợp đồng song vụ hoặc hợp đồng không có đền bù: Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự, trong đó xác định người thứ ba được hưởng lợi ích phát sinh từ việc thực hiệ hợp đồng Như vậy ở đây xuất hiện hai quan hệ: quan hệ giữa các bên trong hợp đồng với nhau vì hợp đồng mặc dù vì lợi ích của người thứ ba nhưng về bản chất vẫn là hợp đồng song vụ trong đó quyền của người này ứng với nghĩa vụ của người kia Hai là quan hệ giữa các bên trong trong hợp đồng với người thứ ba, đây là một quan hệ không có đền bù vì người thứ ba được hưởng lợi mà không cần phải có vật đánh đổi hoặc nói cách khác là mối quan hệ đơn vụ giữa một bên có quyền ( người thứ ba ) và một bên có nghĩa vụ ( các bên trong hợp đồng ) II) Các vấn đề pháp lý liên quan

1 Nguồn luật

Chế định hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

- Khoản 5 điều 402 BLDS 2015

“Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ đó.”

Trang 3

- Điều 415 BLDS 2015

Thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba

“Khi thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba thì người thứ ba có quyền trực tiếp yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình; nếu các bên trong hợp đồng có tranh chấp về việc thực hiện hợp đồng thì người thứ ba không có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cho đến khi tranh chấp được giải quyết.

Bên có quyền cũng có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba.”

- Điều 416 BLDS 2015

Quyền từ chối của người thứ ba

“1 Trường hợp người thứ ba từ chối lợi ích của mình trước khi bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ thì bên có nghĩa vụ không phải thực hiện nghĩa vụ, nhưng phải thông báo cho bên có quyền và hợp đồng được coi là bị hủy bỏ, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

2 Trường hợp người thứ ba từ chối lợi ích của mình sau khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ được xem là đã hoàn thành và bên có quyền vẫn phải thực hiện cam kết đối với bên có nghĩa vụ Trong trường hợp này, lợi ích phát sinh từ hợp đồng thuộc về bên mà nếu hợp đồng không vì lợi ích của người thứ ba thì họ là người thụ hưởng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

- Điều 417 BLDS 2015

Không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba

“Khi người thứ ba đã đồng ý hưởng lợi ích thì dù hợp đồng chưa được thực hiện, các bên giao kết hợp đồng cũng không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng, trừ trường hợp được người thứ ba đồng ý.”

1 Chủ thể của hợp đồng

Theo định nghĩa về hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba tại khoản 5 Điều 402 BLDS

2015 “Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ đó”

Trang 4

Trong hợp đồng này, hai chủ thể ký kết vẫn là bên có quyền và bên có nghĩa vụ, bên thứ ba không phải là chủ thể trong giao dịch ký kết hợp đồng vì lợi ích của người thứ

ba Người thứ ba chỉ là một chủ thể được hưởng lợi ích từ thỏa thuận của các chủ thể trong giao dịch

1 Người thứ 3 hưởng lợi ích

Theo khoản 5 Điều 402 BLDS 2015 “hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ đó”, các chủ thể ký kết hợp đồng có nghĩa vụ thực hiện các thỏa thuận trong hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, người thứ ba được hưởng lợi ích từ thỏa thuận của các chủ thể trong giao dịch Việc xác lập và thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba không chỉ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết mà còn gắn liền với quyền và lợi ích của người thứ ba nên người thứ ba cũng có những quyền và nghĩa vụ nhất định ở một phạm vi nào đó liên quan tới hợp đồng

Các quyền và lợi ích của người thứ ba có thể xuất phát từ thỏa thuận của các bên giao kết Trên cơ sở bày tỏ và thống nhất ý chí của các bên giao kết, người thứ ba sẽ được hưởng các lợi ích về vật chất và tinh thần nào đó tùy vào từng lĩnh vực cụ thể dựa theo những điều khoản được thỏa thuận trong hợp đồng (quy định cả về điều kiện, số lượng, chất lượng, phương thức, của đối tượng hợp đồng mà chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện) Người thứ ba cũng có những quyền do pháp luật quy định như những quyền nhất định đối với hợp đồng và đối với các bên giao kết hợp đồng, bao gồm: quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đối với mình; quyền không cho phép sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng; quyền từ chối hưởng lợi ích từ hợp đồng

