Khái niệm về quan hệ lợi ích kinh tế Quan hệ lợi ích kinh tể là sự thiết lập những tương tác giữa con người với con người, giữa các cộng đồng người, giữa các tổ chức kinh tế, giữa các bộ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
…… ***……
TIỂU LUẬN
Môn: Kinh tế chính trị Mác – Lênin
Đề tài: Xuất phát từ vai trò của người lao động, hãy đề xuất phương
thức thực hiện lợi ích của mình trong quan hệ lợi ích với người sử
dụng sức lao động, với cộng đồng và xã hội
Họ và tên: Bùi Yến Nhi Lớp: TRI115E (1+2.2/2122) CTTT.1 MSV: 2111210083 SBD: 56
Giảng viên giảng dạy: TS Vũ Thị Quế Anh
Hà Nội, 2022
Trang 2I Cơ sở lý luận
1 Vai trò của người lao động
1.1 Người lao động là gì
Người lao động là người làm công ăn lương Một người lao động đóng góp lao động và chuyên môn để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ và thường được thuê với hợp đồng làm việc để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể được đóng gói vào một công việc hay chức năng Người lao động hay lực lượng lao động đều mang vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế vì yếu tố con người là yếu tố kiên quyết của một quốc gia, đặc biệt trong thời
kì kinh tế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay
1.2 Vai trò của người lao động trong quá trình sản xuất
Đầu tiên, ta cần xác định quá trình sản xuất được cấu thành từ 3 bộ phận: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động
Theo C.Mác, sản xuất vật chất là hoạt động đầu tiên và cơ bản của con người Đây
là quá trình mà con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên để nhằm tạo gia của cải vật chất phục vụ cho cuộc sống của bản thân và phát triển xã hội
Trong quá trình sản xuất, C.Mác đã khẳng định vai trò to lớn của người lao động Theo C.Mác, yếu tố vật thể sẽ không có bất cứ tác dụng nào nếu không có một lực lượng
xã hội để tiến hành sản xuất vật chất Tư liệu sản xuất sẽ thành vô nghĩa nếu không có sự tác động của con người
Khi tham gia vào quá trình sản xuất, ngoài sức mạnh cơ bắp, con người còn có cả trí tuệ, toàn bộ ý thức tâm sinh lí và ý thức của họ Phần vật chất của con người trong lực lượng sản xuất được điều khiển bằng trí tuệ nên nó trở nên khéo léo , linh hoạt khiến con người trở thành yếu tố quyết định của lực lượng sản xuất Người lao động phải có sức mạnh cả về “trí lực” và “thể lực” Điều này tạo nên sức mạnh tổng hợp của con người
Trang 3Không chỉ tạo ra các công cụ lao động, con người còn luôn biết cải tạo đối tượng lao động C.Mác khẳng định: “Trong tất cả những công cụ sản xuất thì lực lượng sản xuất hùng mạnh nhất là bản thân giai cấp cách mạng
Khẳng định trên của C Mác là hoàn toàn đúng đắn vì suy cho hầu hết các tư liệu sản xuất chủ yếu là sản phẩm lao động của con người, do con người tạo ra và không ngừng đổi mới Ngoài ra, tư liệu sản xuất đặc biệt là công cụ lao động sẽ phản ánh khả năng chinh phục tự nhiên của con người Trong mỗi thời kỳ, giai đoạn khác nhau sẽ có những giai cấp nhất định đóng vai trò thiết yếu trong lực lượng lao động chủ yếu của xã hội Như vậy, C.Mác đã cho chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của con người trong quá trình sản xuất cũng như trong quá trình hình thành và phát triển văn hóa-lịch sử Từ đó hình thành quan điểm đúng đắn về vai trò của cong người, điều này có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc nhận thức và phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay
1.3 Vai trò của người lao động trong quá trình sản xuất qua các giai đoạn phát triển từ nền kinh tế nông nghiệp đến kinh tế tri thức
1.3.1 Trong nền kinh tế nông nghiệp
Trong thời kỳ phong kiến, tức là chế độ địa chỉ bóc lột nông dân: Địa chủ chiếm tư liệu sản xuất, tức là ruộng đất, dụng cụ, nhưng không cày cấy Nông dân phải mướn ruộng đất từ địa chủ, nộp tô cho địa chủ nhưng luôn nghèo khó, quanh năm làm việc Địa chủ thì không cần làm gì, bốc lột sức lao động của nông dân, sống trong giàu sang phú quý Đây là một chế độ không công bằng Nông dân thì mãi nghèo khó, chỉ lo kiếm đủ ăn còn địa chủ thì chỉ lo bòn rút sức lao động của nông dân Hai giai cấp đều không lo nâng cao sản xuất mà chỉ lo thu lợi về bản thân Trong giai đoạn này, nông dân thì sản xuất một cách rời rạc, địa chủ thì bóc lột một cách tàn tệ
