1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu Việt Nam: Một số vấn đề lịch sử - kinh tế - xã hội - văn hóa

255 2 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Việt Nam: Một Số Vấn Đề Lịch Sử - Kinh Tế - Xã Hội - Văn Hóa
Tác giả GS Dinh Xuan Lam, PTS Duong Lan Hai
Trường học Trung Tâm Nghiên Cứu Xã Hội Và Phát Triển
Thể loại nghiên cứu
Năm xuất bản 1998
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 255
Dung lượng 9,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Image00001 tif Image00002 tif Image00003 tif Image00004 tif Image00005 tif Image00006 tif Image00007 tif Image00008 tif Image00009 tif Image00010 tif Image00011 tif Image00012 tif Image00013 tif Image00014 tif Image00015 tif Image00016 tif Image00017 tif Image00018 tif Image00019 tif Image00020 tif Image00021 tif Image00022 tif Image00023 tif Image00024 tif Image00025 tif Image00026 tif Image00027 tif Image00028 tif Image00029 tif Image00030 tif Image00031 tif Image00032 tif Image00033 tif Image[.]

Trang 1

ị TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU XÃ HỘI VÀ PHÁT TRIỂN

Chủ biên

GS DINH XUAN LAM

- PTS DUONG LAN HAI NGHIEN CUU

VIỆT NAM

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LỊCH SỬ

củ) THẾ GIỚI NHÀ XUẤT BẢN THẾ GIỚI

HÀ NỘI 1998 |

Trang 2

có tài khoản đồng Việt Nam và

ngoại tệ tại Ngân hàng Ngoại

thương Việt Nam

Nhiệm vụ chủ yếu của CESDER: 1.Nghiên cứu lịch sử phát triển kinh

tế - xã hội của các nước đang phát

triển

Tư vấn và dịch vụ KHXH về các

vấn đề xã hội và phát triển của

các nước được nghiên cứu

2.Tổ chức giao lưu: trao đổi, hợp tác

nghiên cứu khoa học, thông tin, hội thảo và thuyết trình khoa học

3 Đào tạo: Bồi dưỡng theo chuyên

để thuộc lịch sử phát triển kinh tế

- xã hội

CESDER sắn sàng hợp tác với các

nhà nghiên cứu khoa học và các tổ

chức Khoa học Xã hội Nhân văn trong và ngoài nước

Ban lãnh đạo Trung tam CESDER: Giám đốc: GS Dinh Xuan Lam

Phó giám đốc: PTS Dương Lan Hải

Trụ sở: 24 Tức Mạc - Hà hội - Việt Nam

Tel.: (84 - 4) 8250119

Fax.: (84 - 4) 8250000.

Trang 4

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU XÃ HỘI VÀ PHÁT TRIỂN

NHÀ XUẤT BẢN THẾ GIỚI

HÀ NỘI 1998

Trang 5

© 1998 Trung tâm Nghiên cứu Xã hội và Phát triển CESDER

giữ bản quyền

Xuất bản lần thứ nhất - Tiếng Việt

1n tại Việt Nam

VN - TG - 09519 - Ö

Trang 6

MỤC LỤC

Lời Nhà Xuất Bản

Lầi nói đầu

+ Tổng Bí thư Baw Chấp hành TW ĐCSVN L¿ Khả Phiêu:

“Việt Nam mong muốn là bạn với tất cả các nước”

+ Thành phần nhân chủng các tộc người ở Việt Nam và vấn để

nguồn gốc người Việt

GS Nguyễn Đình Khoa

+ Thiết chế chính trị: Di sản và kế thừa

GS Phan Huy Lê

+ Hệ thống chính trị ở Việt Nam những năm 1954-1975 Một

số vấn đề nhận thức lý luận, lịch sử

PGS PTS Phùng Hữu Phú

« Vài suy nghĩ bước đầu về “Hệ thống chính trị” ở Việt Nam

thời cận đại

PGS PTS Dương Kinh Quốc

+ Cải cách hành chính đưới triểu Minh Mệnh

PTS Nguyễn Minh Tường '

+ Nông thôn Việt Nam trong thời ky Can dai

GS Đinh Xuân Lam

+ Bàn thêm về mối quan hệ giữa làng và xã qua quy mô cấp xã

thời phong kiến

PTS Bùi Xuân Đính

+ Chế độ ruộng đất ở làng Mộ Trạch (Hải Dương), một làng

châu thổ sông Hồng từ đầu thế kỷ XIX đến 1945

Trang 7

+ Chính sách bốn điểm của Việt Nam và Hiệp ước Bali năm

1976

PTS Duong Lan Hai

+ Viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản với các nước Đông Nam Á (1954-1995) Trường hợp Việt Nam

PTS Dương Lan Hải

+ Quan hệ buôn bán biên giới Việt Nam và Trung Quốc thời kỳ

mở cửa

PTS Nguyễn Thế Tăng

+ Một đôi nét về tình hình buôn bán ở biên giới Việt - Trung

PTS Định Công Tuấn - Vũ Thị Hải Vân

+ Vài nét về tư tưởng cải cách giáo dục của Nguyễn Trường Td

và Fukuzawa Yukichi nửa cuối thế kỷ XIX

+ Nghệ thuật tạo hình Đông Dương

PTS Ngô Văn Doanh

+ Mục lục tiếng Anh: Contents

Trang 8

Lời Nhà Xuất Bản

Trong công cuộc công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước nhiều

tiêm năng đã được khơi dậy Trong đó, nguồn tiêm năng trí tuệ

sẽ giúp ta sức mạnh tỉnh thần cũng như sức lực vật chất, để có

thể chọn lọc, kế thừa, phát huy tiêm năng để phát triển, để tiếp

nhận những thành tưi mới của văn mình nhân loại

Cuốn sách “Nghiên cứu Việt Nam: Một số vấn để Lịch sứ - Kinh

tế - Xã hội - Văn hóa " ra mắt bạn đọc nguyện làm chiếc cầu nối

để giúp các bạn tìm đến tiêm năng thời gian - lịch sử

Nhà Xuất bản Thế giới và Trung tâm Nghiên cứu Xĩ hội và Phát

triển - CESDER xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn sách

này

Nhà Xuất Bản Thế Giới

Hà Nội, tháng 7 - 1998

Trang 9

Lời nói đầu

Ngày 5 - 5 - 1996 tại cuộc họp trao đổi ý kiến với các nhà

báo và các hãng thông tấn quốc tế thường trú tại Hà Nội, và đại điện các báo, thông tấn, phát thanh và truyền hình Việt Nam,

Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã nhấn mạnh đến một điều quan

trọng đối với công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam là, phải

“phát huy nội lực” Tổng Bí thư nói: “Chúng tôi quan niệm phát huy nội lực bao gồm rất nhiều mật - đó là trí tuệ, sức lao động, tài nguyên đất nước và vốn liếng của dân Nội lực là cái gì mà nước mình có, dân mình có Có phát huy nội lực thì mới tiếp thu được ngoại lực Phát huy nội lực là để hợp tác tốt hơn với bên ngoài, chứ hoàn toàn không phải kiểm chế sự hợp tác với bên

khác luôn luôn vận động - vận động theo hướng đi lên - vươn

lên, và lan tỏa Điều đó minh chứng: cái hôm qua - hôm nay - và

ngày mai luôn luôn quyện chặt với nhau, gắn bó với nhau trong

Trang 10

tính kế thừa, có bổ sung hoàn chỉnh để cho cái ngày mai sẽ phải vững chắc hơn, tốt đẹp hơn cái ngày hôm nay, và tất nhiên phải nhiều lần tôt đẹp hơn cái ngày hôm qua

Trên tinh thần đó, thấm nhuần điều Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu tâm đắc, quán triệt và thực hiện việc đưa Nghị quyết Hội nghị

Trung Ương lần thứ IV vào thực tiến cuộc sống, Trung tâm

Nghiên cứu Xã hội và Phát triển - CESDER với chức năng và nhiệm vụ của mình, thông qua các công trình nghiên cứu, mong muốn cung cấp phần nào những mảng nghiên cứu trên các lĩnh vực lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa của nhiều chuyên gia, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam học nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của công tác nghiên cứu, hoặc cao hơn là cho công việc hoạch định chính sách trên nhiều phương diện của đời sống kinh tế - xã

hội đất nước

Cuốn “Nghiên cứu Việt Nam: Một số vấn đẻ Lịch sử - Kinh tế -

Xã hội - Văn hóa” bao gồm những công trình xoay quanh các

mảng chủ đề đã nêu Ý kiến của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu là ý

kiến chủ đạo không phải chỉ riêng cho tập chuyên khảo này mà

sẽ còn xuyên suốt toàn bộ các công trình nghiên cứu tiếp theo

Và, cuốn sách cho ta một cái nhìn, dù mới là thoáng qua, nhưng

nghiêm túc, khoa học trước những vấn đề hôm nay chúng ta dat

ra, ví như vấn để về cải cách hành chính, về thể chế chính trị, hoặc những vấn đề về làng xã, xóm thôn Trong quan hệ đối ngoại thì quan hệ của Việt Nam với các nước ASEAN là mối

Trang 11

quan hệ láng giềng gần cũng được nghiên cứu ở gÓc độ cơ sở cơ

bản trên các nguyên tắc về chính sách gần gũi nhau Cũng như

những quan hệ với các láng giềng liền kề thì mậu dịch biên giới lại là vấn dé đáng quan tâm Hơn bao giờ lúc này kinh tế thị trường tất yếu có cạnh tranh trên thương trường thì ngày xưa trường hợp Bạch Thái Bưởi có thể được coi là một chiến tướng, một công thương gia đầu tiên giành thắng lợi trong giới kinh doanh mà đa phần là người nước ngoài Vấn đề khai thác nguồn

vốn trong đó có nguồn từ ODA (Viện trợ phát triển chính thức)

cũng được nghiên cứu khá kỹ với trường hợp nguồn ODA từ Nhật Bản Bên cạnh những vấn để quan phương bức xúc cuốn sách này cũng không quên nét đẹp văn hóa truyền thống dân tộc

đã từng làm bè bạn bốn phương mến phục đó là nghệ thuật Rối

Việt Nam, và nghệ thuật tạo hình Việt Nam trong nhóm ba nước

Đông Dương

Để tạo một môi trường tư liệu nghiên cứu ngày càng rộng rãi, đa dạng và bổ ích, Trung tâm CESDER sẽ lần lượt giới thiệu với

bạn đọc, với các nhà nghiên cứu những công trình, những

chuyên khảo vẻ những nước Nam (những nước đang phát triển)

nằm trong hệ thống đề tài của chương trình hoạt động của Trung

tâm với sự cộng tác của nhiều nhà khoa học trong nước và ngoài nước

Đây chỉ là bước khởi đầu của cả một chặng đường dài phía trước,

chỉ mong sao những công trình nhỏ bé đáng yêu này không làm

Trang 12

người ta kém vui khi rong ruổi trên con đường nghiên cứu đôi khi buồn tẻ và dài đặc ấy

Nhân đây, Trung tâm CESDER xin chân thành cảm ơn các nhà nghiên cứu khoa học đã nhiệt tình tham gia viết bài cho cuốn sách này Chúng tôi cũng xin chân thành cám ơn các tác giả có bài được chọn từ các tạp chí chuyên ngành để giới thiệu vào cuốn chuyên khảo này

Trung tâm Nghiên cứu Xã hội và Phát triển

CESDER

Trang 13

Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung Ương

Đảng Cộng Sản Việt Nam Lê Khả Phiêu:

“Việt Nam mong muốn là bạn với tất cả các nước”

Tại cuộc gặp các nhà báo quốc tẾ và trong nước vào sáng ngày 5-5-1998 tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế

- đHà Nội, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã có cuộc trao đổi ý kiến thân mật và thẳng thắn với đại điện các báo, hãng thông tấn quốc tế thường tru tại Hà Nội

và đại điện các báo chí, thông tấn, phát thanh và truyền hình Việt Nam

Xin tran trong giới thiệu với bạn đọc những ý kiến chính của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu về những vấn

đề và tình hình của Việt Nam hiện nay đã được đăng

trên báo Nhân Dân số ra ngày 6-5-1998 (trang I+$}1, Các phóng viên Thanh Phong và Thanh Trả lược thuật

M ở đầu cuộc gặp, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu cảm ơn các

Đồng chí cho rằng đây không phải là một cuộc họp báo, mà là một cuộc gặp gỡ, trao đổi thông tin thân mật, thẳng thắn vì “các bạn cũng cần thông tin, chúng tôi cũng cần thông tin” Với thái