Bên cạnh các quyền và lợi ích được hưởng, người thứ ba cũng có thể có một số nghĩa vụ nhất định và thông thường xuất phát từ việc thụ hưởng lợi ích của mình như:

ký xác nhận đã nhận hàng, nhận hàng đúng thời gian và địa điểm,

1 Điều kiện hợp đồng

- Bên thứ ba đang tồn tại vào thời điểm giao kết, xác lập hợp đồng hoặc tại thời điểm

họ được hưởng lợi ích từ hợp đồng và có năng lực pháp luật để thụ hưởng lợi ích được xác định trong hợp đồng

Người thứ ba trong hợp đồng không nhất thiết phải có năng lực hành vi dân sự, có thể

là người đã thành niên và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự hoặc người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hay thậm chí là người bị mất năng lực hành vi dân sự (khi đó, các vấn đề phát sinh từ hợp đồng có liên quan tới lợi ích của

họ được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật)

- Người thứ ba phải được xác định trong hợp đồng vào thời điểm hợp đồng được thành lập

Trang 5

Có thể xác định danh tính cụ thể, chi tiết của chính bản thân người thứ ba hưởng lợi trong mọi trường hợp, cũng có thể được xác định thông qua các tính chất, đặc điểm, thông tin nhất định vào thời điểm giao kết hoặc thời điểm họ được thụ hưởng lợi ích Bên có nghĩa vụ căn cứ vào đó mới có thể thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng tới đúng người đã được thỏa thuận

- Các lợi ích mà người thứ ba được hưởng phải được xác định rõ vào thời điểm hợp đồng được xác lập

Tùy vào từng lĩnh vực và bản chất của hợp đồng mà đó là những lợi ích về vật chất hoặc tinh thần nhất định

- Phải tồn tại mối quan hệ giữa các chủ thể giao kết hợp đồng

Bên có quyền và bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ với người thứ ba, họ có sự ràng buộc với nhau bởi chính những điều khoản đã thỏa thuận

+ Trường hợp người thứ ba là người hưởng thụ lợi ích từ hợp đồng, thì bên có quyền có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ với người thứ ba và chịu ràng buộc với nghĩa vụ thanh toán cho người có nghĩa vụ Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ với người thứ ba và có thể yêu cầu bên có quyền thanh toán cho mình các khoản chi phí

+ Còn trường hợp bên có quyền đồng thời hưởng lợi ích cùng người thứ ba, thì giữa các chủ thể của hợp đồng tồn tại quan hệ như giữa trái chủ và thụ trái Khi đó bên có nghĩa vụ phải đồng thời thực hiện nghĩa vụ với người thứ ba và bên có quyền, cũng

có quyền yêu cầu bên có quyền thanh toán Bên có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ đối với mình và đối với người thứ ba đồng thời có nghĩa vụ thanh toán cho bên có nghĩa vụ

- Hợp đồng không thể bị hủy bỏ bởi các chủ thể của hợp đồng

Lợi ích của người thứ ba phát sinh từ thỏa thuận của các chủ thể hợp đồng, chứ không phụ thuộc vào sự chấp thuận của người thứ ba Tuy nhiên, nếu người thứ ba đã chấp thuận (công khai hoặc mặc nhiên), thì hợp đồng không thể bị hủy bỏ Ngay cả trong những trường hợp đặc biệt, hợp đồng vẫn được đảm bảo nhờ sự đồng ý của người thứ ba:

