ĐẶT VẤN ĐỀ Do hạn chế về trình độ dân trí cũng như mặt trái của nền kinh tế thị trường đã làm gia tăng đáng kể các loại tội phạm trên địa bàn, đặc biệt là các tội phạm xâm hại tình dục như Hiếp dâm, hay như các tội về xâm phạm sở hữu như tội cướp tài sản, cướp giật điều này đang trở thành một vấn nạn ở nước ta hiện nay Vì vậy để có thể hiểu rõ hơn về vấn đề này em xin chọn đề số 2 để làm chủ để cho bài học kỳ này Do thời gian nghiên cứu không nhiều nên bài làm có thể có những sai sót mong thầy c.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Do hạn chế về trình độ dân trí cũng như mặt trái của nền kinh tế thị trường
đã làm gia tăng đáng kể các loại tội phạm trên địa bàn, đặc biệt là các tội phạm xâm hại tình dục như Hiếp dâm, hay như các tội về xâm phạm sở hữu như tội cướp tài sản, cướp giật điều này đang trở thành một vấn nạn ở nước ta hiện nay Vì vậy để
có thể hiểu rõ hơn về vấn đề này em xin chọn đề số 2 để làm chủ để cho bài học kỳ này Do thời gian nghiên cứu không nhiều nên bài làm có thể có những sai sót mong thầy cô có thể góp ý đề bài làm được hoàn thiện hơn Em xin trân thành cảm
ơn !
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Tình huống:
A 22 tuổi, mới chấp hành xong hình phạt 02 năm tù về tội cướp giật tài sản (khoản 1 Điều 171 BLHS) được 06 tháng B 17 tuổi Hai người yêu nhau được khoảng 6 tháng Trong thời gian yêu nhau, hai người nhiều lần quan hệ tình dục với nhau Mỗi lần quan hệ tình dục, A thường dùng điện thoại chụp ảnh, quay video làm kỷ niệm, B biết nhưng không phản đối Khi chia tay nhau, B yêu cầu A xoá bỏ toàn bộ phim, ảnh liên quan đến kỷ niệm của hai người Khoảng 01 tháng sau ngày chia tay, A hẹn gặp B để nói chuyện Khi gặp nhau, A đòi B cho quan hệ tình dục,
B không đồng ý liền bị A đánh, doạ giết nên B không dám phản kháng mà để A quan hệ tình dục Sau đó, B báo công an và A bị bắt
Câu hỏi:
1 Xác định tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A.(2,5 điểm)
2 Trường hợp phạm tội của A là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? (1,5 điểm)
Trang 23 Sau khi chia tay nhau, A nhiều lần gọi điện cho B yêu cầu gặp nhau nhưng B từ chối Một lần A chặn đường B và yêu cầu B vào nhà nghỉ với hắn B không đồng ý liền bị A đánh đập và giật túi xách của B rồi bỏ đi Trong túi xách của B có 500.000 đồng Hành vi này của A có phạm tội không, nếu có thì là tội gì? Tại sao? (1,5 điểm)
4 Trường hợp, A dọa đưa video “nhạy cảm” của B lên mạng internet và yêu cầu
B phải gửi vào tài khoản cho hắn 30 triệu đồng B báo công an và A bị bắt Hành vi của A có cấu thành tội phạm không? Tội gì? Tại sao? (1,5)
Giair quyết tình huống:
1 Xác định tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A.
Từ tình huống đã cho cho thấy phạm tội hiếp dâm theo khoản 1 Điều 141
BLHS 2015 sửa đổi 2017: “Người nào dùng vũ lực đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù
từ 02 năm đến 07 năm”.
Những dấu hiệu pháp lý cấu thành tội hiếp dâm
Khách thể của tội phạm: Xâm phạm đến quyền được tôn trọng về nhân
phẩm, danh dự của B Và cụ thể là A đã xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về tình dục của B
Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội này được quy
định là hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân, trái ý muốn của họ bằng thụ đoạn dùng vũ lực đe doa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được hoặc thủ đoạn khác
Trong tình huống trên Khoảng 01 tháng sau ngày chia tay, A hẹn gặp B để nói chuyện Khi gặp nhau, A đòi B cho quan hệ tình dục, B không đồng ý liền bị A
Trang 3đánh, doạ giết nên B không dám phản kháng mà để A quan hệ tình dục Để được B
cho quan hệ A đã có thủ đoạn là dùng vũ lực (B không đồng ý liền bị A đánh),
dùng sức mạnh vật chất của mình để đè bẹp lại sự kháng cự của B ;đe dọa dùng vũ lực (dọa sẽ giết nêu B không cho quan hệ) nhằm tê liệt ý chí kháng cự của B Vì
vậy B không thể chống cự, hay phản khác đươc và phải quan hệ với A.