độ chân tình, đồng chí Tổng Bí thư nói: “Bây giờ các bạn hỏi tự

đo, các bạn hỏi gì tôi xin trả lời” Phóng viên Nhật báo kinh tế

Trang 14

Nghiên cứu Việt Nam Một xố vấn để

Trung Quốc, báo San Hỏ-xé Mác Cu-r (Mỹ), phóng viên các

hãng thông tấn AP (Mỹ), Roitơ (Anh), [TAR-TASS (Nga), báo

Bở-lum-bóc (Mỹ) nêu lên các câu hỏi xoay quanh các vấn đề

kinh tế, chính trị trong nước, mối quan hệ giữa Việt Nam với các

nước, vùng lãnh thổ trên thế giới và khu vực; về mối quan hệ

giữa kinh tế quốc doanh và các thành phần kinh tế khác, v.v Trả lời câu hỏi về khái niệm phát huy nội lực nêu trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ [V; vấn đề này có tác động gì tới việc thu hút đầu tư nước ngoài, tranh thủ sự giúp đỡ của quốc

tế đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu nêu rõ: Chủ trương phát

huy nội lực trong xây dựng đất nước trước đây chúng tôi đã nêu,

nhưng trong thực tế thực hiện chưa được bao nhiêu Nghị quyết

Hội nghị Trung ương lần thứ IV khẳng định lại và kiên quyết

thực hiện, nhất là trong tình hình mới Chúng tôi quan niệm phát huy nội lực bao gồm rất nhiều mặt - đó là: trí tuệ, sức lao động, tài nguyên đất nước và vốn liếng của dân Nội lực là cái gi mà

nước mình có, dân mình có Có phái huy nội lực thì mới tiếp thụ

được ngoại lực Phát huy nội lực là để hợp tác tốt hơn với bên ngoài, chứ hoàn toàn không phải kiểm chế sự hợp tác với bên ngoài Thí dụ năm 1998, vốn ODA của nước ngoài cho Việt

Nam vay là 1,4 tỷ USD Để tiếp thụ nó, chúng tôi phải có từ 30 đến 35% tổng số vốn, tức là phải có từ 400 đến 500 triệu USD

Nếu không phát huy nội lực, không có vốn bên trong thì không thể tiếp thụ nổi được vốn bên ngoài Rõ ràng, chủ trương phát

huy nội lực không phải là hạn chế hay từ bỏ sự hợp tác, hùn vốn của bên ngoài, mà chính là tạo điêu kiện để thu hút vốn đầu tư,

hợp tác ngày càng nhiều và có hiệu quả hơn

Trang 15

_Việt Nam mong muốn là bụn

Một nữ phóng viên nước ngoài tỏ ý nghi ngờ ty lệ tăng trưởng

kinh tế 9% một năm mà Việt Nam đã dé ra, va đẻ nghị Tổng Bí

thư nói rõ thêm cơ sở để thực hiện mục tiêu này Đồng chí Tổng

Bí thư Lê Khả Phiêu cho rằng, điều quan tâm đó là đúng Việt Nam cũng rất coi trọng các chỉ tiêu do mình đặt ra và quyết tâm thực hiện Mặc dù cuộc khủng hoảng tiền tệ khu vực, thiên tai hạn hán cũng ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam, nhưng những tháng đầu năm 1998 này nhịp độ phát triển kinh tế tuy vẫn đạt 8,7%, nhưng tình hình còn đang diễn biến và nay mới là đầu tháng 5/98 Là nước chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, tác động của những khủng hoảng tiền tệ là không lớn và việc phát

huy nội lực là cơ sở để thực hiện mục tiêu tăng trưởng Chúng tôi

- không cứng nhắc, mà thường xuyên theo dõi chỉ tiêu da dé ra, để

cố gắng thực hiện và nếu có biến động gì thì chúng tôi sẽ điều chỉnh Không ai lại cứng nhắc, khi cần thay đổi lại cứ khư khư giữ nguyên Một vài phóng viên nước ngoài muốn đồng chí

Tổng Bí thư làm rõ mối quan hệ giữa kinh tế quốc doanh và kinh

tế tư nhân, và cho rằng nhấn mạnh thành phần kinh tế tư nhân có phải Việt Nam từ bỏ một số khái niệm của Đảng Cộng sản

không? Đồng chí Tổng Bí thư khẳng định: nền kinh tế Việt Nam

là kinh tế nhiều thành phần, không phải chỉ có một và hoàn toàn

không phải duy nhất chỉ có một Khái niệm đó trước đây hiểu

chưa đầy đủ nay chúng tôi làm rõ Nhân đây chúng tôi xin nói

với các bạn: Chúng tôi có 5.800 doanh nghiệp Nhà nước trong

đó 1.900 của trung ương, còn lại của địa phương, 1.900 doanh nghiệp tập thể, 10.900 doanh nghiệp tư nhân, 118 công ty cổ

phần, 4.240 công ty trách nhiệm hữu hạn Có 692 doanh nghiệp

có vốn đầu tư hoặc liên doanh với nước ngoài Qua những con số

Trang 16

Nehién cttu Vier Nam: Mot so van dé |

đó các bạn có thể hình dung nền kinh tế nhiều thành phần của

chúng tôi Ở Việt Nam, kinh tế Nhà nước và kinh tế tư nhân hợp

thành một tổng thể kinh tế, hỗ trợ lẫn nhau, cùng nhau phát triển Nếu ai đó cho rằng Việt Nam chỉ tập trung cho kính tế Nhà nước

là hoàn toàn không đúng G nông thôn, chúng tôi đang khuyến

khích hình thành những trang trại Tỉnh miền núi Yên Bái hiện

đã có 9.500 trang trại, nhỏ nhất là 6 hécta, lớn 600 hécta, ở Đông Nam Bộ, có chủ trang trại có đến 1.000 hécta Nông dân làm ra

nông sản, thương nhân lên mua, chế biến tiêu dùng trong nước

và xuất khẩu Chúng tôi không hể ngăn cấm, mà còn khuyến

khích

Phóng viên báo Bở-lưm-bớc để nghị Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu nói rõ quan điểm của mình khi chấp nhận cơ chế thị trường nhưng không chấp nhận chủ nghĩa tư bản, “Ngài đứng về phía

bảo thủ hay cải cách” Đồng chí Tống Bí thư cười, trả lời bình

thản: Điều bạn hỏi, nếu bạn ở nước của bạn thì bạn rõ Nước nào

cũng tự xây dựng cho mình một chế độ chính trị, không ai giống

ai ỞỔ Việt Nam bị thực dân Pháp đô hộ, trong thời gian từ nam

1884 đến 1930, có đến 300 cuộc nổi dậy đấu tranh tự phát của

quần chúng nhưng đều thất bại Đến năm 1930, Đảng Cộng sản

Việt Nam ra đời, lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc,

chiến đấu giành độc lập, thống nhất Tổ quốc, xây dựng trong hòa bình và thực hiện đường lối đổi mới của Đảng như hiện nay

