SKKN Biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học văn miêu tả cho học sinh lớp 4 SKKN Biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học văn miêu tả cho học sinh lớp 4, theo hướng tiếp cận năng lực MỤC LỤC Nội dung Trang PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 4 1 Lí do chọn đề tài 4 2 Mục tiêu nghiên cứu 5 3 Đối tượng nghiên cứu 6 4 Phạm vi nghiên cứu 6 5 Phương pháp nghiên cứu 6 PHẦN II CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI 6 1 Cơ sở lí luận 6 1 1 Các khái niệm về văn miêu tả 6 1 2 Đặc điểm văn miêu tả 7 1 3 Cấu trúc.
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN II: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI 6
1.3 Cấu trúc chương trình, sách giáo khoa phân môn Tập làm văn lớp 4 7
1 Một vài biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học văn miêu tả cho học
1.1.Các biện pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề 10
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Trang 2Bậc Tiểu học là bậc học quan trọng, đặt nền móng cho giáo dục phổ thông Bởi giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, thể chất và các kỹ năng cơ bản để học sinh học tiếp các bậc tiếp các bậc học sau.
Trong năm học 2020- 2021 Bộ giáo dục đã tiến hành triển khai chương trình GDPT 2018, cải cách giáo dục, đầu tư cho giáo dục nhiều tiền của và công sức để tìm ra những biện pháp mới, những phương pháp tối ưu nhằm nâng cao chất lượng dạy học lên một bước theo quá trình phát triển của xã hội Bởi nếu chỉ dạy cho học sinh những kiến thức đã có sẵn trong sách giáo khoa, trong các tài liệu thì tiết học
sẽ diễn ra thật đơn điệu, tẻ nhạt và kết quả học tập sẽ không cao Đó là một trong những nguyên nhân cản trở việc đào tạo các em thành những con người năng động,
tự tin, sáng tạo, sẵn sàng thích ứng với những đổi mới diễn ra hàng ngày.
Như chúng ta đã biết, nếu như học toán để phát triển tư duy logic thì việc học tiếngViệt sẽ giúp các em hình thành và phát triển tư duy ngôn ngữ Tư duy có phát triển thìngôn ngữ mới phát triển Và ngược lại, ngôn ngữ càng phát triển thì càng tạo cho tư duyphát triển nhanh hơn Ngôn ngữ càng hoàn hảo, càng giúp cho việc diễn đạt tư tưởng tìnhcảm thêm chính xác, giúp khả năng nhận xét thêm sâu sắc, có khả năng trình bày được rõràng, chính xác những ý nghĩ và tình cảm của mình Trong chương trình tiểu học mônTiếng Việt giữ một vị trí đặc biệt quan trọng Đó là môn học có chức năng “kép” (vừa làmôn công cụ, vừa là môn khoa học) Vì vậy Tiếng Việt là môn học không thể thiếu trong
hệ thống giáo dục của đất nước ta, đặc biệt đối với học sinh ở bậc Tiểu học – lứa tuổiđang trong giai đoạn hình thành về nhân cách và tư duy Trong đó phân môn Tập làm văngiữ một vị trí quan trọng trong dạy và học Tiếng Việt
Chương trình Tập làm văn Tiểu học bao gồm các thể loại như miêu tả, kể chuyện,viết thư, đơn từ… trong đó kiểu bài miêu tả được học và chiếm thời gian nhiều nhất.Mục đích của việc dạy văn miêu tả ở tiểu học, giúp học sinh có thói quen quan sát,biết phát hiện những điều mới mẻ, thú vị về thế giới xung quanh; biết truyền những rungcảm của mình vào đối tượng miêu tả; biết sử dụng những từ ngữ có giá trị biểu cảm,những câu văn rõ ràng, chân thực Một bài văn hay là một bài văn mà khi đọc, người đọcthấy hiện ra trước mắt mình: con người, cảnh vật, đồ vật,…cụ thể, sống động như nó vẫntồn tại trong thực tế cuộc sống Như vậy, có thể xem văn miêu tả là một bức tranh về sự
Trang 3vật bằng ngôn từ.
