1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bình luận quy định về quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong Luật Phòng, chống tham những 2018 để phòng ngừa tham nhũng

13 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 6,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị: Trên cơ sở kế thừa tinh thần của Luật PCTN năm 2005, Điều 20 Luật PCTN năm 2018 đã quy định quy tắc ứng

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

MÔN: Luật Phòng, chống tham nhũng

Hà Nội, 2022

Trang 2

Mục lục

I, Phần mở đầu 1

II, Phần nội dung 1

1, Khái niệm về Quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn 1

2, Quy định của pháp luật PCTN hiện hành về quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn 2

(i), Về quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị 2

(ii), Về tặng quà và nhận quà tặng 4

(iii), Về kiểm soát xung đột lợi ích 5

(iv), Thẩm quyền ban hành quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn 6

3, Thực trạng việc thực hiện Quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn 7

(i), Thực trạng việc thực hiện Quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn 7

(ii), Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Quy tắc ứng xử của người có chức vụ,  quyền hạn trong việc chống tiêu cực, tham nhũng khu vực công 8

III, Phần tổng kết 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 3

I, Phần mở đầu

Luật phòng, chống tham nhũng (PCTN) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 20/11/2018 Chủ tịch nước ký Lệnh công bố ngày 04/12/2018 Luật có hiệu lực thi hành kể

từ ngày 01/07/2019

Về quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị: Trên cơ sở kế thừa tinh thần của Luật PCTN năm 2005, Điều 20 Luật PCTN năm 2018 đã quy định quy tắc ứng xử của người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nhằm phòng ngừa xung đột lợi ích, tham nhũng có thể xảy ra, được quy định trong Luật Doanh nghiệp, Luật Cán bộ, công chức…, tuy nhiên có chỉnh lý về mặt kỹ thuật đảm bảo tính hợp lý Song,

dù đã có những cải thiện rõ rệt và đã đạt được những hiệu quả nhất định trong công tác phòng, chống tham nhũng, nhưng trên thực tế, việc tổ chức thực hiện cũng như các cơ chế giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm vẫn còn thiếu sự nghiêm minh, chặt chẽ, do vậy chưa tạo được ý thức tuân thủ rộng rãi trong hành vi, ứng

xử công vụ của cán bộ, công chức, viên chức

Do nhận thấy đây là một vấn đề vô cùng quan trọng, đồng thời cũng là mong muốn được đi sâu tìm hiểu về các quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn Bằng kiến thức đã học ở môn Luật Phòng, chống tham nhũng, em xin phép được trình bày những hiểu biết của bản thân em về vấn đề trên thông

qua đề tài: “Em hãy bình luận quy định về quy tắc ứng xử của người có chức vụ,

quyền hạn trong Luật Phòng, chống tham những 2018 để phòng ngừa tham nhũng” Do kiến thức còn hạn chế nên việc sai sót và thiếu thông tin trong bài

làm có thể là điều không tránh khỏi Vì vậy em rất mong nhận được những sự đóng góp của thầy, cô để em có cái nhìn sâu sắc hơn về đề tài, đồng thời cũng là giúp em rút kinh nghiệm cho những bài tập lần sau

Em xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô trong tổ bộ môn!

II, Phần nội dung

1, Khái niệm về Quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn.

Quy tắc ứng xử là các chuẩn mực xử sự của cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội, bao gồm những việc phải làm hoặc không được làm phù hợp với pháp luật và đặc thù nghề nghiệp nhằm bảo đảm liêm chính, trách nhiệm, đạo đức công vụ1

1 Căn cứ khoản 1 Điều 20 Luật Phòng, chống tham nhũng 2018

Trang 4

Quy tắc ứng xử cũng là sự cụ thể hóa các quy định của pháp luật và các quy phạm đạo đức trong các tình huống cụ thể phát sinh trong hoạt động công

vụ Chính vì vậy, quy tắc ứng xử tạo ra những khuôn mẫu, chuẩn mực trong ứng

xử của cán bộ, công chức, viên chức Xây dựng và thực hiện đúng quy tắc ứng

xử cũng góp phần loại trừ nguyên nhân phát sinh tham nhũng trong hoạt động công vụ và là cơ sở để người dân giám sát việc thực thi công vụ của những người có chức vụ, quyền hạn

2, Quy định của pháp luật PCTN hiện hành về quy tắc ứng xử của người

có chức vụ, quyền hạn.

Quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn là một chế định mới được quy định trong Luật PCTN năm 2018 trên cơ sở tập hợp và hệ thống hóa một số nhóm quy định của Luật PCTN năm 2005; Luật Doanh nghiệp; Luật Cán

bộ, công chức Bên cạnh đó, những quy định về quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong Luật PCTN năm 2018 cũng đã có những sự chỉnh lý

để đảm bảo phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa xung đột lợi ích,

có thể lấy ví dụ về những sự điều chỉnh đó trong các nội dung như: quy tắc ứng

xử của người có chức vụ, quyền hạn; các quy định về tặng quà và nhận quà tặng; kiểm soát xung đột lợi ích Các quy định này giúp xây dựng và đảm bảo tính liêm chính trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị và là yếu tố tiên quyết giúp ngăn ngừa tham nhũng Cụ thể:

(i), Về quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Căn cứ theo Điều 20 Luật PCTN năm 2018 vè quy tắc ứng xử của người

có chức vụ, quyền hạn quy định:

“1. Người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội phải thực hiện quy tắc ứng xử, bao gồm các chuẩn mực xử sự là những việc phải làm hoặc không được làm phù hợp với pháp luật và đặc thù nghề nghiệp nhằm bảo đảm liêm chính, trách nhiệm, đạo đức công vụ.

2. Người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị không được làm những việc sau đây:

a) Nhũng nhiễu trong giải quyết công việc;

Trang 5

b) Thành lập, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, trừ trường hợp luật có quy định khác;

c) Tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, công việc thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc tham gia giải quyết;

d) Thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác

xã thuộc lĩnh vực mà trước đây mình có trách nhiệm quản lý trong thời hạn nhất định theo quy định của Chính phủ;

đ) Sử dụng trái phép thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị;

e) Những việc khác mà người có chức vụ, quyền hạn không được làm theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Doanh nghiệp và luật khác có liên quan.

3. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không được bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan,

tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho

cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.

4. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người

đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước hoặc để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề do người đó trực tiếp thực hiện việc quản

lý nhà nước.

5. Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng và người giữ chức danh, chức vụ quản lý khác trong doanh nghiệp nhà nước không được ký kết hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột; cho phép doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của doanh nghiệp mình; bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong doanh nghiệp hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho doanh nghiệp.”

Trang 6

Có thể thấy, pháp luật đã quy định rất cụ thể về cách ứng xử trên cơ sở kế thừa quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, Luật PCTN năm

2018 đã quy định quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nhằm phòng ngừa xung đột lợi ích và các hành vi tham nhũng có thể xảy ra, đồng thời cũng đã có sự dẫn chiếu đến các quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Cán bộ, công chức và các luật có liên quan để tránh sự chồng chéo, trùng lặp trên cơ sở có chỉnh lý về mặt kỹ thuật để đảm bảo tính hợp lý Hơn nữa, quy định trên cũng đã chỉ rõ những hành vi không được làm đối với những người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị cụ thể thông qua các quy định pháp luật Điều này là vô cùng thiết thực trong thực