+ Trường hợp chủ thể giao kết hợp đồng chết trước khi người thứ ba chấp thuận hưởng lợi, thì hợp đồng vẫn có hiệu lực và những người thừa kế của các chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản mà họ nhận được (đối với những nghĩa vụ không gắn với nhân thân)

+ Trường hợp người thứ ba chết trước khi họ đồng ý hưởng lợi, thì người thừa kế của họ có thể chấp thuận hưởng lợi nếu hợp đồng chưa bị hủy bỏ

Trang 6

III) Các quy định pháp luật về hợp đồng vì lợi ích của người thứ 3

1 Thực hiện hợp đồng

Điều 415 trong BLDS2015 quy định: “Khi thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba thì người thứ ba có quyền trực tiếp yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình; nếu các bên trong hợp đồng có tranh chấp về việc thực hiện hợp đồng thì người thứ ba không có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cho đến khi tranh chấp được giải quyết.

Bên có quyền cũng có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba.”

- Cả bên có quyền và người thứ ba đều có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ để bảo đảm quyền lợi cho người thứ ba Như vậy, đối với yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thì ngoài bên có quyền, người thứ ba tuy không đứng ra giao kết hợp đồng nhưng vẫn có quyền với bên có nghĩa vụ, có thể buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ với mình

- Hợp đồng dân sự vì lợi ích của người thứ ba chỉ là sự thỏa thuận giữa bên có quyền với bên có nghĩa vụ chứ không có sự thỏa thuận của bên thứ ba nên khi có tranh chấp

về việc thực hiện hợp đồng (ví dụ về thời gian, địa điểm, giá cả, phương thức thực hiện hợp đồng ) thì chỉ các bên tham gia ký kết hợp đồng mới có quyền đàm phán, giải quyết các vấn đề xoay quanh hợp đồng, người thứ ba không có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cho đến khi tranh chấp được giải quyết

- Nếu bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ dẫn đến người thứ ba bị thiệt hại hoặc không đạt được lợi ích thì chỉ bên có quyền mới có quyền yêu cầu bên vi phạm nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm dân sự

1 Sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng

Pháp luật quy định khá rõ nét về việc sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba Đối với hợp đồng dân sự nói chung, pháp luật chỉ quy định các vấn đề có liên quan tới chủ thể giao kết trong việc sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng, quy định cụ thể tại các Điều 421, Điều 423 BLDS 2015 Theo đó, các bên hoàn toàn có thể thỏa thuận với nhau về việc sửa đổi hay hủy bỏ hợp đồng, ngoài các căn cứ khác mà pháp luật đặt

ra Tuy nhiên, đối với hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, việc sửa đổi hay hủy bỏ được quy định chặt chẽ hơn Trên cơ sở nguyên tắc khi hợp đồng dân sự đã phát sinh hiệu lực, các bên ký kết hợp đồng phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng như cam kết, trừ những trường hợp có những căn cứ để sửa đổi, chấm dứt hoặc hủy bỏ hợp đồng dân sự, Điều 417 BLDS 2015 khẳng định không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, cụ thể: “Khi người thứ ba đã đồng ý hưởng lợi ích thì dù hợp đồng chưa thực hiện, các bên giao kết hợp đồng cũng không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng, trừ trường hợp người thứ ba đồng ý” Lúc này, việc sửa đổi

Trang 7

hay hủy bỏ hợp đồng không chỉ còn xoay quanh ý chí hai bên chủ thể của hợp đồng nữa mà còn thể hiện sự tôn trọng đối với người thứ ba hưởng lợi ích từ hợp đồng Trong trường hợp người thứ ba đã chấp nhận lợi ích phát sinh từ hợp đồng, tức là đã biết về sự tồn tại của hợp đồng cũng như thể hiện mong muốn đón nhận lợi ích từ hợp đồng thì các bên giao kết hợp đồng không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng, ngay cả khi hợp đồng đã được thực hiện hay chưa

=> Quy định này đã bảo vệ lợi ích cho người thứ ba, mặc dù họ không phải là chủ thể của hợp đồng cũng như không phải thực hiện bất cứ nghĩa vụ nào, nhưng khi họ đã bày tỏ ý chí về hợp đồng này, các bên chủ thể của hợp đồng không thể xâm phạm tới lợi ích của họ

Vấn đề khác đặt ra là khi nào các bên giao kết hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba

có thể sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng?