Trong thời kỳ tư bản, nổi bật là nền sản xuất tư bản chủ nghĩa trọng nông nghiệp Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp nổi bật lên với chế độ độc quyền ruộng đất Chế độ độc quyền ruộng đất đã ngăn cản tự do cạnh tranh trong nông nghiệp Khi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa xuất hiện, nông nghiệp tư bản chủ nghĩa chia làm 3
Trang 4giai cấp chủ yếu: địa chủ, nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp, công nhân nông nghiệp làm thuê
1.3.2 Trong nền kinh tế công nghiệp
Về phương thức lao động, là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa càng cao Công nhân là một phát minh của thời đại mới
Những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột về giá trị thặng dư Đây là một trong những đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân dưới chế độ tư bản chủ nghĩa nên C.Mác và Ph.Ăngghen còn gọi giai cấp công nhân là giai cấp vô sản
1.3.3 Trong nền kinh tế tri thức
Trong thời kì này, nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hóa, nhu cầu về sự sáng tạo, đổi mới, học tập được nâng cao Hoạt động trực tiếp tạo ra sản phẩm không còn
là công việc của riêng người lao động mà là của cả một bộ phận bao gồm quản lý sản xuất, kỹ sư,
Mặc dù đã có nhiều máy móc, thiết bị hỗ trợ con người trong quá trình sản xuất nhưng xét cho cùng vai trò của con người vẫn vô cùng quan trọng Như C.Mác đã nói
“Thiên nhiên không chế tạo ra máy móc, đầu máy xe lửa, đường sắt, điện báo, Tất cả những cái đó đều là những cơ quan của bộ óc con người, do bàn tay con người tạo nên, đều là sức mạnh đã vật hóa của tri thức.”
1.3.4 So sánh tổng quát
Xuyên suốt quá trình phát triển, ta nhận thấy lao động quản lý dần chiếm ưu thế hơn
so với lao động sản xuất trực tiếp Trước kia người sản xuất và người quản lý là một, tuy nhiên cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, người sản xuất và người quản lý ngày càng tách rời, sự khác biệt thành đối lập gay gắt Nhưng cùng với sự phát triển và quá trình tri thức hóa, mối quan hệ giữa người lao động sản xuất và nhà quản lý đã có chiều hướng tích cực hơn
Trang 52 Quan hệ lợi ích kinh tế
2.1 Khái niệm về quan hệ lợi ích kinh tế
Quan hệ lợi ích kinh tể là sự thiết lập những tương tác giữa con người với
con người, giữa các cộng đồng người, giữa các tổ chức kinh tế, giữa các bộ phận
hợp thành nền kinh tế, giữa con người với tổ chức kinh tế, giữa quốc gia với phần
còn lại của thế giới nhằm mục tiêu xác lập các lợi ích kinh tế trong mối liên hệ với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của
một giai đoạn phát triển xã hội nhất định
Như vậy, quan hệ lợi ích kinh tế có biểu hiện hết sức phong phú, quan hệ đỏ
có thể là các quan hộ theo chiều dọc, giữa một tố chức kinh tế với một cá nhân
trong tổ chức kinh tế đó Cũng có thể theo chiều ngang giữa các chủ thể, các cộng
đồng người, giữa các tổ chức, các bộ phận hợp thành nền kinh tế khác nhau Trong
điều kiện hội nhập ngày nay, quan hệ lợi ích kinh tế còn phải xét tới quan hệ giữa
quốc gia với phàn còn lại của thế giới
2.2 Các quan hệ lợi ích kinh tế cơ bản trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường có vô số các quan hệ lợi ích kinh tế gắn với các chủ thể khác nhau, ở đây đề cập một số loại quan hệ lợi ích cơ bản, cụ thể:
2.2.1 Quan hệ lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động
Người lao động là người có đủ thể lực và trí lực để lao động, tức là có khả năng lao động Khi họ bán sức lao động sẽ nhận được tiền lương (hay tiền công) và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động Bản chất của tiền lương là giá cả của hàng hóa sức lao động, chỉ đủ để tái sản xuất sức lao động
Người sử dụng lao động là chủ doanh nghiệp (nhà tư bản trong CNTB), cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động