Nhân dân Việt Nam một lòng theo Đảng, ủng hộ Đảng và chế độ

chính trị hiện nay dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Như vậy thì việc gì phải thay đổi chế độ hiện nay bằng chế

độ tư bản? Nhưng không chấp nhận chế độ tư bản không có

Trang 17

Việt Nam mong muén la ban

nghĩa là không có quan hệ, không hợp tác, không học tập những

kinh nghiệm tốt của chế độ tư bản Chính sách đối ngoại của

Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước, không phân biệt chế

độ chính trị Như vậy thì các nước tự bản cũng là bạn, tôi nhắc

lại, là bạn nhưng không thay đổi chế độ Còn bạn nói rằng tôi

xuất thân là một người lính Đúng, tôi đã gần 50 năm công tác trong quân đội Nếu bạn theo dõi các vị lãnh đạo tiền nhiệm của Đảng và Chính phủ Việt Nam thì hầu hết đều kinh qua quân đội Nhưng không phải là lính thì không biết gì về kinh tế - xã hội Hơn nữa chúng tôi có cả một tập thể lãnh đạo Không thể một mình Tổng Bí thư hoặc Thủ tướng quyết định được Tháng I2-

1997, chúng tôi công bố Nghị quyết Trung ương lần thứ IV về kinh tế Nghị quyết này đang được thực hiện có hiệu quả như các bạn đã và đang theo dõi Đó là trí tuệ của cả tập thể lãnh đạo, đó

là sự đúc kết từ cuộc sống, từ phong trào quần chúng Trí tuệ của chúng tôi là trí tuệ tap thể Còn bạn hỏi tôi thuộc phái nào?-nhắc

đến đây, đồng chí Tổng Bí thư cười và khẳng định: Ở Việt Nam

chỉ có một ý chí chung chứ không có phái, lại càng không có cái

gọi là phái bảo thủ, phái cải cách Chúng tôi chỉ có một ý chí thống nhất trong lãnh đạo cấp cao cũng như toàn Đảng, toàn dân

là làm cho “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh”, đúc kết cái hay của mình, học tập cái hay của nước bạn

để xây dựng đất nước giàu mạnh, đuổi kịp các nước giàu trong

khu vực và thế giới

Mội số nhà báo quốc tế còn hỏi Tổng Bí thư về tình hữu nghị với Liên bang Nga, Trung Quốc, thái độ của Việt Nam đối với cuộc bầu cử Quốc hội sắp tới của Campuchia Với Liên bang Nga,

Trang 18

Nghiên của Viết Nam Mũi dd: ¡

đồng chí Tổng Bí thư cảm ơn sự giúp đỡ của Lien XO (cũ) đối:

bang Nga cing nhúcác nước:SNGi:hiện nay là tốt, và càng ngày

truyền thống Mới Trùng'Quốc.;đồng chí Tổng Bí.thư: nói: Trung

Quốc;và Việt: Nam 1à bạn, là hai nước láng: giêng gần: gữi.: Lãnh đạo hai nước chủ trương giải,quyết những vấn để hai nước quan

tâm bằng thương lượng hòa bành.: Văn: đẻ, bầu, cử Quốc hội sắp:

tới của Campuchia, động chi Tong Bí thư Lê Khả Phiêu nói rõ:

đó là, ,eông việc nột bộ, của Campuchia -Việt, Nam mong muốn:

cudc, bậu cử c diện ra tốt đẹp trong hòa bình và ổn định

Trang 19

¬ 1 Nguyễn Đình Khoa ˆ

an '

Thành phân nhân chủng các tộc người Ở

Việt Nam và vấn đề nguồn gốc người Việt ”

inh

Cội nguồn dân tộc là một trong những vấn để cơ bản của lịch

sử dân tộc, Nhiều ngành khoa học xã hội như dân tộc học, khảo

cổ học, ngôn ngữ học v.v đã có vai trò nhất định trong nghiên

Ngày nay, người ta thừa nhận rằng cùng với tài liệu khoa học xã

hội cần thiết phải khai thác loại tài liệu khoa học tự nhiên về

hình thái, cấu tạo cơ thể con người liên quan đến chủng tộc, các loại hình, nhân, chủng và quá trình hình thành của chúng Như vậy tai liệu Nhân học cơ thể (Phy steal anthropologie) bao 26m

ca tài liệu Cở nhận học (Paléo-anthy opolagie) đã được xem là

một nguồn tài liệu lịch sử

L ‘Thanh phan nhaén chung hoc các tóc người Việt Nam

Để làm sáng tỏ, trên cữ sở tài liêu nhân chủng học văn để nguồn

gốc người Việt trong một quốc gia đa dân tộc cẩn tìm hiểu

thành phần nhân chủng các tộc người Việt Nam mà người Việt là

một bộ phận câu thành

+: Giáo s+ Nguyễn Đình Khoa - Khoa Sinh:vát ĐHKHTH, Đại học Quốc gia Hà Nội + Tap chi Nghiên cứu Đông Nam Á số 2 (23) - 1996.

Trang 20

Nghiên cứu Việt Nam: Một số vấn đề

1 Đặc trưng co ban.cua chủng tộc là các cộng đồng người cĩ những đặc điểm cơ thể tương đối ít biến đổi đưới ảnh hưởng của mơi trường tự nhiên, di truyền qua các thế hệ và phân bố trên một khu vực địa lý nhất định Theo di truyền học thì đĩ là những quần thể khác biệt nhau về số lượng alien của những gen này

hay øen khác Cũng cĩ thể định nghĩa chủng tộc là những quần

thể Menđen nội phối (Mendelian inbreeding populations)

Các hệ phân loại chủng tộc cĩ nhiều Những phân loại chủng tộc đầu tiên ra đời từ cuối thế ký XVII, được bổ sung và hồn thiện

dần Theo khu vực địa lý, cĩ thể chấp nhận sự phân cấp trong

một hệ phân loại như sau:

- Ching téc dia ly hay ching tộc sơ cấp (chủng tộc lớn)

- Chủng tộc địa phương hay chủng lộc thứ cấp

- Nhĩm loại hình nhân chủng

Những chủng tộc địa lý (sơ cấp) xuất hiện sớm rồi phân hĩa

thành các chủng tộc địa phương (thứ cấp) và các nhĩm loại hình nhân chủng cĩ quan hệ cội nguồn gần gũi Chủng tộc địa phương

là đơn vị cơ bản trong phân loại Ngày nay, nhân loại đã được

phân chia thành bốn chủng tộc địa ly 1a Oxtraloit (Úc),

Mongoloit (A), Négroit (Phi), Gropoit (Au) Ching Mongoloit

bao gồm bốn chủng tộc địa phương: bắc Mơngơlợit, đồng Mơngơlơit, nam Mơngơlơit và Amêrican (chủng tộc của người