Xuất phát từ việc các bên tự nguyện giao kết hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, pháp luật quy định khi các bên chỉ có thể sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng trong hai trường hợp, hoặc trước khi người thứ ba chấp nhận hợp đồng hoặc sau khi người thứ

ba chấp nhận hợp đồng nhưng đồng ý về việc sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng

Vấn đề pháp lý khác đặt ra đó là, trong trường hợp hợp đồng vì lợi ích của người thứ

ba bị hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện thì hậu quả pháp lý của nó là gì? Đối với việc hủy bỏ hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, điều này chỉ được coi là hợp pháp khi người thứ ba biết và đồng ý về sự hủy bỏ này Khi đó, hợp đồng được coi như chưa được giao kết, tức là nó chưa có hiệu lực kể từ thời điểm xác lập và các bên hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận

Điều 423 BLDS 2015 cho phép một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại trong các trường hợp: Bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy

bỏ mà các bên đã thỏa thuận; Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng hoặc trường hợp khác do luật quy định Riêng đối với hợp đồng vì lợi ích của người thứ

ba, chỉ có thể hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp người thứ ba đồng ý (Điều 417 BLDS 2015) Cũng như vậy, nếu như quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của một bên giao kết (hợp đồng bị chấm dứt do ý chí của một bên) đối với hợp đồng dân sự nói chung được pháp luật tôn trọng và thừa nhận, thể hiện ở Điều 428 BLDS 2015 thì cũng không được pháp luật thừa nhận khi người thứ ba đã đồng ý hưởng lợi và không chấp nhận trường hợp chấm dứt hợp đồng này Trong trường hợp một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba thì cần căn cứ pháp luật dân sự để xác định bên nào có lỗi và trách nhiệm bồi thường nếu có thiệt hại xảy

ra đối với bên kia cũng như người thứ ba hưởng lợi trong hợp đồng

1 Quyền từ chối của người thứ 3

● Pháp luật dân sự hiện hành về hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba không chỉ quy định khá cơ bản về quyền, nghĩa vụ của các bên giao kết hợp đồng mà còn

Trang 8

có sự đảm bảo cho ý chí và quyền lợi của người thứ ba hưởng lợi ích mà cụ thể

và quyền từ chối của họ đối với hợp đồng này Bởi lẽ, người thứ ba không phải

là chủ thể của hợp đồng, không thực hiện việc giao kết cũng như thỏa thuận các điều khoản của hợp đồng liên quan đến quyền, lợi ích của mình mà hoàn toàn trong thế “bị động”, nhất là trong trường hợp các cam kết của hợp đồng đưa họ vào tình thế bất lợi hoặc nằm ngoài ý muốn cá ý nhân dẫn đến việc họ không muốn tiếp nhận lợi ích từ hợp đồng

Ngay từ Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 đã có quy định về vấn đề này: “Trong trường hợp người thứ ba từ chối lợi ích của mình, thì bên có nghĩa vụ không phải thực hiện hợp đồng, nếu các bên giao kết không có thỏa thuận khác” (khoản 2 Điều 24) Tiếp đó, Điều 415 BLDS 1995 và Điều 420 BLDS 2005 tiếp tục cụ thể hóa quyền từ chối của người thứ ba: "Trong trường hợp người thứ ba từ chối lợi ích của mình trước khi bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ thì bên có nghĩa vụ không phải thực hiện nghĩa vụ, nhưng phải báo cho bên có quyền và hợp đồng được coi là bị huỷ

bỏ, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu người thứ ba từ chối lợi ích của mình sau khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ được xem là đã hoàn thành và bên có quyền vẫn phải thực hiện cam kết đối với bên có nghĩa vụ đã thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ được xem là đã hoàn thành và bên có quyền vẫn phải thực hiện cam kết đối với bên có nghĩa vụ" (Điều 420 BLDS 2005) So với BLDS