Để làm tốt một bài văn miêu tả, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợpcủa các môn học cộng với vốn sống thực tế Đối với học sinh lớp 4, phân môn Tập làmvăn quả là khó khăn Bởi lẽ, đây là môn học đòi hỏi sự sáng tạo Để giúp học sinh học tốtvăn miêu tả điều quan trọng là làm thế nào giúp cho học sinh quan sát để tìm ý, biết lựachọn các từ ngữ miêu tả cho sinh động, hấp dẫn, không phải đưa ra các lời nhận xétchung chung mà phải tả các sự vật, hiện tượng bằng từ ngữ cụ thể, gợi cảm Một bài vănhay, có giá trị không ở chỗ trình bày mạch lạc dễ hiểu mà cái quan trọng hơn đó là sứctruyền cảm và sự truyền cảm này có được là do tính chân thực, tính nhân bản, cao hơnnữa là cái chất văn, hơi văn
Khi chấm bài Tập làm văn, tôi thấy đa số học sinh đã biến các bài văn miêu tả thànhvăn kể, liệt kê một cách khô khan, chưa có hình ảnh, chưa có cảm xúc Các em rất lúngtúng khi viết bài văn miêu tả và hơn hết là không hứng thú Được trực tiếp giảng dạy vàqua dự giờ đồng nghiệp tôi nhận thấy tình trạng này diễn ra không phải là ít Người giáoviên cần làm gì? Làm như thế nào? để tiết học nhẹ nhàng, đem lại hiệu quả cao tronggiảng dạy Tập làm văn? Vì vậy bản thân tôi rất băn khoăn, trăn trở về vấn đề này và đãthực hiện một số biện pháp trong giảng dạy có hiệu quả Đây chính là lí do khiến tôi chọn đề tài “Biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học văn miêu tả cho học sinh lớp
4, theo hướng tiếp cận năng lực”
Đề tài là những vấn đề dựa trên cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn, thực trạng dạy họcvăn miêu tả lớp 4 nói riêng và ở Tiểu học nói chung, dựa trên nguyên lý giáo dục, đặctrưng bộ môn, tâm sinh lí học sinh, phát huy năng lực học cho học sinh Với những biệnpháp hữu hiệu góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4 Đềtài vừa mang tính thực tiễn cao, vừa có tính sáng tạo, tính mới tiếp cận theo chương trìnhgiáo dục 2018
2 Mục tiêu nghiên cứu: Tôi viết đề tài này với mong muốn:
- Rèn luyện kĩ năng làm các bài văn tả cảnh cho học sinh
- Giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức, hiểu và khắc sâu, nhớ lâu kiến thức, pháttriển hoạt động trí tuệ sáng tạo của học sinh, vận dụng tạo tiền đề sau này học sinh tiếptục học các thể loại văn khác được tốt hơn
- Góp phần làm rõ phương pháp dạy, nâng cao chất lượng học văn miêu tả cảnh cho giáo viên và học sinh lớp 4
Trang 43 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là tập thể học sinh, lớp 4A năm học 2020-2021, TrườngTiểu học Phú Thứ, xã Hợp Nhất – Đoan Hùng – Phú Thọ
- Chương trình phân môn Tập làm văn lớp 4
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về quy mô: Tổng hợp những kiến thức liên quan trực tiếp để dạy HS viếtbài văn Tìm ra những nguyên nhân dẫn đến kết quả viết bài văn ở học sinh lớp 4 khôngnhư ý muốn Tìm ra các giải pháp và xây dựng gắn dạy học minh họa để việc dạy họcviết bài văn đạt kết quả tốt hơn
Phạm vi về không gian: Tại lớp 4A - Trường Tiểu học Phú Thứ
Phạm vi về thời gian: Từ tháng 12 năm 2020 đến tháng 5 năm 2021
5 Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phương pháp quan sát sư phạm
Ứng dụng sơ đồ tư duy
Phương pháp điều tra
Phương pháp thực hành
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
PHẦN II: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI
1 CƠ SỞ LÍ LUẬN:
1.1 Các khái niệm về văn miêu tả
Miêu tả: Miêu tả là nêu lên các đặc điểm của sự vật, hiện tượng bằng cách làm cho
các sự vật, hiện tượng đó hiện lên trực tiếp (tái hiện) trước mắt người đọc (người nghe)một cách cụ thể, sống động, như thật khiến cho người ta có thể nhìn, nghe, ngửi, sờ móđược
Văn miêu tả: Văn miêu tả là loại văn nhằm giúp người đọc, người nghe hình dung
những đặc điểm, tính chất nổi bật của sự vật, sự việc, con người, phong cảnh,…làm cho
nó như hiện lên trước mắt người đọc, người nghe Vì thế, văn miêu tả là thể loại văn dùnglời nói, chữ viết có hình ảnh và cảm xúc làm cho người đọc, người nghe hình dung mộtcách rõ nét về người, vật, cảnh vật sự việc như vốn có trong đời sống Một bài văn miêu
Trang 5tả hay không phải thể hiện chính xác, rõ nét, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể hiệntrí tưởng tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết đối với đối tượng miêu tả.