tế áp dụng luật

Bên cạnh đó, các quy tắc ứng xử còn mang tính quy phạm, chuẩn mực, và

có tính áp đặt đối với các đối tượng trong phạm vi điều chỉnh Trong phạm vi một tổ chức, quy tắc ứng xử được thể hiện dưới dạng các quy định, quy chế áp dụng cho các nhân viên tại tổ chức đó Các quy định này sẽ là cơ sở cho việc thực hiện xây dựng bộ quy tắc tại đơn vị nếu có Các quy định này thường mang tính ổn định và khó thay đổi trong thời gian ngắn nên rất dễ bị lạc hậu và không theo kịp với các thay đổi hành vi ứng xử trong thực tế Chính vì vậy, các quy định cần đảm bảo tính định hướng và cho phép các đơn vị trong phạm vi điều chỉnh có khả năng phát triển các quy tắc ứng xử riêng và đảm bảo sự tương thích giữa chúng

Các quy tắc ứng xử được đề ra có thể được coi như một công cụ hoặc phương tiện quản lý các hành vi ứng xử trong một tổ chức và chính vì vậy việc xây dựng bộ quy tắc ứng xử chất lượng và hiệu quả cũng chính là một trong những nhiệm vụ của các nhà quản lý nhằm giúp họ điều hành tốt hoạt động tổ chức và đạt được các mục tiêu đã đề ra Đối với các tổ chức, việc áp dụng các quy tắc ứng xử hiệu quả có thể giúp họ tạo ra một môi trường làm việc lành mạnh, gây dựng được hình ảnh, thương hiệu tốt, đạt được hiệu quả kinh doanh nhờ vào hành vi và hành động chuẩn mực, có văn hóa và chuyên nghiệp trong công việc, trong giao tiếp, và trong quan hệ xã hội

(ii), Về tặng quà và nhận quà tặng.

Điều 22 Luật PCTN năm 2018 về tặng quà và nhận quà tặng đã quy định:

“1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được sử dụng tài chính công, tài sản công làm quà tặng, trừ trường hợp tặng quà vì mục đích từ thiện, đối ngoại và trong trường hợp cần thiết khác theo quy định của pháp luật.

Trang 7

2. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm

vi quản lý của mình.”

Luật PCTN năm 2018 đã quy định cụ thể hơn về việc tặng quà, theo đó,

cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được sử dụng tài chính công, tài sản công làm quà tặng, trừ trường hợp tặng quà vì mục đích từ thiện, đối ngoại và trong một số trường hợp cần thiết khác Đối với việc nhận quà tặng có liên quan đến công việc đang giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của người có chức vụ, quyền hạn cần phải cấm tuyệt đối để phòng ngừa tham nhũng, vì vậy, Khoản 2 Điều 22 Luật PCTN năm 2018 quy định cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình

(iii), Về kiểm soát xung đột lợi ích.

Khoản 8 Điều 3 Luật PCTN năm 2018 quy định: “Xung đột lợi ích là tình

huống mà trong đó lợi ích của người có chức vụ, quyền hạn hoặc người thân thích của họ tác động hoặc sẽ tác động không đúng đắn đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.”

Xung đột lợi ích có nhiều tình huống với mức độ ảnh hưởng khác nhau Khi có tình huống dẫn đến xung đột lợi ích, nếu xét thấy tiếp tục để người đó thực hiện nhiệm vụ, công vụ có thể dẫn đến tham nhũng hoặc việc giải quyết công việc thiếu khách quan thì cần phải có biện pháp kiểm soát tình huống đó Chính vì vậy, Điều 23 Luật PCTN về kiểm soát xung đột lợi ích đã có các quy định nhằm giải quyết vấn đề đó

Việc quy định xung đột lợi ích và kiểm soát xung đột lợi ích trong Luật PCTN năm 2018 đã khẳng định kiểm soát xung đột lợi ích là công cụ quan trọng nhằm phòng, chống tham nhũng hiệu quả, đảm bảo sự thống nhất trong nhận thức về xung đột lợi ích và kiểm soát xung đột lợi ích, thống nhất về cơ chế kiểm soát, thống nhất các biện pháp áp dụng và tổ chức thực hiện pháp luật về phòng ngừa, phát hiện và quản lý xung đột lợi ích