Là người trả tiền mua hàng hóa sức lao động nên người sử dụng lao động có quyền tổ chức, quản lý quá trình làm việc của người lao động
Trang 6Lợi ích kinh tế của người sử dụng lao động thể hiện tập trung ở lợi nhuận mà họ thu được trong quá trình kinh doanh Lợi ích kinh tế của người lao động thể hiện tập trung ở thu nhập (trước hết là tiền lương, tiền thưởng) mà họ nhận được từ việc bán sức lao động của mình cho người sử dụng lao động Lợi ích kinh tế của người lao động và người sử dụng lao động có quan hệ chặt chẽ, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau
Sự thống nhất về lợi ích kinh tế giữa người lao động và người sử dụng lao động thể hiện: nếu người sử dụng lao động thực hiện các hoạt động kinh tế trong điều kiện bình thường
họ sẽ thu được lợi nhuận, thực hiện được lợi ích kinh tế của mình; đồng thời, họ sẽ tiếp tục sử dụng lao động nên người lao động cũng thực hiện được lợi ích kinh tế của mình vì
có việc làm, nhận được tiền lương Ngược lại, nếu người lao động tích cực làm việc, lợi ích kinh tế của họ được thực hiện thông qua tiền lương được nhận, đồng thời, góp phần vào sự gia tăng lợi nhuận của người sử dụng lao động Vì vậy, tạo lập sự thống nhất trong quan hệ lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động là điều kiện quan trọng thực hiện lợi ích kinh tế của cả hai bên
Tuy nhiên, quan hệ lợi ích kinh tế giữa người lao động và người sử dụng lao động còn có mâu thuẫn Tại một thời điểm nhất định, thu nhập từ các hoạt động kinh tế là xác định nên lợi nhuận của người sử dụng lao động tăng lên thì tiền lương của người lao động giảm xuống và ngược lại Vì lợi ích của mình, người sử dụng lao động luôn tìm cách cắt giảm tới mức thấp nhất các khoản chi phí trong đó có tiền lương của người lao động để tăng lợi nhuận Tuy nhiên, tiền lương là điều kiện để tái sản xuất sức lao động nên mức tiền lương thấp nhất người sử dụng lao động trả cho người lao động phải đủ để người lao động sống
ở mức tối thiểu Vì lợi ích của mình, người lao động sẽ đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, bãi công Nếu mâu thuẫn không được giải quyết hợp lý sẽ ảnh hưởng xấu tới các hoạt động kinh tế
Để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình, người lao động và người sử dụng lao động đã thành lập các tổ chức riêng Công đoàn là tổ chức quan trọng nhất bảo vệ quyền lợi người lao động và ở Việt Nam đó là Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam Bên cạnh đó còn có nhiều
tổ chức khác tham gia hoạt động này như: Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Trang 7Việt Nam phát triển kinh tế thị trường chưa lâu và thị trường lao động Việt Nam chưa thật
sự phát triển Để bảo vệ người lao động, Nhà nước đã quy định mức tiền lương tối thiểu
và nhiều quy định khác Khi mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động dẫn đến đình công, bãi công, Nhà nước, Công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội đã tích cực tham gia và giải quyết hiệu quả các mâu thuẫn, góp phần ổn định doanh nghiệp
và ổn định xã hội
2.2.2 Quan hệ lợi ích giữa những người sử dụng lao động
Những người sử dụng lao động cũng có quan hệ lợi ích với nhau Trong cơ chế thị trường, những người sử dụng lao động vừa là đối tác, vừa là đối thủ của nhau, từ đó tạo ra sự thống nhất và mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa họ Những người sử dụng lao động liên kết và cạnh tranh với nhau trong ứng xử với người lao động, với những người cho vay vốn, cho thuê đất, với nhà nước, trong chiếm lĩnh thị trường
Trong cơ chế thị trường, mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa những người sử dụng lao động làm cho họ cạnh tranh với nhau quyết liệt Hệ quả tất yếu là các các nhà doanh nghiệp có giá trị cá biệt cao hơn giá trị xã hội và các rủi ro khác bị thua lỗ, phá sản bị loại bỏ khỏi thường trường Đồng thời, những người thu được nhiều lợi nhuận sẽ phát triển nhanh chóng
