- KH xem xét việc thực hiện những hứa hẹn đưa ra trong quá trình giao tiếp ban đầu - Những lời giới thiệu đầu tiên để lại ấn tượng quan trọng cho mối quan hệ - KH đánh giá mức độ phù hợp
Trang 1CÂU HỎI ÔN TẬP QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG
CHƯƠNG 1 Chương 1:
I Tổng quan về mối quan hệ:
1 Nêu các giai đoạn phát triển của mối quan hệ:
Mối quan hệ thay đổi theo thời gian qua 5 giai đoạn:
**** Giai đoạn 1: Nhận biết
- Giai đoạn này bắt đầu khi mỗi bên chú ý đến phía bên kia như là một đối tác tiềm năng
- Thu thập thông tin về nhau qua nhiều nguồn và bằng nhiều phương thức
- Chưa có nhiều tương tác và cũng chưa có định hướng tương lai rõ ràng
*** Giai đoạn 2: Thăm dò
- Giai đoạn này bắt đầu khi mỗi bên nhận ra sức hấp dẫn của nhau
- Có nhiều tương tác thương lượng => cần trao đổi thông tin sự đối ứng trong quan hệ
- Định hướng tương lai chưa rõ ràng và sự hợp tác còn hạn chế
- Trong quá trình tương tác, các chuẩn mực, vai trò và khuôn mẫu mong đợi vẫn còn phức tạp
- KH xem xét việc thực hiện những hứa hẹn đưa ra trong quá trình giao tiếp ban đầu
- Những lời giới thiệu đầu tiên để lại ấn tượng quan trọng cho mối quan hệ
- KH đánh giá mức độ phù hợp hoặc thoả mãn của quan hệ:
=> Mức độ thoả mãn trong giai đoạn này tương đối thấp KH chưa có nhiều trải nghiệm với các
SP của nhà cung cấp
=> Sức hấp dẫn của NCC tuỳ thuộc vào những trải nghiệm của KH với các NCC thay thế những khác biệt giữa các NCC
=> Chi phí chuyển đổi tương đối thấp
=> Sự thấu cảm giữ vai trò quan trọng
*** Giai đoạn 3: Phát triển
- Việc mua gia tăng nhanh chóng
- Các bên tiếp tục hấp dẫn nhau; các hoạt động tương tác và thương lượng vẫn tiếp tục
- Các chuẩn mực và mong đợi cụ thể và chi tiết hơn các bên dễ dàng đánh giá tình huống hơn
- KH hiểu biết về SP của nhà cung cấp phát triển những lợi thế trong các cung ứng của nhà cung cấp
- Sự thoã mãn của KH tăng
- Sự tương thuộc gia tăng và có nhiều nguồn lực được đem ra trao đổi hơn
- Nhà cung cấp cần gia tăng hiệu quả của quan hệ hơn là uy tín hay hình ảnh của mình
Trang 2- Mức độ cam kết của KH tuỳ thuộc vào giá trị mà họ nhận được
- Khả năng huỷ bỏ quan hệ vẫn còn tương đối cao trong hoặc cuối giai đoạn này → đầu tư cho quan hệ là rất rủi ro cần nhiều hoạt động thử nghiệm và kiểm tra mối quan hệ
*** Giai đoạn 4: Bão hòa:
- Việc mua tăng cao và quan hệ đạt được sự cam kết sự tương thuộc niềm tin và tôn trọng
ở mức độ cao nhất
- Sức hấp dẫn của mối quan hệ được cải thiện không có nhiều thay đổi trong hành vi hay việc mua quan hệ ở mức tốt nhất
- Nhiều nguồn lực được trao đổi bao gồm những nguồn mang tính cá nhân cao và trừu tượng
- Các vấn đề tiềm ẩn được thảo luận cởi mở công bằng và tìm cách đạt đến một giải pháp
có tính xây dựng
- Nhà cung cấp xác định những KH lý tưởng
- Sự thoã mãn của KH tăng trên tất cả các khía cạnh so với giai đoạn phát triển
- Chi phí chuyển đổi tăng; KH quen thuộc với các chính sách của nhà cung cấp
- Các yếu tố môi trường xã hội và phi xã hội có thể đóng góp cho sự ổn định của mối quan hệ
*** Giai đoạn 5: Suy thoái
Giai đoạn này bắt đầu ngay khi các giao dịch giảm giai đoạn này cũng có thể bắt đầu ngay sau giai đoạn thăm dò phát triển hay bão hoà
2 So sánh mối quan hệ yếu, thân thiết giữa KH và nhà cung cấp:
3 Tại sao sự đối ứng, niềm tin và cam kết là ba thành phần quan trọng của một mối quan hệ có chất lượng ? Ví dụ và đối chứng
tảng, là một chuẩn mực đạo đức
Trang 3- Ý định tiếp tục hay dừng lại một mối quan hệ phụ thuộc vào niềm tin và sự cam kết.