2005, Điều 416 BLDS 2015 vừa kế thừa, vừa có sự bổ sung và cụ thể hóa hơn về quyền từ chối của người thứ ba, thể hiện ở quy định:

“1 Trường hợp người thứ ba từ chối lợi ích của mình trước khi bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ thì bên có nghĩa vụ không phải thực hiện nghĩa vụ, nhưng phải thông báo cho bên có quyền và hợp đồng được coi là bị hủy bỏ, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận

2 Trường hợp người thứ ba từ chối lợi ích của mình sau khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ được xem là đã hoàn thành và bên có quyền vẫn phải thực hiện cam kết đối với bên có nghĩa vụ Trong trường hợp này, lợi ích phát sinh từ hợp đồng thuộc về bên mà nếu hợp đồng không vì lợi ích của người thứ ba thì họ là người thụ hưởng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Như vậy, điều luật đã có sự chia tách quyền từ chối của người thứ ba trong hai trường hợp, trước và sau khi bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ quy định thành hai khoản riêng rẽ để đảm bảo việc vận dụng trên thực tế chuẩn xác và thuận tiện hơn

Theo đó, trong trường hợp hợp đồng đã được giao kết nhưng bên có nghĩa vụ chưa thực hiện nghĩa vụ đối với người thứ ba mà người thứ ba bày tỏ ý chí không tiếp nhận lợi ích từ hợp đồng thì bên có nghĩa vụ cũng không phải tiến hành thực hiện nghĩa vụ như đã thỏa thuận nữa Trong trường hợp này, hợp đồng coi như bị hủy bỏ

và không phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Tuy nhiên, BLDS 2015 cũng quy định điều kiện bắt buộc là bên có nghĩa vụ phải thông báo cho bên có quyền về việc người thứ ba từ chối hưởng lợi ích

Trang 9

để làm căn cứ hủy bỏ hợp đồng Nội dung này của BLDS 2015 về cơ bản không có

sự thay đổi so với BLDS 2005 Tuy nhiên, đây lại là quy định mới với Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991, nghĩa vụ thông báo của bên có nghĩa vụ chưa được quy định tại pháp lệnh này Quy định này là cần thiết bởi như vậy, bên có quyền sẽ chủ động hơn khi biết việc người thứ ba từ chối hưởng lợi ích đồng thời tránh được tình trạng bên

có nghĩa vụ không thông báo khiến cho bên có quyền vẫn phải thanh toán các chi phí thực hiện nghĩa vụ cho họ

Đối với trường hợp người thứ ba từ chối lợi ích của mình sau khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện nghĩa vụ, khi đó pháp luật quy định hợp đồng coi như đã được hoàn thành Trong hoàn cảnh người thứ ba không muốn hưởng lợi ích phát sinh từ hợp đồng nhưng sự bày tỏ ý chí được thể hiện sau khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện nghĩa vụ thì việc từ chối này của người thứ ba không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng cũng như quyền, nghĩa vụ của các bên chủ thể hợp đồng Khi đó, bên có nghĩa vụ được coi như đã hoàn thành công việc của mình và bên có quyền phải thực hiện cam kết như đã thỏa thuận, như thanh toán các khoản chi phí liên quan đến việc thực hiện hợp đồng của bên có nghĩa vụ Trong trường hợp này, lợi ích phát sinh từ hợp đồng thuộc về bên mà nếu hợp đồng không vì lợi ích của người thứ ba thì họ là người thụ hưởng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Đó thường là bên mua trong hợp đồng mua bán hàng hóa, bên thuê trong hợp đồng thuê tài sản, bên mua bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, bên yêu cầu dịch vụ trong hợp đồng dịch vụ, mà xác định người hưởng lợi là người thứ ba Việc bổ sung quy định này của BLDS 2015 so với BLDS 2005 có ý nghĩa trong việc xác định chủ thể hưởng lợi ích phát sinh từ hợp đồng trong trường hợp người thứ ba từ chối, tránh được những tổn thất không đáng cho các bên giao kết hợp đồng khi mà nghĩa vụ đã được thực hiện