Những người sử dụng lao động không chỉ cạnh tranh trong cùng ngành, mà còn cạnh tranh giữa các ngành, bằng việc di chuyển vốn (tư bản) từ ngành này sang ngành khác Từ
đó hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, tức là những người sử dụng lao động đã chia nhau lợi nhuận theo vốn đóng góp Sự thống nhất và mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa những người sử dụng lao động biểu hiện tập trung ở lợi nhuận bình quân mà họ nhận được,
Sự thống nhất về lợi ích kinh tế làm cho những người sử dụng lao động liên kết chặt chẽ với nhau, hỗ trợ lẫn nhau Người sử dụng lao động có các nghiệp đoàn, hội nghề nghiệp riêng của mình như Hội doanh nhân tư nhân Việt Nam, Hiệp hội các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, Hiệp hội da giây Việt Nam, Hiệp hội dệt may Việt Nam Sự liên kết giữa người sử dụng lao động trong từng lĩnh vực đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao vị thế, bảo vệ lợi ích kinh tế của họ Những người sử dụng lao động đã trở thành
Trang 8đội ngũ doanh nhân, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Họ cần được tôn vinh, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển
2.2.3 Quan hệ lợi ích giữa những người lao động
Trong nền kinh tế thị trường, nhiều người muốn bán sức lao động Để thực hiện lợi ích kinh tế của mình, người lao động không chỉ phải quan hệ với người sử dụng lao động, mà còn phải quan hệ với nhau Nếu có nhiều người bán sức lao động, người lao động phải cạnh tranh với nhau, Hậu quả là tiền lương của người lao động bị giảm xuống, một bộ phận người lao động bị sa thải Nếu những người lao động thống nhất được với nhau, họ
có thể thực hiện được các yêu sách của mình (ở một chừng mực nhất định) đối với giới chủ (những người sử dụng lao động)
Ở Việt Nam hiện nay, nhiều người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có nguồn gốc xuất thân từ nông thôn nên quan hệ họ hàng, đồng hương có ý nghĩa nhất định trong giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế giữa họ với nhau Nhìn chung, người lao động ít có xung đột về lợi ích kinh tế Nếu có, họ có thể thương lượng dễ dàng với nhau
2.2.4 Quan hệ giữa lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm và lợi ích xã hội
Trong cơ chế thị trường, cá nhân tồn tại dưới nhiều hình thức Người lao động, người sử dụng lao động đều là thành viên của xã hội nên mỗi người đều có lợi ích cá nhân và có quan hệ chặt chẽ với lợi ích xã hội Nếu người lao động và người sử dụng lao động làm việc theo đúng các quy định của pháp luật và thực hiện được các lợi ích kinh tế của mình thì họ đã góp phần phát triển nền kinh tế, thực hiện lợi ích kinh tế của xã hội Khi lợi ích kinh tế của xã hội được thực hiện, xã hội phát triển sẽ tạo lập môi trường thuận lợi để người lao động và người sử dụng lao động thực hiện tốt hơn các lợi ích kinh tế của mình Ngược lại, nếu giữa người lao động và người sử dụng lao động này sinh mâu thuẫn không giải quyết được; hoặc người lao động và người sử dụng lao động cộng tác với nhau là hàng giả, hàng nhái, trốn thuế thì lợi ích kinh tế của xã hội sẽ bị tổn hại Biểu hiện là nền kinh tế chậm phát triển, chất lượng cuộc sống của người dân chậm được cải thiện
Từ đó ảnh hưởng xấu đến lợi ích kinh tế của các chủ thể, trong đó có lợi ích kinh tế của người lao động và người sử dụng lao động
Trang 9Sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, xã hội quyết định sự tồn tại, phát triển của cá nhân nên lợi ích xã hội đóng vai trò định hướng cho lợi ích cá nhân và các hoạt động thực hiện lợi ích cá nhân Lợi ích xã hội là cơ sở của sự thống nhất giữa các lợi ích cá nhân, tạo ra
sự thống nhất trong hoạt động của các chủ thể khác nhau trong xã hội Ph Ăngghen đã từng khẳng định: “Ở đâu không có lợi ích chung thì ở đó không thể có sự thống nhất về mục đích và cũng không thể có sự thống nhất về hành động được” Quan hệ lợi ích giữa các chủ thể trên cho thấy, lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội có quan hệ nhiều chiều
