Như chúng ta đã biết: Đảng và nhà nước ta hết sức quan tâm đến quá trình hình thành và phát triển của nghề công chứng thể hiện ở việc ban hành nhiều quy định pháp luật để làm cơ sở cho việc thực hiện hành nghề, hoạt động nghề nghiệp như: Nghị định số 752000NĐCP ngày 08122000 của Chính phủ, Luật Công chứng năm 2006, Luật Công chứng năm 2014 và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Vì Công chứng là một trong những dịch vụ công thiết thực, đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế và ổn định trật tự xã hội đặc biệt là trong quá trình hội nhập quốc tế của đất nước.Để đáp ứng kịp thời và mang lại hiệu quả tốt nhất cho các chủ thể tham gia trong lĩnh vực công chứng thì việc xã hội hóa hoạt động công chứng được xem là chủ trương tạo ra một bước ngoặt mới vô cùng quan trọng. Bước ngoặt đó đã góp phần đáp ứng kịp thời nhu cầu công chứng của các chủ thể tham gia công chứng đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức hành nghề công chứng tham gia cung cấp dịch vụ công góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế và ổn định trật tự xã hội.Qua quá trình áp dụng Luật Công chứng năm 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan vào thực tiễn cho thấy pháp luật về công chứng ở nước ta có đầy đủ tính ưu việt, phù hợp với quá trình phát triển kinh tế xã hội và quá trình hội nhập quốc tế. Bên cạnh những tính ưu việt đó thì Luật Công chứng năm 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan còn một số mặt hạn chế cần điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của các cá nhân, tổ chức.Với ý nghĩa đặc biệt quan trọng, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về điều kiện thành lập Văn phòng Công chứng là hết sức cần thiết, trên cơ sở nghiên cứu đó đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ công của Văn phòng Công chứng trên địa bàn. Chính vì lý do trên em chọn đề tài “Điều kiện thành lập Văn phòng công chứng, thực tiễn áp dụng – kiến nghị hoàn thiện pháp luật” làm báo cáo kết thúc học phần của mình.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC
DANH KHÁC
BÁO CÁO KẾT THÚC MÔN HỌC
(NGHỀ CÔNG CHỨNG VÀ CÔNG
CHỨNG VIÊN)
Đề tài: Điều kiện thành lập Văn phòng công chứng, thực tiễn áp
dụng – kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Trang 2
MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng ngiên cứu:
2.1 Mục đích nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
2.3 Đối tượng nghiên cứu
3 Cơ cấu của bài báo cáo:
II NỘI DUNG
1 Một số khái niệm về công chứng và tổ chức hành nghề công chứng:
1.1 Khái niệm công chứng
1.2 Khái niệm về tổ chức hành nghề công chứng
1.3 Sự ra đời của Văn phòng Công chứng
2 Lý luận pháp luật về điều kiện và quy trình thành lập Văn phòng công
chứng:
2.1 Điều kiện thành lập văn phòng công chứng
2.2 Quy trình thành lập
3 Thực tiễn áp dụng quy định về điều kiện thành lập Văn phòng công
chứng và những mặt khó khan hạn chế khi áp dụng
4 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện thành lập Văn phòng công
chứng
III KẾT LUẬN
IV DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3I MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu:
Như chúng ta đã biết: Đảng và nhà nước ta hết sức quan tâm đến quá trình hình thành và phát triển của nghề công chứng thể hiện ở việc ban hành nhiều quy định pháp luật để làm cơ sở cho việc thực hiện hành nghề, hoạt động nghề nghiệp như: Nghị định
số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ, Luật Công chứng năm 2006, Luật Công chứng năm 2014 và các văn bản pháp luật khác có liên quan Vì Công chứng là một trong những dịch vụ công thiết thực, đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế và ổn định trật tự xã hội đặc biệt là trong quá trình hội nhập quốc tế của đất nước
Để đáp ứng kịp thời và mang lại hiệu quả tốt nhất cho các chủ thể tham gia trong lĩnh vực công chứng thì việc xã hội hóa hoạt động công chứng được xem là chủ trương tạo ra một bước ngoặt mới vô cùng quan trọng Bước ngoặt đó đã góp phần đáp ứng kịp thời nhu cầu công chứng của các chủ thể tham gia công chứng đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức hành nghề công chứng tham gia cung cấp dịch vụ công góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế và ổn định trật tự xã hội