1.2 Đặc điểm văn miêu tả:
- Văn miêu tả là thể loại sáng tác: văn miêu tả không phải là sự sao chép, chụp lạinhững sự vật, sự việc, con người một cách máy móc mà là kết quả của sự nhận xét, tưởngtượng, đánh giá hết sức phong phú Đó là miêu tả thể hiện sự mới mẻ, riêng biệt củangười viết
- Tính chân thật trong văn miêu tả: văn miêu tả không hạn chế sự tưởng tượng,không ngăn cản cái mới mẻ của người viết Nhưng như vậy, không có nghĩa văn miêu tảcho phép người viết bịa một cách tùy tiện, muốn nói sao thì nói, viết sao thì viết Khimiêu tả cái mới, cái riêng phải gắn chặt với cái chân thực Thấy đúng như thế nào thì tảnhư thế ấy
- Văn miêu tả phải là loại văn giàu cảm xúc, những rung động, những nhận xéttinh tế, dồi dào sáng tạo nhằm mục đích thông báo thẩm mỹ Người đọc qua văn miêu tảnhận thức thực tế khách quan bằng con đường lí trí mà chủ yếu bằng cảm xúc, nhữngrung động mạnh mẽ của tâm hồn
- Ngôn ngữ văn miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh: ngôn ngữ trong văn miêu tảphong phú, đa dạng Và người viết còn đan xen giai điệu phụ trợ như: tường thuật, kểchuyện
1.3 Cấu trúc chương trình, sách giáo khoa phân môn Tập làm văn lớp 4
Trong chương trình Tiếng Việt tiểu học, văn miêu tả chiếm một vị trí quan trọng
Ở lớp 4, văn miêu tả được dạy 30 tiết với ba kiểu bài cụ thể: Tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật Chương trình Tập làm văn lớp 5 tiếp tục dạy về văn miêu tả với hai kiểu bài: Tả cảnh - 14 tiết, tả người - 12 tiết.
* Về cấu trúc chương trình
- Trong chương trình Tiếng Việt Lớp 4, mỗi tuần có 2 tiết học Tập làm văn Cảnăm học mỗi lớp có tổng số 70 tiết Tập làm văn, trong đó trừ 4 tuần ôn tập GHKI; CHKI,GHKII và CHKII thì văn miêu tả lớp 4 có thời lượng như sau:
Trang 6- Kiến thức Tập làm văn trong chương trình được sắp xếp học trong tuần sau khi
đã được học các phân môn khác
- Thông tin của phân môn Tập làm văn được thể hiện toàn bộ bằng kênh chữ, không có hoặc ít kênh hình minh họa
- Tập làm văn là phân môn tổng hợp kiến thức của nhiều phân môn: Tập đọc,Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện
2 CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Nội dung các bài Tập làm văn lớp 4 được gắn với các chủ điểm, có sự tích hợp rõnét với các phân môn khác trong chương trình Tiếng Việt Quá trình hướng dẫn học sinhthực hiện các kĩ năng phân tích đề, quan sát, tìm ý, nói, viết đoạn hoặc cả bài văn lànhững cơ hội giúp trẻ mở rộng hiểu biết về cuộc sống theo chủ điểm đang học Việc phântích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn, quan sát đối tượng, tìm lí lẽ, dẫn chứng ,trình bày vàtranh luận … Góp phần phát triển năng lực phân tích tổng hợp của học sinh Tư duy hìnhtượng của trẻ cũng được rèn luyện và phát triển qua việc sử dụng các biện pháp so sánh,nhân hoá… khi miêu tả
Học các tiết làm văn miêu tả, học sinh có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của conngười và thiên nhiên, có cơ hội bộc lộ cảm xúc cá nhân, mở rộng tâm hồn và phát triểnmẫu mực nhân cách con người Việt Nam
Văn miêu tả lớp 4 có vị trí quan trọng trong chương trình dạy học, nên đã có nhiều
đề tài nghiên cứu về vấn đề này nhằm giúp giáo viên có nhiều kiến thức, kĩ năng để tổchức dạy học về văn miêu tả có hiệu quả, song trong thực tế hiện nay vẫn còn nhiều hạnchế, tôi sẽ trình bày ở phần sau
3 THỰC TRẠNG DẠY HỌC VĂN MIÊU TẢ LỚP 4 HIỆN NAY
3.1 Thực trạng
- Các em phân định các phần trong mỗi bài viết chưa rõ ràng, nhiều em còn chưa
phân biệt được đâu là mở bài, thân bài, kết luận Các em chưa biết cách trình bày mộtcách mạch lạc, gãy gọn thành các đoạn nên bài viết các em diễn đạt lộn xộn, thiếu logic,sáng tạo
- Nhiều em chưa có kĩ năng quan sát, chủ yếu quan sát bằng mắt, từ đó chưa cảm
nhận được cái hay, cái đẹp, cái đặc sắc độc đáo của sự vật, hiện tượng
Ví dụ: Khi đứng trước một cây bàng cành lá sum suê có nhận xét về cây bàng đó
thì các em trả lời
Trang 7Cây bàng to ạ! Cây bàng cao ạ! Cây bàng tốt ạ! Cây bàng nhiều cành ạ!
Rõ ràng các câu trả lời trên còn chung chung, chưa diễn tả cái đẹp tinh tế của câybàng, chưa lựa chọn từ ngữ thích hợp để miêu tả
- Các em chưa biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật tu từ, các từ ngữ gợi tả, gợi
cảm Đặc biệt các em dùng từ lặp nhiều, chủ yếu là liệt kê các bộ phận của sự vật Bởivậy bài văn thường cộc lốc, lủng củng, khô khan
Ví dụ: Khi miêu tả chiếc cặp sách của mình hay của bạn đã có học sinh viết:
“Chiếc cặp của em có hình chữ nhật chiều dài một sải tay, chiều rộng một gang tay” hay khi tả con lợn con, một học sinh đã viết “Con lợn của em to bằng quả dưa chuột, cái đuôi như cái vòi bơm xe đạp”.