Anhđiêếng, tức người da đỏ) Ta chỉ đề cập đến chủng tộc nam

Mơngơlơit liên quan đến thành phần nhân chủng các tộc người ở

khu vực Đơng Nam A, trong đĩ cĩ Việt Nam

2 Kết quả nghiên cứu thành phần nhân chủng các tộc người Việt Nam cho phép nhận định: họ thuộc hai nhĩm loại hình duy nhất

- Indonédién vi Dong Nam A thuộc chủng nam Mơngơlơii Ở

Trang 21

Thanh phân nhân chúng các tộc người

khu vực Đông Nam Á, đó cũng là hai nhóm loại hình chủ yếu về mặt số lượng, bên cạnh một số nhóm loại hình chủng Ôxtralôit (Nguyễn Đình Khoa, 1965, 1983)

Nhóm loại hình Inđônêdiên ở Việt Nam gặp trong các dân tộc ít người cư trú trên dải Trường Son (Bru - Van Kiểu) và tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên (Xođăng, Bana, Êđê, Giarai, Coho,

Monông, Xtiêng, Mạ, v.v ) Đó cũng là nhóm loại hình của

nhiều tộc người sống rải rác trên bán đảo Đông Dương như Khả

(Lào), Pnông, Kuy (Campuchia), Môn, Va (Mianma, Thái Lan), v.v và khu vực đảo của Đông Nam Á nhu Moré, Xulu

(Philippin), Minankabao, buehs (Malaixia), _ Payal Kubu,

Battac, Xabaki (Indénéxia), v.v

Nhóm loại hình Đông Nam A ở Việt Nam gặp trong các tộc

Việt, Mường, Chàm, Khơme Nam Bộ, Hoa và các tộc ít người

miền núi phía Bác (Tày, Nùng, Thái, Mông, Dao Cao Lan - Sán Chỉ, v.v ) Đó cũng là nhóm loại hình của các dân tộc thuộc các quốc gia trong khu vực như Lào, Khơme, Thái Lan, Mã Lai,

Mianma (bán đảo Đông Dương), Giava, Xunđa, Manđura (Indénnéxia), Vixaia, Tagal (Philippin), v.v

Có đôi điều nói về thuật ngữ “Inđônêdiên” Kể từ cuối thế kỷ

XIX, nhiéu học giả nghiên cứu về Đông Nam Á đã nói tới loại

hình nhân chủng này, nhưng với nội dung không rõ rệt, thậm chí sai lầm Đầu tiên thì xem đó là một chủng tộc của người đa trắng

(De Quatrefages, 1899; A.C Haddon, 1924; E Eickstedt, 1934); đối với mot s6 khac thi Indénédién 14 mét chủng nguyên hình, chưa phân hóa rõ rệt (H Vallois, 1967: G Olivier, 1968); lai cd

trườg hợp đặt Inđônêdiên vào khung phân loại chủng Ôxtralôit (N.N Tchêbokxarôp, 1947; V.V, Bunak, 1956) hoặc một chủng

lai giữa Ôxtralôit và Môngôlôit (M.G Đebezt, 1958) Những tài

Trang 22

Nohien can Viet Nami: Mérsé van de

liệu nghiên cứu ở Việt Nam đã xác định Inđônedien là nhóm loại

hình của chủng Môngôlôit phương n ram, như đã trình bày

IT Nguồn gốc người Việt trên cơ sở tài liệu nhân n chủng h học

Giả thuyết về nguồn gốc người Việt có nhiều TT

1 Theo nguồn dã sử mà các thư tịch ‹ cũ của ta thuật lại thì tổ tiên

người Việt khởi xuất từ họ Hồng Bàng vớt truyền thuyết Lạc

Long Quân và Âu Cơ sinh 100 trứng, nở 100 con, đạt sự hưng

thịnh với dòng họ các vua Hùng, dựng nước Văn Lang -

Một số nhà nghiên cứu Pháp đựa vào sử liệu Trung Quốc thì giả

thiết cội nguồn người Việt là từ người đân Việt thời Xuân Thu (thiên niên kỷ 1 trước Công nguyên) có địa bần cư trú: tai lua vue

phía nam sông Dương Tử Đến thế kỷ IV trước Công nguyên, sau khi bị nước Sở diệt thì lưu vong xuống phía Nam, trở thành

người Bách Việt, trong đó có bộ phận là tổ liên trực tiếp của người Việt (người Lạc Việt đã đi xuống sinh cơ lập nghiệp tại

dia ban Bac Trung Bo ngay nay (Cl Madrolle, 1918; L

Quan điểm vẻ thuyết thiên cư từ phương Bắc cửa tổ tiên người

Việt cũng được lặp lại ở miền Nam nước ta thời trước 1975, theo

đó thì người Việt chẳng còn là một bộ phận trong Bách Việt, mà chính là “một chỉ nhánh của người Tàu” (Nguyễn Khác Ngữ, 1962), một thành phần “vốn tách ra từ dòng giống Trung Quôc” (Nguyễn Phương 1965)

Kết hợp các tài liệu sử ký của nước ta với nguồn sử liệu Trung

của đân tộc Việt là người Lạc Việi Nhưng họ có phải là con cháu người đân nước Việt thời Xuân Thư hay không? Họ đã có mật trên lãnh thổ Việt Nam từ bao giờ và trong bốt cảnh lich sử

Trang 23

Thành phần nhật: Chúng cácệC tứ:

nào?, Hình đựng :họ: ra sao3: Đế: là những nội dung đã: được bịu)

nhau: với .những han dink: khang :eu: thế:¡ có: phần; thiết chính

xác

Về nguồn: gốc: địa: lý dha ‘nur Lab “Viet, ‘Dao’ Duy Anh thes thuyết chủ trương: tổ tiếi hgười Việt tứ miêw Năm 'Trung` Quốc

tới' (Đào Dưy Anh '1057);`Vin' Tân fạï nối đến một SU'thieibditä

các hòn đảo & chau Dai duong (¥ af’ TAA) £9995

Wéuthanl phan: chang: 16¢ cha ngudtiLac Widi, Dao Duy Anh

giả “người Lạt :Việt ở:Bác Bọ:Việt Nawrlà:kế quả sự hòa đồng của 'Uếu: ViệL'rộc:và yếu tố: Anhđôned¡”;,:9ề “trong ngiời:Miết thì yếu tố 'Anhữốnôdi 1> thành phần chừyu\ BácR da dann: 20):