Qua quá trình áp dụng Luật Công chứng năm 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan vào thực tiễn cho thấy pháp luật về công chứng ở nước ta có đầy đủ tính ưu việt, phù hợp với quá trình phát triển kinh tế xã hội và quá trình hội nhập quốc tế Bên cạnh những tính ưu việt đó thì Luật Công chứng năm 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan còn một số mặt hạn chế cần điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn nhằm đáp ứng tối
đa nhu cầu của các cá nhân, tổ chức
Với ý nghĩa đặc biệt quan trọng, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về điều kiện thành lập Văn phòng Công chứng là hết sức cần thiết, trên cơ sở nghiên cứu đó đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ công của Văn phòng Công
chứng trên địa bàn Chính vì lý do trên em chọn đề tài “Điều kiện thành lập Văn phòng
công chứng, thực tiễn áp dụng – kiến nghị hoàn thiện pháp luật” làm báo cáo kết thúc
học phần của mình
2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu:
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của bài báo cáo này là làm sáng tỏ về mặt lý luận một cách có hệ thống
và toàn diện những vấn đề về tổ chức và điều kiện thành lập Văn phòng Công chứng, để
Trang 4từ đó góp phần giải quyết các vướng mắc về điều kiện thành lập Văn phòng Công chứng
ở nước ta hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức Văn phòng Công chứng, phân tích thực trạng pháp luật về điều kiện thành lập Văn phòng Công chứng Từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về điều kiện thành lập Văn phòng Công chứng
2.3 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các văn bản quy phạm pháp luật về điều kiện thành lập Văn phòng Công chứng
3 Cơ cấu của bài báo cáo:
Nội dung bài báo cáo gồm 4 phần chính:
3.1 Một số khái niệm về công chứng và tổ chức hành nghề công chứng
3.2 Lý luận pháp luật về điều kiện và quy trình thành lập Văn phòng Công chứng 3.3 Thực tiễn áp dụng quy định về điều kiện thành lập Văn phòng Công chứng và những mặt khó khăn, hạn chế khi áp dụng
3.4 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện thành lập Văn phòng Công chứng
Trang 5II NỘI DUNG
1 Một số khái niệm về công chứng và tổ chức hành nghề công chứng:
1.1 Khái niệm công chứng:
Việc xác định khái niệm công chứng là vấn đề quan trọng có vai trò lý luận cũng như thực tiễn ảnh hưởng đến mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động của các Phòng Công chứng cũng như Văn phòng Công chứng
Để có được một văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp đến lĩnh vực công chứng như đang áp dụng thì khái niệm về Công chứng được quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật công chứng 2014 được xem là khái niệm cơ bản và đầy đủ nhất về công chứng cho đến thời
điểm hiện tại Khoản 1 Điều 2 Luật công chứng 2014 quy định: “Công chứng là việc
công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản
từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi
là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” Khái niệm này về cơ bản đã giải quyết được những thiếu
sót của các văn bản quy phạm pháp luật trước đó về khái niệm công chứng Đã mở rộng phạm vi hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng, của Công chứng viên Nhằm tạo thuận tiện cho các cá nhân, tổ chức cũng như giảm áp lực công việc cho các cơ quan hành chính Bảo đảm tính chuyên môn hóa, chất lượng trong hoạt động công chứng, dịch thuật, phù hợp với năng lực và điều kiện thực tế của các tổ chức hành nghề công chứng, đồng thời bảo đảm tốt hơn cho các cá nhân, tổ chức trong việc lựa chọn và tiếp cận dịch
vụ công
1.2 Khái niệm về tổ chức hành nghề công chứng:
Ở nước ta hiện nay tổ chức hành nghề công chứng được quy định cụ thể tại Khoản
5 Điều 2 Luật công chứng 2014: “Tổ chức hành nghề công chứng bao gồm Phòng công
chứng và Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan”.