- Vốn sống, vốn kiến thức văn của học sinh nhất là học sinh vùng nông thôn quê
chúng tôi còn hạn chế Đa số các em là con trong những gia đình có bố mẹ làm nghềnông, đông con nên chưa có điều kiện, chưa có ý thức mua sách báo cho con
- Nhiều học sinh ở nông thôn chưa hề được ra thành phố, có em chưa từng đượcđến công viên, vườn bách thú hay những danh lam thắng cảnh khác… Kể cả nhiều họcsinh ở vùng nông thôn nhưng chưa hề được nhìn thấy con gà đang gáy, chưa bao giờquan sát cánh đồng lúa khi thì xanh mướt, lúc vàng óng, trĩu bông…
- Bài làm các em còn sao chép lại văn mẫu Với cách học ấy, các em không có cảmxúc gì về đối tượng miêu tả, miêu tả hời hợt, thiếu cái hồn, cái riêng, thiếu cái chân thực,cái hồn nhiên ngây thơ của tuổi học trò
Tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng về làm văn tả đồ vật của học sinh (tại lớp 4E:
34 em), với đề bài: Em hãy tả lại một đồ dùng học tập mà em thích Kết quả đạt như sau:
Nội dung cần đạt
Thời điểm khảo sát/Số học sinh đạt
Khi chưa áp dụng đề tài
Giữa học
kì II
Cuối học
kì II
- Còn nhiều lúng túng khi lập dàn bài và viết bài
- Biết lập dàn bài, viết bài văn đủ 3 phần 18 52.9%
-Viết được bài văn hay, biết bám vào các hình 5 14.7%
Trang 8ảnh, kết hợp sự sáng tạo, sử dụng biện pháp tu từ
đơn giản của cá nhân
- Kiến thức môn Tiếng Việt ở Tiểu học mang tính đồng tâm, các em phải kết nốiđược những kiến thức đã học với kiến thức mới thì mới hoàn thiện được các kĩ năng cầnthiết cho môn Tiếng Việt Chính vì lẽ đó, nhiều học sinh kiến thức các lớp dưới chưachắc thì càng lên các lớp trên sẽ càng khó khăn khi học Tiếng Việt, dẫn đến các em chánnản, không thích học Tiếng Việt
- Phần lớn học sinh tiểu học ít quan tâm đến việc đọc và có đọc thường là truyệntranh, thậm chí có những truyện tranh không mang tính giáo dục Việc trò chuyện, tiếpxúc với bố mẹ, với những người thân trong gia đình và cộng đồng cũng rất hạn chế chonên vốn liếng về cuộc sống, về văn học của các em bị hạn chế Chính điều này đã tácđộng không nhỏ đến việc học văn và Tập làm văn của học sinh
- Ngoài ra sự hấp dẫn của các trò chơi GAMES hoặc các trang WEB hấp dẫn kháctrên INTERNET khiến các em quên đi sự đa dạng của thế giới thiên nhiên xung quanh :ruộng đồng, cây cỏ, côn trùng, mưa gió, Đây là thế giới có khả năng làm phong phútâm hồn tuổi thơ và rèn luyện óc quan sát, nhận xét,
Làm thế nào để cho học sinh làm văn hay và có hiệu quả thì lại là một vấn đề rấtkhó khăn, cần phải suy nghĩ và dày công nghiên cứu của những người làm công tác giáodục
PHẦN III: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học văn miêu tả cho học sinh lớp 4
1.1 Các biện pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề:
Biện pháp 1: Tổ chức, hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng miêu tả
Trang 9Dạy cho học sinh kĩ năng quan sát là yêu cầu quan trọng khi viết văn miêu tả Muốnquan sát tốt học sinh phải nắm được phương pháp quan sát Quan sát để làm Tập làm văn
và quan sát để hiểu về khoa học có hai mục đích khác nhau Mục đích quan sát khoa học
là để tìm ra công dụng, cấu tạo, đặc điểm, tính chất của sự vật hiện tượng Mục đích quansát văn học là để tìm được hình dạng, màu sắc, âm thanh tiêu biểu từ cảm xúc của ngườiđối với sự vật Vì vậy để học sinh biết cách quan sát tốt, cần chú ý những vấn đề cơ bảnsau:
a) Hướng dẫn học sinh quan sát bằng nhiều giác quan
áo may tay Hàng khuy thẳng tắp như hàng quân trong đội duyệt binh Cái cổ áo như hai cái lá non trông thật dễ thương Mẹ còn may cái cầu vai y hệt như chiếc áo quân phục thực sự Cái măng sét ôm khít lấy cổ tay tôi”.