Vận “Tái 'cửhệ ho ting "ÄIianh lớ' ‘Anan Nung' ‘cht yêu củi, aah toc" ‘viet Nain’ ‘nha "tổ AinidonEffia Hah 18 Mông Cớthï cá

hhimÿ: đâu vẽt yeu đỡ niệt sở ít người Việt Nàih” (Stch Bá dâu 1959)

Tris Quốc Vưỡng và Ha Van Tah thi nhấn:địnỗ:“^Qúá'ttntr hình

tHÀAH người Việt: Narr Li quá drình'MibngBilit 'Rỏa; dy lil aan

ase yếu: tố cấu những chủng tộc khảe {Tấn Qiốc Vượng?@ Hà

Văn Tấn, 19 Lê '1671Mhư vay có phân ding Tủy nHiênk:độc Trần Quốc Vượng: (tới đồng tác gi Tà Nguyễn Dươii¿; Bình) dưa

bhi Một :v4i!'hhận xeFvê mới quản" thể: Mường ° ViệP Vũ giiứ Wr†nh phản hóa: ‘gift lộcMHòiig! Sa tic Viet tht hay: tàng quế" 'trình

Môngðlöit hớa đó lại 1a thốt NjỦa 'ình '“hba hộp Hếh €Ì VIỆC khiến “tàn: phân Hán đã: chí» riiổt +96 thận Hờng' 'trồng quá

trình HìnH thành 1oại' hìnH Ahad cht: Vier" Pratt Gude Vuong

và Nguyễn Dương Bình, 1971, tr 230-232) 'NHư §y,HÑeđ lôi cũng không dúng

Trang 24

Nghiên cứa Việt Nam: Mội số vấn đề

Dựa trên tài liệu nghiên cứu về thành phần nhân chủng các tộc người ở Việt Nam kết hợp với tài liệu Cổ nhán học, chúng tôi cũng đã đề xuất giả thuyết về cội nguồn người Việt trong một số bài đăng tải chủ yếu trên các tạp chí Ngiiên cứu lịch sử, Dân tộc học, Khảo cổ học và tập hợp trong hai chuyên khảo Các đán tộc

ở miền Bắc Việt Nam (1976) và Các dân tộc ở Việt Nam (1983)

Giả thuyệt tổ ra phù hợp với tài liệu Cổ nhân học đã phát hiện

được và bổ sung phong phú sau này

2 Như đã trình bày, các tộc người ở Việt Nam thuộc hai nhóm

loại hình nhân chủng Inđônêdiên và Đông Nam Á Như vậy, để

tìm hiểu cội nguồn người Việt (và cả cội nguồn các dân tộc Việt

Nam) phải ngược dòng lịch sử làm sáng tỏ quá trình hình thành các nhóm loại hình nói trên, tức cội nguồn của chúng Giải quyết

vấn đề này phải dựa vào tài liệu Cổ nhân học: ưu thế của chúng

là càng xa xưa càng phản ánh rõ nét và chính xác sự khác biệt giữa các chủng tộc và các loại hình nhân chủng sau khi phân hóa

từ một cội nguồn chung

Từ đầu thế kỷ XX đến nay, trên lãnh thổ Việt Nam đã phát hiện

nhiều xương cốt người thuộc các thời kỳ lịch sử khác nhau Những tài liệu đầu tiên được công bố thời kỳ thuộc Pháp, tập trung chủ yếu vào thời đại đá mới thuộc nền văn hóa Bắc Sơn Sưu tập quan trọng nhất, gần 20 sọ là sưu tập làng Cườm, một địa danh thuộc huyện Bác Sơn, tỉnh Lạng Sơn Các học giả Pháp xác định chúng thuộc nhiều loại hình nhân chủng mà đại bộ phận là hai nhóm loại hình Inđônêdiên và Mêlanêdiên (một nhóm loại hình của chủng Ôxtralôit mà nay chỉ thấy ở khu vực đảo Đông Nam Á), trong khi nội dung khái niệm Inđônêdiên cũng chưa xác định

Sau Cách mạng Tháng Tám, việc nghiên cứu cổ sử Việt Nam

Trang 25

Thành phần nhân chứng các lộc Hgười

được xúc tiến mạnh mẽ: xương cốt người cổ thời đá mới tiếp tục được phát hiện⁄với đặc trưng Inđônêdiên nổi bật: đặc biệt là sự phát hiện những sọ thời đại đá giữa (văn hóa Hòa Bình) ở Bá

Thước, Thanh Hóa (1984) và ở Kỳ Sơn, Hòa Bình (1987), lấp

một điểm trắng trong lịch sử Cổ nhân học ở nước ta; thêm nữa, những sưu tập sọ niên đại đồng thau và sơ kỳ sắt với nền văn hóa Đông Sơn được đưa ra khỏi lòng đất làm sáng tỏ một thời kỳ

phát triển hưng thịnh của lịch sử Việt Nam Những sọ cổ thời đá

giữa còn ít vẻ.số lượng nhưng cho thấy tính chất chưa phân hóa | của chúng trong sự kết hợp giữa hai chủng tộc lớn Ôxtralôit và

Môngôlôit (Nguyễn Lân Cường, 1986, 1991): giả thiết của

chúng tôi coi cội nguồn của người Inđônêdiên từ một loại hình

chưa phân hóa Ôxtralôit - Môngôlôit đã được chứng minh

(Nguyễn Đình Khoa, 1979) Xương cốt người cổ Đông Sơn tìm

thấy trong mấy trăm mộ táng, nhưng chỉ trên 7Ô sọ và các hộp sọ

còn tương đối nguyên vẹn để nghiên cứu được (tập trung ở các tỉnh phía Bắc, quanh lưu vực sông Hồng và sông Mã) Những

xương cốt đầu tiên phát hiện vào 1966-1967 trong di chi Vinh Quang (Hoài Đức, Hà Tây) cung cấp một số sọ cho phép nhận định: đó là những sọ Inđônêdiên và lần đầu tiên phát hiện loại

hình sọ Đông Nam Á (Nguyễn Đình Khoa, 1976) Nhận định

này được khẳng định bởi những khai quật khảo cổ tiếp theo từ năm 1977 đến gần đây và được bổ sung thêm chừng 60 sọ cổ