Chủ thể của tội phạm: Nam giới (22 tuổi) là chủ thể thường, A đã đặt độ
tuổi theo Luật định và có đầy đủ khả năng nhận thức và điều kiển hành vi
Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội A là lỗi cố ý A nhận
thức rõ hành vi của mình là trái với ý muốn của nạn nhân nhưng vẫn cố tình dùng
vũ lực, đe dọa dùng vũ lực dùng vũ lực để quan hệ trái với ý muốn của nạn nhân, những vẫn mong muốn nó xảy ra
Như vậy, từ những phân tích trên về các yếu tố cấu thành tội phạm nêu trên,
xét thấy có đầy đủ cơ sở để xét tội A phạm tội hiếp dâm theo khoản 1 Điều 141 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
Và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A là bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm tù Vì đối với hành vi của A phạm tội hiếp dâm chỉ CTTP cơ bản do không có các tình tiết tăng nặng định khung thuộc khoản 2 và khoản 3 điều này Vì vậy, xác định khung hình phạt đối với tội của A là 02 năm đến 07 năm tù
2 Trường hợp phạm tội của A là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm.
Căn cứ pháp lý:
- Điều 53 BLHS 2015
- Điều 9 BLHS 2015
- Khoản 1 Điều 171 BLHS 2015
- Khoản 1 Điều 141 BLHS 2015
Theo Điều 53 Bộ luật Hình sự 2015 có quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm như sau:
Trang 4“1 Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.
2 Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:
a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố
ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;
b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý”.
Từ tình huống trên ta thấy, A đã bị kết án về tội cướp giật tài sản theo khoản
1 Điều 171 BLHS 2015 đây là loại tội nghiêm trọng và mới chấp hành xong hình phạt 02 năm tù về tội này được 06 tháng, vẫn chưa được xóa án tích Trong thời gian này A phạm một tội mới là tội hiếp dâm (khoản 1 Điều 141 BLHS 2015), lỗi
cố ý
Vì vậy, ta có thể kết luận được rằng trong tình huống trên trường hợp phạm tội của A là tái phạm
3 Sau khi chia tay nhau, A nhiều lần gọi điện cho B yêu cầu gặp nhau nhưng B từ chối Một lần A chặn đường B và yêu cầu B vào nhà nghỉ với hắn.
B không đồng ý liền bị A đánh đập và giật túi xách của B rồi bỏ đi Trong túi xách của B có 500.000 đồng Hành vi này của A có phạm tội không, nếu có thì
là tội gì? Tại sao?
Trả lời:
Hành vi của A đã cấu thành nên tội cướp tài sản theo khoản 1 Điều 168 BLHS 2015.
Bời vì:
Xét cấu thành tội phạm của tội này như sau
Trang 5Tại Điều 168 BLHS 2015 quy định:
“ 1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành
vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.…….
…….6 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản
chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Về khách thể của tội phạm: Hành vi cướp tài sản xâm hại đến những quan
hệ xã hội được Luật Hình sự bảo về, đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu
Nhận thấy ở tình huống trên bằng hành vi phạm tội của mình A xâm phạm trước hết là đến thân thể, sức khỏe, tự do của B và dẫn đến xâm hại đến sở hữu của
B như quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạn tài sản Tài sản đó là túi sách và 500.000 đồng ở trong túi
Mặt khách quan của tội phạm : Theo quy định tại Điều 168 BLHS 2015 có
ba dạng hành vi khách quan, đó là : dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khác
vá hành vi khác làm cho người tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được
Hành vi ở đây của A là dùng vũ lực (đánh đập) làm cho nạn nhân B không thể chống cự được Do A đã dùng sức mạnh để đề bẹp ý chí chông cự lại của B, người phạm tội đã dùng vũ lực tác động đến B khiến B không giám phản kháng lại,
vì dù sao A cũng là nam “sức dài vai rộng” còn B chỉ là một người phụ nữ
Chủ thể của tội phạm: Nam giới (22 tuổi) là chủ thể thường, A đã đặt độ
tuổi theo Luật định, không mắc các bệnh tâm thần hay các bệnh khác làm mất năng
Trang 6lực khiểm soát và điều khiển hành vi và có đầy đủ khả năng nhận thức và điều kiển hành vi
Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tôi là lỗi cố ý trực tiếp.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội biết mình có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc biết mình có hành vi làm cho người khác không thể chống cự được Người phạm tội A mong muốn hành vi được thực hiện đè bẹp hoặc làm tê liệt sự chống cự của người bị tấm công B Việc A có thể nhận thức rõ hành vi của minh là sẽ làm tổn hại đến B nhằm đè bẹp và khiến B lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhưng vẫn mong muốn điều đó xảy ra với mục đích là cướp tài sản của B
Như vậy, từ những giải thích trên có thể thấy A phạm tội cướp tài sản theo khoản 1 Điều 2 BLHS 2015.