Đây là 2 yếu tố không thể nào bắt buộc phát triển được, nếu như mối quan hệ thực sự có giá trị với các bên, chúng sẽ tự phát triển
Nghiên cứu về mối quan hệ thường coi niềm tin và cam kết chính là cốt lõi của một mối quan hệ thành công, có chất lượng cao
Để nhận ra mối quan hệ chặt chẽ giữa khách hàng và nhà cung cấp, sự tin tưởng lẫn nhau sẽ cần phát triển để có thể đầu tư nhiều hơn vào mối quan hệ và có thể trao đổi nhiều ‘nguồn lực’ cá nhân hơn Các cách mà cả hai bên đầu tư nỗ lực vào mối quan
hệ có thể mang lại những hậu quả tích cực cho sự cam kết; cam kết về cấu trúc cũng như cá nhân và đạo đức có thể tăng lên
Ví dụ: Hãng hàng không VNA phát hành thẻ thành viên Lotus Smiles các hạng với cam kết mang lại lợi ích nhiều hơn tốt hơn cho khách hàng Khách hàng tin tưởng, dành nhiều thời gian, tiền bạc cho VNA nhằm duy trì mối quan hệ khách hàng thân thiết qua thẻ thành viên Đây là một dạng của cam kết cá nhân Mối quan hệ giữa khách hàng và VNA ngày càng trở nên thân thiết, khi khách hàng cảm thấy niềm tin đặt đúng nơi, và VNA thì thu về giá trị khách hàng cao hơn
4 Làm rõ sự khác biệt giữa CRM và marketing quan hệ:
liên quan đến chiến lược quản trị các mối quan
của các công nghệ phù hợp
Là quá trình tạo dựng, duy trì, và làm gia tăng những mối quan hệ bền chắc, dựa vào giá trị với các KH và các bên hữu quan (nhân viên, cổ đông, nhà đầu tư, nhà phân phối )
CRM đòi hỏi một triết lý và văn hoá kinh doanh định hướng KH để trợ giúp các quá trình phục vụ, bán hàng và marketing hiệu quả
Marketing quan hệ được thực thi thông qua
hệ thống CRM
CRM là một nội dung của Marketing quan hệ CRM tập trung vào những thành phần tác nghiệp hơn là Marketing quan hệ
CRM hỗ trợ lực lượng bán hàng
Trang 45 Hãy so sánh sự khác nhau giữa 3 dạng cam kết
- Cam kết cá nhân: ý muốn tiếp tục quan hệ (khách hàng hài lòng sẽ muốn tiếp tục quan
hệ với nhà cung cấp)
- Cam kết mang tính đạo đức: nghĩa vụ phải tiếp tục mối quan hệ (một số người sẽ không
nỡ rời khỏi quán ăn mà người ta đã ăn lâu năm trong thời kì nó khó khăn, dù cho việc sử dụng dịch vụ ở nơi khác có thể giá sẽ rẻ hơn và được nhiều lợi ích hơn)
- Cam kết mang tính cấu trúc: một sự ràng buộc mối quan hệ về mặt tổ chức, công nghệ,
… (một món đầu tư vào việc hợp tác phát triển chuỗi vận hành nhà máy Chấm dứt mối quan hệ này là không thể ngoại trừ việc DN có thể tìm ra một đối tác khác thay thế đối tác hiện tại)
Các cam kết khác nhau về mức độ tự do thay đổi và nhân tố chi phối
NN bên trong/
bên ngoài
ràng buộc công nghệ
Không nỡ rời bỏ trong thời kì
doanh nghiệp khó khăn
Hài lòng và muốn tiếp tục mối quan hệ
II Tổng quan về quản trị mối quan hệ KH:
1 Tại sao Doanh nghiệp không muốn tạo dựng quan hệ với khách hàng?
- B2B:
+ Mất kiểm soát: trong một mối quan hệ song phương, doanh nghiệp nhiều khi phải từ bỏ
sự kiểm soát đơn phương của mình đối với nguồn lực của công ty (các DN cung cấp các dịch vụ trước mua như: thiết kế, đồ họa, luật sư, tư vấn bán hàng,…)
+ Chi phí thoái lui: không phải bất kì mối quan hệ nào cũng dễ dàng rút lui không tốn kém chi phí Đôi khi có những món đầu tư không được hoàn trả khi một mối quan hệ tan
vỡ (các khoản đầu tư vào dữ liệu điện tử liên thay đổi EDI, dịch vụ lắp đặt máy móc hàng loạt có tính rủi ro cao – nếu máy móc bị hư hỏng hoặc không hoạt động vì sự cố khách quan, DN buộc phải thu hồi và chịu tổn thất về vật tư thiết bị, nhân công)
+ Sự xuất hiện của chi phí chìm khi có cam kết về nguồn lực: Có những mối quan hệ đòi
Trang 5những khoản chi tiêu trong quá khứ không thể thu hồi, thường sẽ không được tính đến khi quyết định có tiếp tục mối quan hệ hay không, bởi vì chúng không thể được phục hồi cho
dù mối quan hệ có lâu dài hay không Dù như vậy nhưng nhiều khi DN cũng tính toán chi phí chìm vào các hoạt động tương lai Các công ty phải quyết định xem tốt hơn là nên phân bổ các nguồn lực cho quản lý khách hàng hoặc một số lĩnh vực khác của doanh nghiệp như hoạt động hoặc nghiên cứu và phát triển
+ Chi phí cơ hội cao: Mỹ áp dụng trừng phạt với Huawei, ngay lập tức Google và hàng loạt các công ty lớn của Mỹ đã ngừng hợp tác với hãng này vì lo sợ chính phủ Mỹ tức giận và các mối quan hệ ở Mỹ sẽ đổ vỡ
- B2C:
+ Tập trung vào khách hàng không phải là chiến lược duy nhất đối với các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp dịch vụ về hàng tiêu dùng, …
Áp dụng chiến lược tối ưu hóa hiệu suất kinh doanh, triển khai lợi thế theo quy mô
để cắt giảm tối đa chi phí (các hãng hàng không giá rẻ, Walmart, …)
Tập trung nguồn lực nghiên cứu phát triển chuyên môn nhằm tung ra thị trường những sản phẩm cao cấp nhất, tiên tiến hàng đầu thị trường (Apple)
2 Tại sao doanh nghiệp muốn tạo dựng quan hệ với khách hàng?
- Giảm chi phí tiếp thị: DN cần chi ít tiền hơn để thay thế những khách hàng đã bỏ cuộc.
chi phí cho một công ty quảng cáo cao hơn ít nhất 20 lần để tuyển dụng một khách hàng mới so với việc giữ chân một khách hàng hiện tại Các đại lý lớn có thể chi tới 4 triệu đô
la cho công việc nghiên cứu, phân tích chiến lược và sáng tạo trong việc quảng cáo chiêu hàng cho một khách hàng quốc tế lớn, với tối đa bốn nhóm sáng tạo làm việc trên các thực thi khác nhau
- Hiểu sâu về khách hàng hơn: Khi thời gian quan hệ của khách hàng với DN kéo dài, các
DN có thể hiểu rõ hơn về các yêu cầu và mong đợi của khách hàng Do đó, các DN sẵn sàng hơn trong việc xác định và đáp ứng các yêu cầu của khách hàng một cách có lợi nhuận, bán được nhiều sản phẩm và dịch vụ hơn cho khách hàng được giữ lại
- Quản lý việc giữ chân khách hàng: dòng doanh thu và lợi nhuận từ khách hàng trở nên
an toàn hơn (McKinsey đã phát hiện khách hàng mua quần áo trực tuyến trung bình chi tiêu nhiều hơn 67% và khách hàng tạp hóa chi tiêu nhiều hơn 23%, trong các tháng từ 31–36 của một mối quan hệ hơn trong các tháng 0–6)