Phòng Công chứng và Văn phòng Công chứng có nhiệm vụ và trách nhiệm nghề nghiệp như nhau, tuy nhiên đây là hai tổ chức khác biệt Vì Phòng Công chứng là đơn vị
Trang 6sự nghiệp công lập thuộc sở Tư pháp còn Văn phòng Công chứng là tổ chức cung cấp dịch vụ công được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh
1.3 Sự ra đời của Văn phòng Công chứng
Văn phòng Công chứng là một trong hai hình thức tổ chức hành nghề công chứng được quy định tại Điều 23 của Luật Công chứng năm 2014 Mô hình tổ chức Văn phòng công chứng đã có từ rất lâu trên thế giới, còn ở Việt Nam, Văn phòng công chứng chỉ xuất hiện sau khi Luật Công chứng năm 2006 có hiệu lực thi hành Đây là lần đầu tiên Việt Nam thừa nhận một mô hình văn phòng công chứng, tồn tại song song bên cạnh Phòng Công chứng Văn phòng Công chứng được hình thành xuất phát từ những lý do sau đây:
Thứ nhất, thực tiễn hoạt động của công chứng trong thời gian qua cho thấy, nhu cầu công chứng của tổ chức cá nhân ngày một tăng cao trong khi sự phát triển của các Phòng công chứng không theo kịp, dẫn đến quá tải Công chứng viên là công chức nhà nước nên việc phát triển đội ngũ công chứng viên gặp rất nhiều khó khăn do thiếu biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất từ đó dẫn đến việc phát triển các tổ chức hành nghề công chứng không theo kịp sự phát triển về nhu cầu công chứng của tổ chức, cá nhân
Thức hai, việc quy định Văn phòng Công chứng do công chứng viên không phải là công chức nhà nước thành lập phù hợp với mô hình công chứng Latinh, phù hợp với xu thế phát triển của công chứng nhiều nước trên thế giới; công chứng viên không phải là công chức nhà nước nhưng do nhà nước bổ nhiệm, miễn nhiệm Văn phòng Công chứng không phải là cơ quan hành chính nhà nước Một số nước theo mô hình công chứng nhà nước thuần tuý trước đây cũng dần dần chuyển đổi và tồn tại cả hai mô hình công chứng nhà nước và công chứng hành nghề tự do như Trung Quốc, Nga, Ba Lan…
Xuất phát từ những lý do trên, Văn phòng công chứng chính thức được ra đời dưới
cơ sở pháp lý là Luật Công chứng 2006 và hiện nay là Luật Công chứng 2014
2 Lý luận pháp luật về điều kiện và quy trình thành lập Văn phòng Công chứng
2.1 Điều kiện thành lập Văn phòng Công chứng
Có thể thấy chủ trương xã hội hóa tổ chức hành nghề công chứng đang từng bước phát triển có hiệu quả, Chính phủ đã có những quy định và chính sách khuyến khích cho Văn phòng Công chứng thành lập và hoạt động phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đồng thời, các Văn phòng Công chứng thành thành lập tại các địa bàn có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn thì được hưởng chính sách ưu đãi Ngược lại, với Phòng Công chứng thì chỉ được thành lập tại những địa bàn chưa có điều kiện phát triển được Văn phòng Công chứng Quy định này cho thấy rõ chính sách khuyến khích cho hoạt động xã
Trang 7hội hóa hoạt động công chứng Tại Khoản 1 Điều 18 Luật công chứng 2014 quy định:
“Việc thành lập tổ chức hành nghề công chứng phải tuân theo quy định của Luật này và
phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt” và Khoản 3 Điều 18 Luật công chứng 2014 quy định: “Văn phòng công chứng thành lập tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của Chính phủ” Đối với Văn phòng
Công chứng được thành lập ở nơi dân cư ít, nền kinh tế phát triển chậm, những vùng khó khăn, nhằm giúp người dân có cơ hội tiếp xúc được với những giao dịch dân sự hay những quyền lợi mà mình được hưởng dưới sự bảo hộ của luật pháp và chính sách của nhà nước
Theo Điều 22 của Luật công chứng 2014 quy định về điều kiện thành lập Văn phòng Công chứng như sau:
Thứ nhất, “Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định Luật
công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đối với loại hình công
ty hợp danh Văn phòng công chứng phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên Văn phòng công chứng không có thành viên góp vốn”.
Thứ hai, “Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là Trưởng Văn
phòng Trưởng Văn phòng công chứng phải là công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng và đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên”.
Thứ ba, “Tên gọi của Văn phòng công chứng phải bao gồm cụm từ “Văn phòng
công chứng” kèm theo họ tên của Trưởng Văn phòng hoặc họ tên của một công chứng viên hợp danh khác của Văn phòng công chứng do các công chứng viên hợp danh thỏa thuận, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề công chứng khác, không được vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc”.
Thứ tư, “Văn phòng công chứng phải có trụ sở đáp ứng các điều kiện do Chính phủ
quy định” Cụ thể về điều kiện được quy định chi tiết tại Điều 17 Nghị định
29/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật công chứng: “1 Trụ sở
của Văn phòng công chứng phải có địa chỉ cụ thể, có nơi làm việc cho công chứng viên
và người lao động với diện tích tối thiểu theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc tại các đơn vị sự nghiệp, có nơi tiếp người yêu cầu công chứng và nơi lưu trữ hồ sơ công chứng; 2 Công chứng viên thành lập Văn phòng công chứng nộp các giấy tờ chứng minh về trụ sở của Văn phòng công chứng tại thời điểm đăng ký hoạt động Văn phòng công chứng; 3 Sở Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra việc đáp ứng các điều kiện về trụ sở của Văn phòng công chứng khi thực hiện đăng ký hoạt động cho Văn phòng công chứng”.