Trong quá trình hướng dẫn học sinh, tôi yêu cầu các em quan sát các sự vật bằngmắt để nhận thấy những màu sắc, hình khối, nét đặc sắc của đối tượng
Với đề bài: Tả một cây ăn quả mà em yêu thích
Quan sát bằng mắt, các em thấy được tầm thước của cây cao như thế nào, tán lá, lá
ra sao? Màu sắc, hình dáng của hoa, quả( khi còn nhỏ, đến khi chín)
* Quan sát bằng tai
Dùng tai nghe được âm thanh nhịp điệu và gợi cảm xúc Dùng tai khi quan sát để
bổ trợ cho việc miêu tả đối tượng một cách cụ thể hơn, sinh động hơn Để học sinh lớp 4
có khả năng quan sát bằng tai, giáo viên thực hiện ra các bài tập, như:
- Em hãy quan sát và ghi lại những âm thanh những đàn chim đậu trên vòm lá
- Em hãy quan sát và ghi lại những âm thanh khi mở đóng chiếc cặp
Ví dụ: Để tả tốt về chiếc cặp thì ngoài quan sát bằng mắt, tôi yêu cầu các em bằng
một âm thanh phát ra từ những chiếc khóa cặp để tìm cụm từ ngữ diễn tả thích hợp
Trang 10Trong viết văn, thì quan sát bằng mũi được các nhà văn sử dụng rất tinh tế và diễn tả
thật hấp dẫn như “Hương thảo quả ngọt cũng thơm nồng”, “Hương thơm đậm, ủ trong từng nếp áo, nếp khăn”, “Chẳng có thứ quả nào hương thơm lại ngây ngất kỳ lạ đến thế” trong “Mùa thảo quả” của nhà văn Ma Văn Kháng”.
* Quan sát bằng vị giác, xúc giác:
Trong miêu tả có những đối tượng ngoài việc miêu tả bằng cách quan sát trên thìcần giúp học sinh quan sát bằng xúc giác, vị giác
Ví dụ: “Hai bàn tay xoa vào má cứ ráp ráp, không hiểu vì sao Bình rất thích.”( Nguyễn Thị Xuyên) “Sầu riêng thơm mùi thơm của mít chín quyện với hương bưởi, béo cái béo của trứng gà, ngọt cái vị của mật ong già hạn Hương vị quyến rũ đến
kì lạ” (Mai Văn Tạo)
Đối với học sinh lớp 4 miêu tả có hiệu quả cao thì trong quá trình giảng dạy bảnthân tôi đã tổ chức cho các em quan sát bằng các câu hỏi gợi ý, như:
Khi nắm lấy quai xách em cảm thấy như thế nào?
Khi sờ thân cây bàng em có cảm giác như thế nào?
Tóm lại muốn tái hiện các sự vật, hiện tượng, cách quan sát tốt nhất là phải dùngnhiều giác quan thì tài năng văn mới phong phú, muôn hình muôn vẻ
b) Lựa chọn trình tự quan sát :
Tôi hướng dẫn học sinh lựa chọn trình tự quan sát thích hợp, cụ thể:
*Trình tự không gian : Thường quan sát bao quát đến quan sát chi tiết từng bộ
phận, quan sát từ trái sang phải hay từ trên xuống dưới, hay từ ngoài vào trong, nhìn từ xalại gần và ngược lại,
Trang 11Ví dụ : Khi tả cái cặp: Tôi luôn hướng dẫn học sinh quan sát đặc điểm chung của cái cặp
rồi quan sát các bộ phận từ ngoài vào trong, cái cặp có màu gì, hình gì… Nó có mấyngăn Các ngăn đó em đựng như thế nào?
* Trình tự thời gian : Miêu tả theo trình tự thời gian ngoài việc tạo cho bài văn
logic mà còn lột tả được đặc điểm của sự vật
Chúng ta cùng nhìn lại cách “Tả lá bàng” của Hoàng Phú Ngọc Tường viết: “Mùa xuân, lá bàng mới nảy trông như những ngọn lửa xanh Sang hè, lá lên thật dày, ánh sáng xuyên qua chỉ còn là màu ngọc bích Khi lá bàng ngả sang màu lục ấy là mùa thu Sang đến những ngày cuối đông, mùa của lá rụng, nó lại có vẻ đẹp riêng Những lá bàng mùa đông đỏ như đồng ấy, tôi có thể nhìn cả ngày không chán….”