- Gia tăng giá trị trọn đời của khách hàng: Doanh thu tăng theo thời gian, khi khách
hàng mua nhiều hơn Chi phí phục vụ thấp hơn đối với khách hàng hiện tại, vì cả nhà cung cấp và khách hàng đều hiểu đối phương Giá cao hơn có thể được trả bởi khách hàng hiện tại Các giới thiệu tạo ra giá trị được thực hiện bởi những khách hàng hài lòng
3 Tại sao khách hàng muốn quan hệ với doanh nghiệp:
Mối quan hệ với nhà cung cấp có thể làm giảm cảm giác rủi ro nhận thức được của khách hàng (rủi ro về hiệu suất, thể chất, tài chính, xã hội và tâm lý)
- Độ phức tạp của sản phẩm: ví dụ cơ sở hạ tầng mạng, một mối quan hệ có thể làm giảm
rủi ro hiệu suất - rủi ro mà công nghệ sẽ không hoạt động như mong muốn hoặc mong đợi
Trang 6- Ý nghĩa chiến lược của sản phẩm: (quan trọng về mặt chiến lược hoặc quan trọng về sứ
mệnh), ví dụ: cung cấp nguyên liệu thô thiết yếu cho một nhà sản xuất quy trình liên tục, rủi ro về hiệu suất có thể cao
- Giảm chi phí mua hàng: khi tạo mối quan hệ thân thiết, các DN đóng vai trò là “bên
mua” sẽ được hưởng một mức chiết khấu, giảm giá khi mua với số lượng nhất định
- Được hưởng ưu đãi hơn về dịch vụ: được quyền yêu cầu thêm những dịch vụ hỗ trợ đặt
biệt nhằm giảm rủi ro hiệu suất (yêu cầu bảo hành trong dài hạn)
- Quan hệ đối ứng: một chuyên viên kiểm toán tự do có thể muốn có mối quan hệ với DN
mà họ đã hoàn thành xong công việc, với hy vọng công ty sẽ mang lại thêm lợi nhuận cho mình
4 Tại sao khách hàng không muốn tạo dựng mối quan hệ với doanh nghiệp?
- Trong bối cảnh B2B:
+ Sợ bị phụ thuộc: nhà cung cấp có thể hành động đột ngột như tăng giá, giảm khả năng linh hoạt trong việc lựa chọn nhà cung cấp thay thế, mất quyền kiểm soát và quyền hạn cá nhân (nhà sản xuất thực phẩm đóng hộp và nhà cung cấp thịt, không muốn tạo dựng vì sợ bên cung cấp thịt tăng giá sẽ làm ảnh hưởng lợi nhuận)
+ Thiếu giá trị nhận thức trong mối quan hệ: không tin rằng mối quan hệ sẽ hỗ trợ họ tiết kiệm đáng kể chi phí giao dịch, tạo vị thế cạnh tranh vượt trội, tạo thêm doanh thu hoặc lợi ích xã hội (cam kết có tính đạo đức: Victoria Secret đã cắt đứt MQH với một nhà cung cấp sợi bông vì đã sử dụng lao động trẻ em bất hợp pháp)
+ Thiếu niềm tin vào nhà cung cấp: khách hàng có thể cảm thấy đối tác tiềm năng không đáng tin cậy, quy mô nhỏ, danh tiếng kém hoặc không đủ sáng tạo
+ Khách hàng thiếu định hướng quan hệ: Không phải tất cả các nền văn hóa công ty đều
có xu hướng xây dựng mối quan hệ như nhau Một số mang tính giao dịch cao hơn nhiều + Thay đổi công nghệ nhanh chóng: Trong một ngành công nghệ thay đổi nhanh chóng, cam kết với một nhà cung cấp có thể đồng nghĩa với việc khách hàng bỏ lỡ những phát triển mới có sẵn thông qua các nhà cung cấp khác (phụ thuộc vào dây chuyền sản xuất)
- Trong bối cảnh B2C:
+ Khách hàng thường không tìm thấy lý do chính đáng để phát triển mối quan hệ thân thiết hơn với nhà sản xuất chất tẩy rửa gia dụng, thức ăn nhẹ hoặc kem đánh răng người tiêu dùng mua hàng trăm sản phẩm và dịch vụ tiện lợi, mua sắm và đặc biệt khác nhau