Trang 8Thứ năm, “Văn phòng công chứng có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo
nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác”.
Thứ sáu, “Văn phòng công chứng sử dụng con dấu không có hình quốc huy Văn
phòng công chứng được khắc và sử dụng con dấu sau khi có quyết định cho phép thành lập Thủ tục, hồ sơ xin khắc dấu, việc quản lý, sử dụng con dấu của Văn phòng công chứng được thực hiện theo quy định của pháp luật về con dấu”
Về Công chứng viên muốn thành lập Văn phòng Công chứng cũng được pháp luật quy định như sau:
Tại điểm b Khoản 1 Điều 17 Luật Công chứng năm 2014: Công chứng viên có
quyền “Tham gia thành lập Văn phòng công chứng hoặc làm việc theo chế độ hợp đồng
cho tổ chức hành nghề công chứng;”
Tại Khoản 1 Điều 29 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Công chứng viên đã
chuyển nhượng Văn phòng công chứng không được phép tham gia thành lập Văn phòng công chứng mới trong thời hạn 05 năm kể từ ngày chuyển nhượng.”
Khoản 3 Điều 31 Thông tư 01/2021/TT-BTP quy định chi tiết một số điều và biện
pháp thi hành luật công chứng: “Công chứng viên của Phòng công chứng đã nghỉ hưu
hoặc thôi việc theo nguyện vọng không quá một năm vẫn được giữ chức danh công chứng viên và được tham gia thành lập Văn phòng công chứng hoặc hành nghề tại Văn phòng công chứng đang hoạt động theo quy định của Luật Công chứng Thời hạn không quá một năm được tính từ ngày quyết định nghỉ hưu hoặc cho thôi việc có hiệu lực đến ngày Văn phòng công chứng nộp hồ sơ đề nghị đăng ký hành nghề và cấp Thẻ công chứng viên cho công chứng viên đó theo quy định tại Điều 4 của Thông tư này.”
2.2 Quy trình thành lập Văn phòng Công chứng
Điều 23 Luật công chứng năm 2014 quy định về thành lập và đăng ký hoạt động văn phòng công chứng:
“1 Các công chứng viên thành lập Văn phòng công chứng phải có hồ sơ đề nghị
thành lập Văn phòng công chứng gửi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định Hồ
sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng gồm đơn đề nghị thành lập và đề án thành lập Văn phòng công chứng, trong đó nêu rõ sự cần thiết thành lập, dự kiến về tổ chức, tên gọi, nhân sự, địa điểm đặt trụ sở, các điều kiện vật chất và kế hoạch triển khai thực hiện; bản sao quyết định bổ nhiệm công chứng viên tham gia thành lập Văn phòng công chứng.
2 Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Trang 93 Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định cho phép thành lập, Văn phòng công chứng phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi đã ra quyết định cho phép thành lập.
Nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng bao gồm tên gọi của Văn phòng công chứng, họ tên Trưởng Văn phòng công chứng, địa chỉ trụ sở của Văn phòng công chứng, danh sách công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng và danh sách công chứng viên làm việc theo chế độ hợp đồng của Văn phòng công chứng (nếu có).
4 Hồ sơ đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng gồm đơn đăng ký hoạt động, giấy tờ chứng minh về trụ sở của Văn phòng công chứng phù hợp với nội dung đã nêu trong đề án thành lập và hồ sơ đăng ký hành nghề của các công chứng viên hợp danh, công chứng viên làm việc theo chế độ hợp đồng lao động tại Văn phòng công chứng (nếu có).