Việc nhận diện và giải quyết xung đột lợi ích có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác phòng, chống tham nhũng Các văn bản pháp luật hiện hành chưa đưa ra một khái niệm chính thức về xung đột lợi ích và kiểm soát xung đột lợi ích một cách có hệ thống, đặc biệt là trong khu vực nhà nước Việc quy định thành một chế định pháp luật về xung đột lợi ích trong Luật PCTN sẽ đảm bảo

Trang 8

sự thống nhất trong cách hiểu, biện pháp áp dụng và tổ chức thực hiện việc kiểm soát, xử lý vi phạm về xung đột lợi ích

Căn cứ theo quy định tại khoản 8 Điều 3 Luật PCTN năm 2018 có thể thấy, xung đột lợi ích có nhiều tình huống với mức độ ảnh hưởng khác nhau, có thể xảy ra trong hoạt động quản lý, điều hành của bất kỳ cơ quan, tổ chức, đơn

vị nào Do đó, nhằm kiểm soát xung đột lợi ích, Luật PCTN năm 2018 đã quy định người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nếu biết hoặc buộc phải biết nhiệm vụ, công vụ được giao có xung đột lợi ích thì phải báo cáo người có thẩm quyền để xem xét, xử lý Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khi phát hiện có xung đột lợi ích của người có chức vụ, quyền hạn thì phải thông tin, báo cáo cho người trực tiếp quản lý, sử dụng người đó để xem xét, xử lý2

Khi có tình huống dẫn đến xung đột lợi ích, nếu thấy việc tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, công vụ không bảo đảm tính đúng đắn, khách quan, trung thực thì người trực tiếp quản lý, sử dụng người có chức vụ, quyền hạn được áp dụng một trong các biện pháp sau:

- Giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của người có xung đột lợi ích;

- Đình chỉ, tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của người có xung đột lợi ích;

- Tạm thời chuyển người có xung đột lợi ích sang vị trí công tác khác.3

Ngoài ra, Luật PCTN năm 2018 đã có những quy định để ngăn chặn, kiểm soát các tình huống xung đột lợi ích nhằm phòng ngừa tham nhũng như các quy định tại Khoản 2, Khoản 3, Khoản 5 Điều 20; Khoản 2 Điều 22 của Luật

(iv), Thẩm quyền ban hành quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn.

Căn cứ theo quy định tại Điều 21 Luật PCTN 2018 Thẩm quyền ban hành quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị được quy định cụ thể trong Luật phòng chống tham nhũng 2018 như sau:

“1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội ban hành quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, ngành, lĩnh vực do mình quản lý.

2. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong ngành do mình quản lý.

Trang 9

3. Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy chính quyền địa phương.

4. Cơ quan trung ương của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội ban hành quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong tổ chức mình.”

Pháp luật đã quy định cụ thể đối với thẩm quyền ban hành quy tắc ứng xử của người có chức vụ quyền hạn Trong đó, các quy định đã chỉ rõ các cơ quan phải thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn của mình Các cơ quan có thẩm quyền cần đề ra các quy định đối với người có chức vụ, quyền hạn khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội phải thực hiện quy tắc ứng xử, bao gồm những việc phải làm hoặc không được làm, phù hợp với đặc thù nghề nghiệp nhằm bảo đảm liêm chính, trách nhiệm, đạo đức công vụ Quy tắc ứng

xử của người có chức vụ, quyền hạn phải được công khai để nhân dân biết và giám sát việc thực hiện

Việc xây dựng tốt các quy tắc ứng xử sẽ giúp cho việc quản lý về các tiêu chí, chuẩn mực về hành vi và cách ứng xử của các thành viên mà tổ chức đó mong muốn một cách có hiệu quả hơn Quy tắc ứng xử giúp các cơ quan, tổ chức hướng tới xây dựng được môi trường văn hóa của mình, tạo nên sự khác biệt và đảm bảo cho phát triển bền vững của tổ chức, cơ quan đó

3, Thực trạng việc thực hiện Quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn.