4 Trường hợp, A dọa đưa video “nhạy cảm” của B lên mạng internet và yêu cầu B phải gửi vào tài khoản cho hắn 30 triệu đồng B báo công an và A bị bắt Hành vi của A có cấu thành tội phạm không? Tội gì? Tại sao? (1,5)
Trà lời:
Hành vi của A cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 170 BLHS 2015.
Vì:
Xét cấu thành tội phạm của tội này như sau:
Tại khoản 1 Điều 170 quy đinh như sau:
“1 Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm……
…….5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Trang 7Khách thể của tội phạm:
Tội cưỡng đoạt tài sản cũng xâm hại đồng thời cả hai quan hệ đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu Cả hai quan hệ này đều là khách thể trực tiếp của tội này
Mặt khách quan của tội phạm:
Hành vi của phạm tội của tội cưỡng đoạt có thể là : hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi uy hiếp tinh thần người khác
Trong tình huống trên A đã uy hiếp tinh thần B bằng cách nếu như không làm theo yêu cầu của mình thì sẽ tung những thông tin đời tư của B lên mạng xã hội Điều này có thể hủy hoại, gây thiệt hại đến danh dự của B, vì những thứ bị A dọa đăng trên mạng là những thứ nhạy cảm, nếu như B không đưa tiền chuộc 30 triệu đồng cho A
Chủ thể của tội phạm:
Nam giới (22 tuổi) là chủ thể thường, A đã đặt độ tuổi theo Luật định, không mắc các bệnh tâm thần hay các bệnh khác làm mất năng lực khiểm soát và điều khiển hành vi và có đầy đủ khả năng nhận thức và điều kiển hành vi
Mặt chủ quan của tội phạm:
Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội biết mình có hành vi uy hiếp tinh thần người khác bằng bất cứ thủ ddianj nào và thông qua đó khống chế ý chí của chủ thể tài sản để có thể chiếm đoặt được tài sản đó Mục đích
là nhằm chiếm đoạt tài sản
Ở tình huống trên A uy hiếp tình thần của B bằng thủ đoạn sử dụng những hình ảnh, video riêng tư của hai người họ để đổi lấy 30 triệu coi như tiền mua lại toàn bộ phim ảnh đó A hoàn toàn đủ khả năng để nhận thức được hành vi của mình
sẽ xúc phạm đến danh dự của B, khiến B sợ và phải giao ra 30 triệu đồng, nhưng
Trang 8vẫn mong muốn điều đó xảy ra nên ở đấy lối của A là lỗi vô ý Và mục đích là chiếm đoạt 40 triệu của B
Như vậy, từ những giải thích trên có thể thấy A phạm cưỡng đoạt tài
sản theo khoản 1 Điều 170 BLHS 2015.
KẾT LUẬN
Việc phòng chống các tội phạm xâm hại tình dục nhất thiết phải có sự chung tay góp sức của từng cá nhân nói riêng và toàn xã hội nói chung, ngăn chặn và đẩy lùi được loại tội phạm này sẽ góp phần xây dựng xã hội của chúng ta ngày càng văn minh hơn, giàu đẹp hơn cần nâng cao nhận thức và kỹ năng phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm xâm hại tình dục, nhất là đối với nhóm đối tượng có nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm xâm hại tình dục Để làm được điều này, trước hết phải có sự quan tâm, chia sẻ, quản lý và giáo dục từ phía gia đình, nhà trường và toàn xã hội Thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về tội phạm xâm hại tình dục, về các vấn đề tâm sinh lý lứa tuổi, giới tính sẽ giúp nâng cao nhận thức của từng cá nhân để chủ động và có những kỹ năng cần thiết trong việc phòng tránh và ngăn ngừa tội phạm xâm hại tình dục
Trang 9DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) (Quyển 1), Nxb CAND, Hà Nội, 2018;
2 Nguyễn Ngọc Hoà, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) (Phần các tội phạm) (Quyển 2), Nxb Tư Pháp, Hà Nội,
2019;
3 Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
4 Cao Thị Oanh (chủ biên), Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2015.
5 Hoàng Văn Hùng, Đấu tranh phòng, chống tội trộm cắp tài sản ở Việt Nam, Luận
án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2007;
6 https://kiemsat.vn/toi-pham-xam-hai-tinh-duc-thuc-trang-nguyen-nhan-va-giai-phap-51382.htmt
7 https://danluat.thuvienphapluat.vn/phan-biet-toi-cuop-tai-san-cuop-giat-tai-san-va-cuong-doat-tai-san-171682.aspx