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đăng ký hoạt động, Sở
Tư pháp cấp giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
5 Văn phòng công chứng được hoạt động công chứng kể từ ngày Sở Tư pháp cấp giấy đăng ký hoạt động.”
3 Thực tiễn áp dụng quy định về điều kiện thành lập Văn phòng công chứng và những mặt khó khăn, hạn chế khi áp dụng
Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu công chứng của người dân ngày càng nhiều và các hợp đồng, giao dịch ngày càng mang tính chất phức tạp hơn Những Phòng công chứng chuyên biệt được Nhà nước thành lập ngày càng trở nên quá tải trong công việc, Công chứng viên phải làm việc vất vả hàng ngày để giải quyết một khối lượng công việc khổng lồ nhưng vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu công chứng của người dân Chính vì
sự quá tải này đã nảy sinh ra những vấn đề tiêu cực trong hoạt động công chứng tại các Phòng công chứng chuyên trách như: “Cò” công chứng, công chứng viên không có thái
độ thiện cảm với người đi công chứng, dịch vụ không chú trọng việc chăm sóc người đi công chứng, thời gian công chứng lâu hơn so với quy định…
Bên cạnh đó, tại các cơ quan nhà nước kiêm nhiệm trong hoạt động công chứng (Đại
sứ quán, lãnh sự quán…), do không có chuyên viên chuyên trách nên hoạt động công chứng dường như không được thực hiện theo đúng nghĩa của nó Thực tiễn cho thấy, hầu hết các hợp đồng, giao dịch mà các cơ quan này chứng thực là không đạt yêu cầu Điều đó dẫn đến một thực trạng, việc công chứng hợp đồng, giao dịch tại các cơ quan này chủ yếu
Trang 10là chứng nhận về mặt hình thức, nhận dạng, xác định năng lực hành vi dân sự…mà không chú trọng đến nội dung của hợp đồng, giao dịch có hợp pháp hay không
Những bất cập nêu trên đã phần nào hạn chế sự phát triển của hoạt động công chứng tại nước ta, kéo theo đó là kìm hãm sự phát triển của các hoạt động xã hội khác liên quan đến công chứng, cần đến sự xác thực của hoạt động công chứng nhằm nâng cao tính bảo đảm trong hoạt động của mình Nhận thấy những hạn chế của hoạt động công chứng trong nước cũng như những ưu điểm vượt trội của những hoạt động công chứng thuộc hệ thống công chứng La-tinh, nhà nước ta đã quyết định cần phải thực hiện “xã hội hóa công chứng”, đưa công chứng đến gần hơn với nhu cầu của xã hội và nâng cao hơn nữa chất lượng của hoạt động này Vì vậy, ngày 29/11/2006 Luật Công chứng đã được Quốc hội khóa 11, kỳ họp thứ 10 thông qua có hiệu lực từ 01/07/2007 Luật Công chứng ra đời cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành đã khởi động hoạt động “xã hội hóa công chứng” tại Việt Nam, hàng loạt các Văn phòng công chứng tư nhân đã được thành lập hoạt động song song với các Phòng công chứng Nhà nước Nhằm đảm bảo các tổ chức hành nghề công chứng được thành lập và phân bố hợp lý tại các địa phương trên cả nước, đáp ứng được nhu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch của người dân một cách nhanh chóng và kịp thời, ngày 10/02/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 250/ QĐ-TTg thông qua Đề án Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam đến năm 2020 và ngày 17/02/2011 ban hành Quyết định số 240/ QĐ-TTg về Tiêu chí Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam đến năm 2020 đã đưa ra các tiêu chí quy hoạch cụ thể làm cơ sở cho các địa phương xây dựng Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đến năm 2020, bảo đảm mục tiêu đặt ra tại Quyết định 250/QĐ-TTg Thực hiện Đề án trên, tại các địa phương đều xây dựng Đề xuất quy hoạch phát triển các tổ chức hành nghề công chứng tại đại phương mình đến năm 2020, theo đó đảm bảo tại mỗi đơn vị cấp huyện đều có ít nhất một tổ chức hành nghề công chứng được thành lập và hoạt động phục vụ nhu cầu của người dân
Công tác “xã hội hóa công chứng” với việc thành lập các Văn phòng công chứng đã đem lại những hiệu quả đáng kể cho hoạt động công chứng tại Việt Nam, cụ thể: Chất lượng các dịch vụ pháp lý phục vụ người dân nâng lên một cách rõ rệt; trước đây khi chỉ
có các Phòng công chứng Nhà nước thì phải chờ đợi lâu, điều kiện vật chất tại nơi công chứng và thái độ làm việc của Công chứng viên kém, nhưng với sự ra đời của các Văn phòng công chứng, điều kiện vật chất phục vụ người dân trong lúc làm việc cũng như chờ đợi được chú trọng đầu tư, thái độ phục vụ nhẹ nhàng, thủ tục nhanh gọn, tiết kiệm thời gian cho người dân Bên cạnh đó, các Văn phòng công chứng hoạt động dưới hai hình thức là Doanh nghiệp tư nhân và Công ty hợp danh, tự thu chi về kinh tế đã giảm một