(i), Thực trạng việc thực hiện Quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn.

Kết quả thống kê kiểm tra việc thực hiện Quy tắc ứng xử của 48.411 cơ quan, tổ chức tại các bộ, ngành, tỉnh, thành phố trên cả nước qua 10 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng cho thấy việc quán triệt, thực hiện Quy tắc ứng xử ở nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị được triển khai khá nghiêm túc, đã phát hiện, xử lý kỷ luật 290 cán bộ, công chức, viên chức vi phạm Quy tắc ứng xử Riêng năm 2011, qua kiểm tra 4.720 cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện Quy tắc ứng xử, trong 10 năm thực hiện đã phát hiện và xử lý 3.376 cán bộ, công chức, viên chức vi phạm4 Cho đến thời điểm này, dù chưa có thống kê mới cập nhật

về hiệu lực và hiệu quả thực thi Quy tắc ứng xử trong khu vực công, nhưng nhận định chung cho thấy, tình trạng vi phạm quy định về Quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp còn khá phổ biến Việc tổ chức thực hiện cũng như các cơ chế giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm thiếu nghiêm minh, chặt chẽ, do vậy chưa

4 Số liệu được tổng hợp từ Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Luật PCTN 2005 của TTCP

Trang 10

tạo được ý thức tuân thủ rộng rãi trong hành vi, ứng xử công vụ của cán bộ, công chức, viên chức5

Có thể rút ra một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu hiệu lực, hiệu quả trong việc áp dụng Quy tắc ứng xử nhằm phòng ngừa xung đột lợi ích, chống tham nhũng trong khu vực công như sau:

Một là, việc xây dựng, ban hành Quy tắc ứng xử chưa thực sự được phổ

biến và coi trọng ở tất cả các cấp, các ngành Một số địa phương còn chưa có Quy tắc ứng xử (đặc biệt là các địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa như Cao Bằng, Tuyên Quang, Cà Mau, Bạc Liêu…)

Hai là, nội dung thể hiện trong Quy tắc ứng xử hiện nay còn tương đối

chung chung, hình thức, ít giá trị tham khảo đối với cán bộ, công chức, viên chức đặc biệt đối với các quyết định liên quan đến chống tiêu cực, tham nhũng

Ba là, thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, vẫn còn bất cập ở nhiều cơ

quan, đặc biệt ở cấp địa phương, tồn tại như một văn hóa quan liêu không dễ dàng thay đổi

Bốn là, xử lý vi phạm về đạo đức của cán bộ, công chức, viên chức vẫn

còn phải đối diện với nhiều lực cản từ văn hóa công sở tại các cơ quan nhà nước

(ii),  Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Quy tắc ứng xử  của người có chức vụ, quyền hạn trong việc chống tiêu cực, tham nhũng khu vực công.

Mục tiêu xây dựng nền công vụ liêm chính và nâng cao chất lượng thực thi công vụ đã trở thành kim chỉ nam xây dựng và kiện toàn bộ máy quản trị quốc gia, được khẳng định trong Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức; Luật Phòng, chống tham nhũng; Chiến lược quốc gia phòng chống tham nhũng đến năm 2020; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí… Không chỉ ở tầm vĩ mô,

để sát thực hơn với điều kiện cụ thể, nhiều cơ quan đã ban hành Quy tắc ứng

xử dành cho cán bộ, công chức cơ quan mình Tuy nhiên, thực tế triển khai áp dụng còn nhiều bất cập, hạn chế Để công cụ này thực sự phát huy hiệu lực, hiệu quả, như cách mà khu vực tư đã và đang thực hiện, cần xem xét một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, phải tiến hành xây dựng và ban hành Quy tắc ứng xử một cách

rộng khắp, toàn diện ở tất cả các cấp, ngành, các địa phương trên toàn quốc,

Ngày đăng: 03/06/2022, 16:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w