Các cá nhân, tổ chức hoạt động trong cùng ngành, cùng lĩnh vực, liên kết với nhau trong hành động để thực hiện tốt hơn lợi ích riêng (lợi ích cá nhân, tổ chức) của họ hình thành nên các hiệp hội ngành nghề (Hiệp hội Xuất khẩu lao động Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội (Hội nông dân Việt Nam), các nhóm dân cư chung một số lợi ích theo vùng, theo sở thích (Hội nuôi chim cảnh, cá cảnh) Các cá nhân, tổ chức hoạt động trong các ngành, lĩnh vực khác nhau nhưng có mối liên hệ với nhau, liên kết với nhau trong hành động để thực hiện tốt hơn lợi ích riêng mình hình thành nên “nhóm lợi ích” Đó là mô hình liên kết giữa 4 nhà trong nông nghiệp: nhà nông nhà doanh nghiệp nhà khoa học -nhà nước; mô hình liên kết trên thị trường -nhà ở, -nhà doanh nghiệp kinh doanh bất động sản - ngân hàng thương mại - người mua nhà
“Lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” nếu phù hợp với lợi ích quốc gia, không gây tổn hại đến các lợi ích khác cần được tôn trọng, bảo vệ và tạo điều kiện thực hiện vì đất nước có thêm động lực phát triển; ngược lại, khi chúng mâu thuẫn với lợi ích quốc gia, làm tổn hại các lợi ích khác thì cần phải ngăn chặn
Trong thực tế, “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” có sự tham gia của công chức, viên chức hoặc các cơ quan công quyền sẽ tác động tiêu cực đến lợi ích xã hội và các lợi ích kinh tế khác vì quyền lực nhà nước sẽ bị lạm dụng và phục vụ cho lợi ích của các cá nhân Tuy nhiên, “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” tiêu cực thường không lộ diện Vì vậy, việc chống lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” tiêu cực vô cùng khó khăn Tuy nhiên, bảo đảm sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội đòi hỏi việc chống lợi ích nhóm” và
“nhóm lợi ích” tiêu cực phải được thực hiện quyết liệt, thường xuyên
Trang 10II Một số đề xuất phương thức thực hiện lợi ích của mình trong quan hệ lợi ích với người sử dụng sức lao động, với cộng đồng và xã hội
1 Quan điểm
Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong các doanh
nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng góp phần ổn định môi trường đầu
tư, bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững và thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội Trong bối cảnh Việt Nam tham gia hội nhập ngày càng sâu rộng với nền
kinh tế thế giới và việc tuân thủ các tiêu chuẩn lao động quốc tế đòi hỏi cần phải
có mô hình QHLĐ thích hợp nhằm phát huy quyền của NLĐ trong việc thành
lập, gia nhập tổ chức đại diện của mình tại doanh nghiệp
Sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật về lao động, luật công đoàn phù hợp
với tiêu chuẩn lao động quốc tế và các cam kết quốc tế; đổi mới nâng cao hiệu
lực, hiệu quả của quản lý nhà nước về lao động và quan hệ lao động phù hợp với
xu thế phát triển
Đổi mới tổ chức, hoạt động của Công đoàn Việt Nam, đáp ứng yêu cầu
của tình hình mới; tạo điều kiện về nguồn lực đủ mạnh để thực hiện hiệu quả các
hoạt động đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của
NLĐ, thu hút người lao động tham gia công đoàn Đồng thời thực hiện quản lý
tốt sự ra đời, hoạt động của các tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp
Phát huy vai trò của các tổ chức đại diện của cộng đồng doanh nghiệp và
đội ngũ doanh nhân trong việc tập hợp, phản ánh ý kiến, nguyện vọng của đội
ngũ doanh nhân; tăng cường hợp tác, tham vấn, đối thoại với các cơ quan quản
lý nhà nước Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho các hiệp hội và hỗ trợ nâng
cao năng lực cho các hiệp hội doanh nghiệp hoạt động
2 Giải pháp trong thời gian tới
2.1 Hoàn thiện thể chế, pháp luật lao động và quan hệ lao động
Tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật về lao động, pháp luật công đoàn,
phù hợp với lộ trình và kế hoạch phê chuẩn các công ước của ILO của Việt
Nam; xác lập rõ quyền của NLĐ, quyền của NSDLĐ trong việc gia nhập và
thành lập tổ chức của họ; thừa nhận quyền được tham gia tổ chức và quyền