Tuy nhiên, đối với các sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng quan trọng đối với cá nhân, khách hàng có thể tham gia nhiều hơn và trở nên gắn bó hơn về mặt cảm xúc
5 Thế nào là đo lường RFM? – đo lường lòng trung thành hành vi
- Lòng trung thành của khách hàng có thể được đánh giá thông qua 2 khía cạnh: hành vi, thái độ Lòng trung thành hành vi được đánh giá thông qua hành vi mua của khách hàng,
bằng phương pháp RFM:
+ R (reference of Purchase): khoảng thời gian vừa trôi qua kể từ lần mua sắm vừa qua
Trang 7phản hồi lại với bạn hơn, so với những khách hàng đã không mua sản phẩm từ hơn một năm trước)
+ F (Frequency of Purchase): số lần mua sắm trong một giai đoạn (Một người tiêu dùng
nhiều sản phẩm từ một thương hiệu rất nhiều lần trong một năm/1 tháng,… thì rất có thể
họ chính là khách hàng trung thành của thương hiệu này)
+ M (Monetary of Purchase): giá trị tiền tệ mua sắm trong một giai đoạn (Những khách
hàng trung thành thường có khả năng chi nhiều tiền hơn để sở hữu sản phẩm, dịch vụ của thương hiệu mà họ yêu thích – xếp hàng chờ mua Apple mới ra mắt dù giá rất cao)
Những khách hàng trung thành nhất là những người có điểm số cao nhất
6 Phân biệt sự khác nhau giữa 4 loại lòng trung thành và cho ví dụ
(ma trận sự kết hợp hành vi và thái độ liên quan) – Lòng trung
thành thái độ:
Hành vi mua lặp lại
Thái độ
- Khách hàng trung thành: mua lặp lại nhiều lần và có sự hài lòng cao với các sản phẩm,
dịch vụ của khách hàng, giới thiệu sản phẩm cho bạn bè và người thân VD: bạn là một người yêu thích đồ điện tử của hãng Samsung, khi người thân/bạn bè có nhu cầu mua máy giặt, bạn sẽ giới thiệu ngay cho họ máy giăt Samsung
- Khách hàng trung thành tiềm ẩn: thái độ và hành vi nằm ở mức tương đối mạnh mẽ,
nhưng không đi kèm với việc mua lặp lại Đây có thể là bằng chứng cho sự yếu kém trong chiến lược phân phối của công ty, sản phẩm hoặc dịch vụ không có sẵn vào thời điểm, địa điểm mà khách hàng muốn có nó
- Trung thành nghi ngờ: Có mức độ mua lặp lại cao nhưng thái độ tương đối yếu Hành vi
mua của nhóm đối tượng này có thể giải thích bằng quán tính, thói quen, chi phí chuyển đổi cao hoặc thái độ của họ thờ ơ, trung lập (mua hàng ở tạp hóa gần nhà dù không thích chủ tiệm)
- Không trung thành: Không có sự hài lòng đối với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp
=> không mua lặp lại, hành vi tiêu cực như: truyền miệng tiêu cực, không giới thiệu sản phẩm, bài xích doanh nghiệp
7 Đo lường hiệu quả kinh doanh bằng KPI như thế nào?
Thẻ điểm cân bằng sử dụng bốn bộ chỉ số hiệu suất chính được liên kết (KPI): tài chính, khách hàng, quy trình, học hỏi và phát triển Các KPI liên quan đến khách hàng có thể được
sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh doanh sau khi áp dụng CRM bao gồm: mức độ hài lòng của khách hàng, tỷ lệ duy trì khách hàng, chi phí mua lại khách hàng, số lượng khách hàng mới có được, thời hạn sử dụng khách hàng trung bình, lòng trung thành KH, tăng trưởng doanh thu, thị phần và thị phần chi tiêu của khách hàng (phần ví tiền chiếm được)
Trang 88 Sự hài lòng của khách hàng là gì?