Để rèn luyện cho học sinh lớp quan sát tốt, bản thân tôi rất chú ý đến vấn đề này.Chẳng hạn tôi đã tiến hành hướng dẫn các em quan sát cây bàng trong sân trường theotrình tự không gian và kết quả các em đã hình thành dàn ý theo sơ đồ tư duy như sau:
Trang 12c) Tìm ra được nét riêng biệt, nét tiêu biểu, nét độc đáo của sự vật
Đúng như nhà văn Tô Hoài đã nói: “Quan sát giỏi phải thấy ra nét chính, thấy được tính riêng, móc được những ngóc ngách của sự vật, của vấn đề Nhiều khi chẳng cần đầy đủ sự việc, chỉ chép lại những đặc điểm mà mình cảm nhận như Một câu nói lột tả tính nết, những dáng người và hình bóng, tiếng động, ánh đèn, nét mặt, một trạng thái
tư tưởng do mình đã khổ công ngắm, nghe, nghĩ, mới bật lên và khi bật lên thì thấy thích thú hào hứng không ghi không chịu được.” (Trích “sổ tay viết văn” – NXB tác phẩm mới
1977) Khi quan sát phải có trọng tâm, không phải kiểu quan sát nhặt nhạnh, liệt kê, kể lểmột cách khô khan dẫn đến miêu tả rườm rà, sẽ không thể làm nổi bật được đối tượng cầnmiêu tả Ví dụ:
Tả cây ăn quả: chú trọng quan sát quả, quá trình phát triển của quả, hương vị, hìnhdáng, màu sắc của quả
Trang 13Tả cây hoa: tập trung vào tả vẻ đẹp của hoa, màu sắc, hương vị của hoa
Tả cây bóng mát: tập trung tả lá, tán lá, cảm giác mát mẻ dưới vòm lá, sự pháttriển qua bốn mùa nhưng chủ yếu mùa lá tốt tươi cho bóng mát
Tả con vật: quan sát những nét tiêu biểu của hình dáng, hoạt động của nó
Cho nên, tôi luôn xác định, chỉ rõ cho học sinh quan sát đối tượng miêu chỉ tậptrung vào việc lựa chọn những hình ảnh, chi tiết, hoạt động đặc sắc, đặc trưng riêng Cóthể những đặc điểm riêng đó đối với người khác là bình thường nhưng đối với riêng em
là đặc biệt vì nó gắn bó với em bằng một kỷ niệm, một sự kiện nào đó
d) Sử dụng tranh ảnh để quan sát
Đối với văn miêu tả đồ dùng chủ yếu sử dụng là tranh ảnh, mẫu vật thật cho họcsinh quan sát như cái cặp, quyển sách, Tuy nhiên, nhiều đối tượng miêu tả không thểcho học sinh quan sát trực tiếp tại lớp, mà phải tự quan sát tại gia đình, ngoài xã hội (conlợn, cây chuối đang có buồng, con đường làng, vườn rau…) Vì vậy, khi hướng dẫn tạilớp, muốn gợi mở dẫn dắt có hiệu quả thì phải sử dụng tranh, ảnh giúp học sinh nhớ lạinhững điều đã quan sát từ trước, hiểu được phong tục tập quán cũng như lối sống củangười Việt Nam, biết bảo vệ môi trường sống… qua những bức tranh, những hình ảnhchân thực nhất mà giáo viên thu thập bằng cách quay video, chụp hình … đưa vào giáo
án Power Point liên quan đến bài học để trình chiếu lên cho HS quán sát Đó chính là cơ
sở để cho các em suy nghĩ, phân tích, tổng hợp lại các đặc điểm của sự vật và rèn luyệnlàm Tập làm văn Có như vậy, việc sử dụng tranh, ảnh mới đem lại hiệu quả
Trang 14Ví dụ: Khi yêu cầu học sinh tả con trâu thì tôi sưu tầm hình ảnh con trâu lúc gặm
cỏ, đang tắm dưới sông hay miêu tả cây đa ….để học sinh có thể tả một cách sinh độnghơn
Lưu ý: Một biện pháp tối ưu cho việc sử dụng tranh ảnh trong dạy văn miêu tả đó
là sử dụng công nghệ thông tin
Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh lập dàn ý bài văn miêu tả bằng cách sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực.
Lập dàn ý là một việc làm không thể thiếu của một bài văn miêu tả nói riêng
và các thể loại văn khác nói chung Nó giống như một cái sườn của bài văn để các
em dựa vào đó viết văn đủ ý, bài văn mạch lạc và theo một trình tự nhất định Nếu như học sinh lập được dàn ý đúng, đầy đủ thì coi như bài viết đã thành công một nửa.
Đầu tiên, cho học sinh nắm chắc bố cục bài văn miêu tả trong chương trình Tiểu học gồm ba phần: mở bài, thân bài, kết luận Riêng phần mở bài học sinh có thể lựa chọn gián tiếp hay trực tiếp; kết bài mở rộng hay không mở rộng.
sinh làm quen rút dàn ý từ những bài văn hoàn chỉnh cho trước.
Ví dụ : Bài Hoa học trò ( Tiếng Việt 4 )
- Dựa vào bài văn Hoa học trò của nhà văn Xuân Diệu, cho học sinh thảo
luận nhóm, thực hiện yêu cầu bài tập:
+ Xác định nội dung từng phần bài văn.
+ Nêu các ý chính của từng phần bài văn.
Sau khi các em thảo luận, trình bày trước lớp, giáo viên bổ cứu, đã hoàn chỉnh dàn ý của bài văn như sau:
- Mở bài: Giới thiệu màu đỏ nổi bật của hoa phượng, những tán hoa như muôn ngàn con bướm thắm.