Đông Sơn của Nguyễn Lân Cường

Vậy-là, từ thời đại đá mới đến thời đại kim khí, cư dân Việt Nam

chủ yếu cũng thuộc hai nhóm loại hình Indénédién va Dong

Nam Á như cư dân Việt Nam hiện tại Tất nhiên đó là những người Indénédién va Déng Nam Á cổ, chính là tổ tiên trực tiếp

của các tộc người Việt Nam hiện nay, trong đô có người Việt

Nhưng còn những câu hỏi đặt ra: Người Đông Nam Á cổ, tổ tiên

Trang 26

NgÌMén của Viet Nani: Matsa van dé

người Việt từ đâu tới? Môi quan hệ:giữa họ và:người:Inđônêdiên

cổ rà sao? lản thần:người dônêdiên:cổ này sinh: ra từ đâu? Tức

là tìm dia baa ‘sinh thành của các nhóm kiại hình Indônêdiên và

Đông Nam Á gỏ.:Cũng là giải đáp về :cơ:bản vấn đề n#uồn gốt người Việt và cội nguồn các dân tộc hiện nay.ở:nước facia:

3 Giá thiết của chúng 1 tôi là Nhóm loai hĩnh indénédien € có ở

Việt Nam thời đá mới đã sinh ra từ một loạt hình chưa phân | hóa

Oxtraloit - - Mongoloit theo chiéu hướng phát triển ngày một dam

nét những đặc trưng Môngôlôit (quá: trình Mongoloit hóa) Quá

trình này không giới hạn trên lãnh thỏ Việt Nam, ma bao qual

những vùng rộng lớn trên hán đảo Đông Duong chinh xác hơn {a phan lục dia của Đông Nam Á có Xưa, không hoàn toàn theo địa giới các quốc gia hiện nay, mà trải rộng lên cả mạn Đông

Nam Trung Quốc Như vậy hậu: duệ của người Inđônediên.: cố,

tức các lộc người Indônediên hiện sống trên bán dao la cur dan

ban dja của khu vực; rồi tiếp sau do, một số nhóm mới thiên, cư

ra phía đảo, để lại con chấu ngày nay gập, ở ‘Philippin hay Inđônềxia Cùng với quá trình Môngòlôit hóa, có khả năng diễn

ra quá trình Ôxtralôit hóa (lang cường những đặc” trưng

Oxiraldit) sinh ra những nhóm loại hình khác nhau của chũng

Ôxtalöit Nhưng ở Việt Nam, những sọ cổ được xem là thuộc

những loại hình này (nur sO Mélanédién) thi it i va mat dan: cé

thể một phản họ đã hòa đồng vào các cộng đồng ) Inđônediên là

chủ nhân của bán đảo Đông Dương thời đá mới, một phần thiên

cư ra khu vực đảo Nội dung vừa trình bày minh hoa theo sở đỗ

Bài toán phức tạp hơn phải giải đáp là nội dung quá trình hình

thành nhóm loại hình Đông Nam Á cổ Do tiến hành nghiên cứu

các tộc Brư - Vân Kiểu ở Trường Sơn (xác định nhóm loại hình

Trang 27

Thanh phan nhdn ching cdc téc !NGHỚI

;dLpạt hình ghưa?: c0 7 buổi ete Nab bes no

phận hóa Capita es 0 deeb Po hgh ity tp ghee

xẻ

¬ ts “eats hudhig ki kha a ning)

mm

.- ä9g đồ:E; Quá trình: hình thành nhóm lod hình: sử Indénédien:

co : (Aguyên Dink Khoa; L379, 4983) ¬- -

Inđônêndiên), tiếp đó thu thập tài liệu và à định chủng ‹ các tộc

Khợmu.Kháng, Laha ở Thuận Châu Sơn La (xác định nhóm loại

hình Đông Nam Ay, có sự so sánh với các Tộc Khả ở Lào; do học

giả Tháp: N: Bectia nghiêti cứu và định loại Inđẳnediên (1904)

chúng tôi đã phát hiện «qua trình chuyển biến loại hình từ

Inđônêdiên thành Đông Nam Á ở Việt Nam (Nguyễn Đình Khoa, 1971-1972), Đại thể nội dung vấn dé như sau:

Những tộc Ít người thuộc nhóm loại hình Đông Nam A noi trên

la cu dan ban ‘dia ‘au đời ở Tay Bắc Các tộc Hành Khởmu, Kháng, Laha Tà tên từ gói thới ¿hín (hức Nóa về mặt Tãnh chính

là biến am của Khả, các tộc ít người ở Lào, mà với họ có chung một cội nguồn (ở Lào cũng có.người Khơmu.và nhiều tộc người

Trang 28

Nghiên cứu Việt Nam: Mội số vấn dé

cùng tên gọi với các tộc Inđônêxia ở Trường Sơn) Láng giềng kế cận với người Xá ở Tây Bác Việt Nam là người Thái, chuyển tới khu vực muộn hơn, nhưng đông hơn về số lượng, trình độ văn

hóa - xã hội cũng phát triển cao hơn Từ đó, mối quan hệ Xá -

Thái nhiều mặt đã diễn ra, ít nhất cũng ngót 10 thế kỷ qua (từ giao tranh, chiếm đất đến hợp tác, tương trợ sau này) Đó là những mối quan hệ văn hóa - xã hội Liền đó có mối quan hệ

sinh học về huyết thống, ảnh hưởng tới thể chất con người Lịch

sử nhân loại đã cho thấy một hiện tượng xem như quy luật: các

tộc người tiếp xúc nhau thường khi xung đột, nhưng không ngừng bôn phối Kết quả là tổ tiên các tộc Xá với các cộng đồng

Khả ở Lào và Bru - Vân Kiều ở Trường Sơn vốn cùng một cội

nguồn (loại hình Inđônêdiên cổ), nhưng do tác động sâu đậm

của người Thái (loại hình Đông Nam Á), nên người Xá đã

chuyến biến về !oại hình nhân chủng - từ Inđônêdiẽn thành Đông Nam Á, tuy còn lưu lại những dấu ấn nhất định Inđônêdiên Ta

Điển hình lInđôn&diên ị Đặc điểm mêtric tương đồng

Đặc điểm mô tả phân hóa

Sơ đồ 2: Quá trình chuyển biến loại hình ở người Xá: Inđônediên

thành Đông Nam Á (Nguyễn Đình Khoa, 1971-1972)