một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc sử dụng sản phẩm/dịch vụ của họ với những kì vọng của họ
+ Nếu những thực tế SP/DV thấp hơn hoặc không đáp ứng được mong đợi => KH sẽ thất vọng và không được thỏa mãn
+ Nếu thực tế sản phẩm đáp ứng và vượt quá mong đợi => khách hàng sẽ hài lòng và thỏa mãn
Ví dụ: Mua hàng online, kỳ vọng về sản phẩm nhận được
Nếu hàng nhận được đẹp, đúng mẫu => Hài lòng, thỏa mãn
Hàng nhận được xấu, sai mẫu, chất lượng kém => Không hài lòng, thất vọng
9 Phân tích mối quan hệ giữa: Sự hài lòng (đo lường dựa trên mức độ
kỳ vọng và giá trị thực tế nhận được), lòng trung thành (Trung thành
về hành vi và trung thành về thái độ) và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp (tăng doanh thu, lợi nhuận, giá trị vòng đời Kh)? ví dụ minh hoạ
cao sự hài lòng của khách hàng và thúc đẩy lòng trung thành của khách hàng
họ tốt hơn và tạo ra các đề xuất giá trị khách hàng được cải thiện và trải nghiệm khách hàng tốt hơn Khi sự hài lòng của khách hàng tăng lên, ý định mua lại của khách hàng cũng vậy Điều này lại ảnh hưởng đến hành vi mua hàng thực tế có tác động đến hiệu quả kinh doanh (tăng doanh số, giá trị nhận được từ khách hàng)
VD: Một nghiên cứu về các chủ sở hữu xe hơi Volvo đã xem xét mối liên hệ giữa
sự hài lòng của khách hàng với trải nghiệm mua xe, dịch vụ xưởng và bản thân chiếc xe cũng như hiệu quả kinh doanh của đại lý Kết quả chỉ ra rằng mức độ hài lòng tổng thể của khách hàng tăng lên một điểm có liên quan đến mức lợi nhuận của đại lý tăng 4% ở lần mua xe tiếp theo
10 Phân loại CRM: (3 loại)
- CRM chiến lược: Tập trung vào việc phát triển một văn hoá kinh doanh định hướng vào
KH để thu hút và giữ chân KH bằng việc tạo và cung cấp cho họ những giá trị tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh
Trang 9VD: Chi nhánh Honda ở Úc vào năm 2015 đã nhận ra sự bất cập của phân mảnh dữ liệu ở các nơi trong tổ chức, khiến cho các thông tin của khách hàng không được tận dụng một cách triệt để Vì vậy hãng đã phát triển chiến lược “Customer For Life” – tích hợp, lưu trữ
dữ liệu vào hệ thống cơ sở dữ liệu duy nhất Từ đó chuyển bộ phận chăm sóc mối quan hệ khách hàng từ các bộ phận riêng lẻ về chung một bộ phận CRM Các khiếu nại được giải quyết một cách nhanh chóng vượt bậc, từ vài tháng xuống chỉ còn vài ngày, nâng cao trải nghiệm khách hàng và gia tăng sự hài lòng Honda đang dần hướng đến một thương hiệu thống nhất và thực sự hiểu về khách hàng của mình
- CRM phân tích: quá trình mà qua đó các tổ chức chuyển đổi những dữ liệu liên quan đến
khách hàng thành những hiểu biết sâu sắc có thể áp dụng cho cả mục đích chiến lược và chiến thuật (cung cấp các đề xuất mua sắm trên sàn TMĐT, điển hình như Shopee, Lazada, / các đề xuất xem trên Youtube)
- CRM hoạt động: tập trung vào việc tự động hóa các quá trình tiếp xúc với khách hàng
như bán hàng, marketing và dịch vụ KH (bot chat, email tự động cá nhân hóa, hệ thống tư vấn tự động, )
11 Những trọng tâm của CRM:
và hoàn thiện các mối quan hệ với các KH
nhân với các KH, những người tạo ra thu nhập cho DN trong tương lai
hoàn toàn như nhau, đối xử các khách hàng khác nhau một cách không giống nhau
giao giá trị lớn hơn cho từng KH và làm cho từng KH trở nên có giá trị hơn đối với DN
động hướng vào những KH cụ thể
nhất nhằm đạt doanh số và lợi nhuận cao hơn
12 Những hiểu lầm trong CRM và giải thích:
- CRM là một giải pháp công nghệ, một phần mềm (đây là chức năng của CRM phân tích): Marketing cơ sở dữ liệu liên quan đến việc xây dựng và khai thác dữ liệu khách