- Thân bài:
+ Hoa phượng gắn bó với tuổi học trò, hoa phượng là hoa học trò.
+ Mùa xuân cây phượng xanh um, mát rượi.
+ Mùa hè đến hoa phượng bắt đầu nở.
Trang 15+ Hoa phượng nở bất ngờ.
- Kết bài: Hoa phượng nở chói lọi dưới mặt trời, kêu vang: hè đến rồi.
Sau khi các em hình thành dàn ý trên bài văn hoàn chỉnh, tôi giúp học sinh sử dụng triệt để kĩ thuật sơ đồ tư duy để hoàn thiện một số đề bài cụ thể.
Biện pháp 3 : Hướng dẫn học sinh viết các đoạn văn của bài văn miêu tả
Sau khi đã lập dàn ý, thì bước tiếp theo là tổ chức hướng dẫn học sinh hoàn thiệnbài văn, phát triển các ý của bài văn thành đoạn văn, bài văn
a) Hướng dẫn học sinh viết đoạn mở bài :
Mở bài của bài văn là một phần quan trọng trong cấu trúc bài văn miêu tả Mở bàihay hay dở sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới sự biểu đạt của chủ đề, sự thành bại của bài viết và
cả quá trình trình bày, khiến người đọc sẽ có được cảm hứng Mở bài cần đạt các yêucầu: tiếp xúc chủ đề và gây ấn tượng đẹp cho người đọc
Trong quá trình giảng dạy, tôi đã hướng dẫn các em viết mở bài bằng nhiều cáchkhông rập khuôn máy móc, tùy theo từng đối tượng học sinh để hướng dẫn viết mở bàitrực tiếp hay mở bài gián tiếp Mở bài trực tiếp là cách mở bài mà học sinh hay dùng, đặcbiệt là đối tượng học sinh học lực loại đạt
Trang 16Ví dụ : Khu vườn nhà em có nhiều cây ăn quả, trong đó em thích nhất là cây cam
b) Hướng dẫn học sinh viết đoạn thân bài
Đây là phần quan trọng nhất của bài làm Đối tượng (đồ vật, con vật, cây cối)được miêu tả một cách chi tiết theo một trình tự nhất định Phần này có thể là một đoạnhoặc nhiều đoạn Mỗi đoạn miêu tả một bộ phận của đồ vật, con vật hay một thời kì pháttriển của một loài cây Trong thân bài được chia ra nhiều ý, mỗi ý miêu tả một chi tiết của
Ví dụ : Với đề bài Tả cây bàng sân trường
Trên cơ sở các ý của dàn ý phần tả cây bàng qua bốn mùa, yêu cầu học sinh pháttriển thành đoạn văn :
-Mùa thu những chiếc lá vàng đỏ ối
- Đông sang, lá cây rụng hết
- Xuân về chồi non mới nhú
- Hè về tán lá xanh um
Để các em phát triển các ý hoàn chỉnh, tôi gợi ý các em bằng các câu hỏi :
+ Mùa thu, những chiếc lá chuyển màu gì ? Được so sánh với cái gì ?
+ Màu sắc có gì đẹp, hấp dẫn ? học sinh thường có trò chơi gì ?
+ Đông sang, lá cây thay đổi ra sao ? Nhìn vào cây bàng ta cảm giác thế nào ? câytrơ trọi lá so sánh được so sánh với các gì ?
Trang 17+ Xuân về cây hồi sinh ra sao ? các búp nhú ra giống như cái gì ? màu lá non rasao ?
+ Hè về, tán lá xanh um như thế nào? Được so sánh với cái gì ? Cảm giác ngồidưới tán lá như thế nào ? Những kỉ niệm dưới vòm lá ra sao? Cảnh vật xung quanh câybàng (nắng, gió, chim chóc) ra sao ?
Sau đây là đoạn văn hoàn chỉnh tả cây bàng qua bốn mùa của học sinh :
“Thu về, lá bàng chuyển sang màu đỏ ối như màu đồng, lũ trẻ chúng em thường đem những chiếc lá làm trò chơi xếp các con vật Đông sang, những chiếc lá vàng rơi lả tả khắp sân trường và để lại thân hình trơ trọi như những cánh tay gầy guộc nhưng trong lòng nó chứa đầy nhựa sống chuẩn bị cho một sự hồi sinh Khi mùa xuân xinh đẹp
về, cây bàng cựa mình thức giấc Trên những cành cây khẳng khiu, đã nhú ra những chồi non tươi mới, xòe ra như những búp tay của em bé Những chiếc lá non tơ óng mượt khoe dưới nắng xuân tươi mới Hè đến, cây bàng trở về dáng vẻ kiêu hãnh của nó Những tán lá xanh um che kín cả khoảng sân trường giống như những chiếc ô khổng lồ mát dịu che cho chúng em vui đùa sau những giờ ra chơi Chúng em thường quây quần bên gốc bàng để chơi Đâu đây, trên các vòm lá, những chú chim ríu rít gọi bạn như hòa chung vào niềm vui với chúng em Những tia nắng vàng xen qua kẽ lá lấp lánh tạo nên những hình thù lạ mắt Mỗi khi trực nhật, em thường tưới nước cho cây bàng mãi xanh tươi”.