Mặc dù bản chất là loại hợp đồng được giao kết, thực hiện vì lợi ích của người thứ

ba và người này chỉ hưởng lợi mà không phải thực thi bất cứ nghĩa vụ nào song không phải lúc nào họ cũng muốn thụ hưởng lợi ích phát sinh từ hợp đồng đó Chính

vì vậy, quyền từ chối của người thứ ba là một đặc quyền được BLDS 2015 quy định thể hiện sự tôn trọng ý chí của người hưởng lợi này Tuy nhiên, điều luật chưa dự liệu tới khả năng bên có quyền chỉ định người thứ ba khác hưởng lợi ích từ hợp đồng hoặc yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đó đối với chính mình (người

có quyền) trong trường hợp người thứ ba được xác định ban đầu trong hợp đồng từ chối hưởng lợi ích trong khi khả năng này hoàn toàn có thể diễn ra nếu được các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc sau khi người thứ ba từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ

IV) Bản án

Bản án số 57/2014/DS-ST ngày 22/9/2014 của Tòa án nhân dân quận X về tranh chấp bảo hiểm nhân thọ.

Trang 10

Nội dung vụ án: Ông Trịnh Văn Côn mua 02 hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn

với Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC Việt Nam, hợp đồng ngày 28/10/2011

có mệnh giá bảo hiểm là 200.000.000 đồng và hợp đồng ngày 29/12/2011 có mệnh giá bảo hiểm là 300.000.000 đồng Theo hai hợp đồng này thì người mua bảo hiểm là ông Côn và người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm là bà Trịnh Thúy Hằng Tuy nhiên, khoảng 01 năm sau thì ông Côn mất và bà Hằng đã liên hệ với Công ty Bảo hiểm để được thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm Nhưng bên Công ty không đồng ý và cho rằng ông Côn bị ung thư thực quản và khai không trung thực trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm Vì vậy, bà Trịnh Thuý Hằng khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC Việt Nam phải chi trả quyền lợi bảo hiểm cho bà đối với hợp đồng ngày 28/10/2011 là: 200.000.000 đồng và đối với hợp đồng ngày 29/12/2011 là: 300.000.000 đồng, tổng cộng là 500.000.000 đồng

Bản án số 57/2014/DS-ST ngày 22/9/2014 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố H quyết định:

Ø Áp dụng:

- Khoản 3 Điều 25; Điểm a Khoản 1 Điều 33; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điều 131; Điều 210; Điều 238; Điều 239; Điều 243 và Điều 245 của Bộ luật tố tụng dân sự năm

2004 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011;

- Điểm c Khoản 2 Điều 17; Điểm a Khoản 2 Điều 19; Điều 29 và Điều 30 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000;

- Khoản 2 Điều 54 305; Điều 567 và Điều 576 Bộ luật dân sự năm 2005; Pháp lệnh

án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội số: 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Pháp lệnh

Ø Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Trịnh Thuý Hằng như sau:

- Buộc Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC Việt Nam có trách nhiệm trả cho bà Trịnh Thúy Hằng tiền bảo hiểm là: 200.000.000 đồng phát sinh từ Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ngày 8/10/2011 được ký giữa Công ty Bảo hiểm với ông Côn, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật

- Còn đối với hợp đồng bảo hiểm xác lập ngày 29/12/2011, Tòa án nhận định những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng chưa được giải quyết, trong khi bà Hằng không phải

là người thừa kế của ông Côn (do còn có vợ và con của ông Côn) nên bà không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng do ông Côn giao

Ngày đăng: 04/06/2022, 09:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w