hàng chất lượng cao - cơ sở cho mục đích tiếp thị Quá trình này bắt đầu từ việc Các công
ty thu thập dữ liệu, sau đó xác minh, làm sạch, tích hợp và lưu trữ Những dữ liệu này sử dụng cho các mục đích marketing: phân khúc thị trường, nhắm mục tiêu, phát triển chào hàng và giao tiếp với khách hàng Quá trình này xuất hiện rõ nét trong cấp CRM phân tích, nhưng hầu như không được sử dụng nhiều ở cấp chiến lược và tác nghiệp, vì vậy đây
là một sự hiểu lầm to lớn của một số tổ chức/cá nhân
- CRM là một trung tâm liên lạc qua điện thoại (call center) hoặc là một trang mạng (website): (chưa trả lời)
- CRM là một văn hóa, một triết lý quản trị: đây là một trong những đặc điểm của CRM
chiến lược – tập trung vào việc phát triển một văn hóa kinh doanh định hướng vào KH để
Trang 10thu hút và giữ chân KH bằng việc tạo và cung cấp cho họ những giá trị tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh
- CRM là một chương trình trung thành lôi kéo KH trở lại:
+ Chương trình trung thành có 2 vai trò trong CRM:
Tạo ra dữ liệu có thể được sử dụng để hướng dẫn việc mua lại, duy trì và phát triển khách hàng (chương trình thẻ VIP thu hút nhiều thông tin nhân khẩu học của
KH, tạo điều kiện đưa ra những chiến lược phù hợp)
Các kế hoạch về lòng trung thành có thể đóng vai trò như một sự ngăn cản việc
rời bỏ của khách hàng (KH đóng góp công sức vào các chương trình trung thành như thẻ VIP, thẻ thành viên sẽ có xu hướng ít rời bỏ hơn những khách hàng khác)
- CRM là việc lưu trữ và phân tích dữ liệu: đây chỉ là việc của CRM phân tích, CRM
còn bao gồm 2 loại khác là CRM chiến lược và CRM hoạt động
- CRM là một vấn đề về CNTT: Mục tiêu bao quát của nhiều dự án CRM là phát triển các
mối quan hệ và giữ chân những khách hàng được đánh giá cao Điều này có thể liên quan đến việc thay đổi hành vi của nhân viên cửa hàng, giáo dục nhân viên tổng đài và tập trung vào sự đồng cảm và độ tin cậy từ nhân viên bán hàng Trong những trường hợp này, CNTT có thể không đóng vai trò gì
- CRM có thể thực thi tại bất kỳ công ty nào: Thực tế, CRM chiến lược, CRM hoạt động
có thể được triển khai ở bất kỳ công ty nào Nhưng không phải DN nào cũng có đủ khả năng thực hiện CRM phân tích vì cần phải đầu tư rất nhiều thời gian, tiền bạc, công sức vào việc nghiên cứu và tạo ra hệ thống cơ sở dữ liệu với thông tin KH đầy đủ Nếu thiếu thông tin, CRM phân tích không thể được thực hiện
13 Mối quan hệ giữa CRM và bán hàng? Cho ví dụ
CRM là chiến lược kinh doanh vs mục tiêu gia tăng khả năng sinh lợi cho DN thông qua việc phát triển các mối quan hệ với KH Hay nói cách khác, CRM là chiến lược nhằm thúc đẩy bán hàng
Ví dụ: CRM trợ giúp lực lượng bán hàng:
- Dễ dàng tiếp cận các nguồn thông tin về SP, về đối thủ cạnh tranh, về KH
- Giúp phát tán thông tin
- Thúc đẩy sự hội nhập của các nhân viên bán hàng mới vào nghề nhờ dễ dàng được hướng dẫn, tiếp cận các nguồn thông tin từ một nguồn chung, có thể khai thác các dịch vụ thông tin dùng
chung, chia sẻ trên toàn hệ thống
CHƯƠNG 2
1 Giá trị mà một khách hàng đóng góp cho doanh nghiệp ? Cho ví dụ cụ thể
- Giá trị khách hàng là giá trị kinh tế của mối quan hệ giữa khách hàng với doanh nghiệp, được thể hiện dựa trên cơ sở của gí trị đóng góp hoặc lợi nhuận ròng (Kumar, Reinartz 2018)
bán mà còn có thể xác định thông qua hành vi của họ qua việc tham gia các hoạt động
giới thiệu, quảng bá cho DN; chia sẻ kiến thức (những thông tin, phản hồi cho DN);