c) Hướng dẫn học sinh viết đoạn kết bài:
Kết bài là phần hoàn thiện cuối cùng của bài văn miêu tả Nếu mở bài là lời chàongọt ngào đằm thắm, đầy quyến rũ mời bạn đến thăm khu vườn văn thì kết bài là lời nhắngửi, lưu lại ý tưởng của bài văn, mang theo cảm xúc sâu sắc, trong lòng còn lưu lại những
kí ức đẹp đẽ khi “du ngoạn” những cánh đồng đầy “ân tình”
Trong quá trình dạy học, tùy theo đối tượng học sinh tôi hướng dẫn các em vậndụng linh hoạt các kiểu kết bài Đối với học sinh có năng khiếu tôi thường định hướngviết kết bài mở rộng Thường các em kết bài theo kiểu bày tỏ cảm xúc với đối tượng miêu
tả, hay có ý thức chăm sóc, giữ gìn, biết ơn …
Kết bài theo kiểu miêu tả, với đề bài Tả cây phượng sân trường có em học sinh đã
viết: “ Cánh phượng hồng ngẩn ngơ, mùa hè đến trường khắc nỗi nhớ trên cây ” Lời bài hát “ Phượng hồng ”vang lên khiến lòng em mơn man cảm xúc khó tả Phượng đã tô điểm sân trường bằng những chùm hoa tươi thắm, tỏa bóng mát cho chúng em trong những giờ ra chơi Rồi mai đây xa phượng, em sẽ buồn và nhớ lắm bác Phượng già!”.
Trang 18Hay bài Tả cây đa, kết bài theo kiểu ý niệm mà có em viết lên nhưng chất chứa:
“Thời gian cứ thế trôi đi mang theo bao đổi thay của cuộc sống người dân quê em nhưng cây đa vẫn thủy chung gắn bó son sắt Dù ai đi xa vẫn không thể nào quên hình bóng cây đa đầu làng, nơi mỗi lần về, họ đều ra quán nước dưới gốc cây đa để trò chuyện uống miếng nước ngọt lành trong quán bà Ba Em mong cây đa mãi đứng sừng sững như vậy để bảo vệ, che chở xóm làng quê em”.
Hướng dẫn học sinh hoàn thiện bài văn là công đoạn quan trọng trong các tiết Tậplàm văn
Biện pháp 4: Hướng dẫn học sinh sử dụng kiến thức văn học qua phân môn Tập đọc
và các môn học khác để làm giàu vốn từ văn miêu tả
Khi các em có kĩ năng lập dàn ý chi tiết cho bài văn, nhưng làm thế nào học sinhphát triển các ý từ dàn ý thành bài văn hoàn chỉnh, đòi hỏi học sinh phải có vốn từ phongphú, biết lựa chọn từ ngữ thích hợp, gợi tả gợi cảm, các biện pháp tu từ… để câu văn sinhđộng, hấp dẫn
a) Sử dụng kiến thức văn học qua phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu
Vốn từ ngữ có ý nghĩa quan trọng đối với việc làm văn miêu tả Giúp học sinhtích luỹ vốn từ ngữ miêu tả và lựa chọn từ ngữ là vấn đề quan tâm của mọi giáo viên.Cách làm nhanh nhất là thông qua môn Tập đọc Tôi luôn tận dụng vốn quý này để tíchlũy thêm vốn từ cho các em bằng việc yêu cầu ghi lại những từ ngữ, câu văn hay vàocuốn sổ tay, tập đặt câu để hiểu, sử dụng chúng sáng tạo biến từ đó là vốn từ của mình.Dạy các bài tập đọc, giáo viên cần chỉ ra các từ ngữ miêu tả, có thể chọn trường hợp đặcsắc để phân tích cái hay, sự sáng tạo của nhà văn
Ví dụ: Khi dạy bài tập đọc “Con chuồn chuồn nước” tôi tập trung hướng dẫn và
chỉ ra cho các em những từ ngữ miêu tả về hình dáng chú chuồn chuồn như: ‘‘màu vàng trên lưng chú lấp lánh, bốn cánh mỏng như giấy bóng Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh như thủy tinh’’……Và không quên nhấn mạnh những từ ngữ miêu tả hoạt động con chuồn chuồn nước như : ‘‘tung cánh bay vọt lên chú bay lên cao và xa hơn’’.
Như vậy qua môn Tập đọc học sinh tích lũy được “ vốn liếng” từ không hề nhỏ.Ngoài ra cuối mỗi tiết Tập đọc tôi thường cho học sinh tìm những câu văn hay trong bài,mang tính nghệ thuật cao để các em đưa vào văn bản của mình như:
Con đen huyền, con trắng tuyết, con đỏ son, chân dịu dàng chùm đuôi cong
lướt thướt liễu rủ ( Đường đi Sa Pa)