Sơ đồ 2 cho thấy Bru - Vân Kiểu có vị trí trung gian trong một

quá trình chuyển biến liên tục: tuy với Xá, họ đã phân hóa hẳn

trên những đặc điểm mô tả, tức những đặc điểm không xác định

Trang 29

Thành phần nhân chúng các tộc người

bằng thước đo (non metric traits) như màu da, hình tóc, hình dang các phần mềm ở đầu mặt (vùng mắt, mỗi, miệng), nhưng

về đặc điểm metric thì vẫn ít nhiều tương đồng Quá trình

chuyển biến loại bình Inđônêdiên Đông Nam Á còn là chiều hướng phổ biến hiện nay và tương lai trên bán đảo Đông Dương

và cả khu vực Đông Nam Á Do nhóm loại hình Inđônêdiên

trong cư dân của khu vực chỉ choán một tần suất tối thiểu, nên

một sự chuyển biến trái chiêu Đông Nam Á - Inđônêdiên có hiện

diện ở đâu đó cũng chỉ hãn hữu và nhất thời

4 Đến đây, vấn đề nguồn gốc người Việt đã dần sáng tỏ, tuy vẫn

chỉ trong phạm vi giả thuyết Trước hết, cần hiểu đúng nội dung

Sơ đồ 2 từ thực tế nghiên cứu ở Việt Nam, động lực gây sự

chuyển biến Inđônêdiên (Bru - Van Kiéu) > Dong Nam A (XA)

là một yếu tố Đông Nam Á (Thái), Như vậy thì những sọ cổ

Đông Nam Á văn hóa Đông Sơn ở đây phải là những nhân vật

thiên di từ nơi khác tới Tiếp đó, hoặc họ sẽ sinh ra các thế hệ

con cháu thuộc loại bình nhân chủng của tổ tiên, hoặc họ tác động vào các cộng đồng Inđônêdiên, biến chúng thành Đông

Nam Á Nhưng cĩng không loại trừ một quá trình biến đổi tự

thân trongcác cộng đồng Inđônêdiên trở thành Đông Nam Á Vì

đã có trường hợp phức tạp mà lý thú như sự phát triển nổi tiếng

về cổ nhân hoc trong hang Mugharet Skhul thuộc vùng núi Cacmen (Mont Carmel) ở Palestin vào năm 1931-1932 cung cấp

các sọ cổ với đặc điểm kết hợp vừa của người Nêanđectan (trung

kỳ thời đại đá cũ) và của người Xapiên hiện đại (hậu kỳ thời đại

này) mà không phải đo kết quả của hỗn chủng Đành phải chấp nhận một giả thuyết về sự chuyển biến nội tại từ Nêanđectan (cổ

Xapiên) thành Xapiên hiện đại

Tóm lại, loại hình Đông Nam Á cổ ở Bác Việt Nam, tổ tiên trực

Trang 30

Nghiên củu:Liệt Nam: NỘI sở vấn để", -

tnột phần Nam Trung:Quốc): và:là cư dân bản địa trên lãnh thổ Việt Nam:từ thời đại kim khí (đồng: thau và: sơ kỳ: sãQ Rõ ràng

không có cltng cứ gì đề nói ràng họ là cư dân thời Xuân Thu

hoặc mội bộ phận của Bách Việt mới tới Việt Nam vào thế kỷ IV

thau với sợ Việt hiện nay thì rất tương đồng: sợ cề chỉ ít nhiều lớn hơn vẻ kích thước thco quy luật thanh mảnh hóa:vẻ: tính biến

đị của sọ hiện đại 80, VOL $0 cổ Như vay cling phủ định quan niệm về quá trình “hòa “hợp Hán - Việt trong loại hình nhân chủng của người Viet dưới thời Bắc thuộc

Điều đáng chú ý là hai, Hàm: loại hình, chil yếu, của ¡ chẳng

MôngôloiL phương Nam trên Bán dao Dong Dyong.- Indonédién

va Dong Nam Á đã hình thành trong gụa đoạn lịch sự tíng với hai nen van hóa:lớn của nhận loạt - đá mới: và kim khí Như vậy hoàn toàn không có nghĩa đem gán loại hình văn: hóa với loạt hình chúng tộc cọi chủng: tộc là nguyện nhân sắng lạo ra các nén: văn, hóa, Mối quan hệ này nêu có thì không phải nhân quả

tà hch sử diễn biến theo đồng chảy của thời gian trong môi trường xã hội mà kết quả SẺ tiếp tục làm biến đổi hình thái cơ thể con người,

§ Trong lịch sử dân tộc Việt Nam có giai đoạn thời các vua

Hùng mở: đầu cuốn sử đựng nước và giữ nước lâu dài của chúng

tạ Khủng niên đặt ấn định cho giải đoạn này trùng khớp với nền

vin hóa đồng thau và sơ kỳ sắt đỉnh cao là văn hóa Đông Sơn

mà những di chỉ khảo cổ với những sưu tập hiện vật hết sức phong phí thì tập trung ở khu vực đống bằng Bắc Bỏ và Bác

Trung Bộ thuộc cương vực nước Văn Lang dat nước Hùng

Trang 31

Thành phẩn nhĩ chng Các TỘC HgHỜI

Vương Như:-vậy.:kết quả nghiên cứu trình: bày trong bài việt may

là một nội dung quan trong của giai đoạn lịch sử các vua' Hùng -

vấn, đệ cự dân nước Văn lang CNguyện Đình khoa, 197A) Theo

sử sách thì cư dân Văn Lang là người, Lạc Việt, 16 tiên trực tiếp của dân tộc Việt Nhưng trong thành phan cu dan Van Lang

khóng chỉ có tổ: tiền 1rực tiếp của người Viet (Dong Num A cổ)

nà còn có tổ tiêii của họ (Inđônediên cố) như đã chủng minh 2

chuyển biến Inđôneđiên thành Đông Nam Á Như vậy người Lạc 'Việt không đơn nhất, mà bao gồm nhiều thành phản nhân

nhớm loại hình trung" gian, đang trong - quá trình chuyển biến:

Tiường hợp này, Lạc Việt Không chỉ l tổ tiên của igười Viet:

mã là tổ tiến chung của nhiều ‘toc’ 'người hiện nay ở Việt Nam (Inđôiietiên và: Đông Nam A) Con néu Lae Việt là tô đèn ' Tiếng

của người Việt thì: phải kế đến nöười Tây Âu: tổ tiên các tộc người có địa bàn cữ trú đầu tiến ở Nai phần Trung Quốc Xưa (thuộc khu,vực Đông Nam A cö) như Choang, Nùng, Thái sau, này hòa nhập với cư dân Van Lang thanh Âu Lạc Digu | lý

thú là, với tính chất nhiều thành; phần ,cự, dân buổi,đầu dựng

nước đã là quột ,phác, thảo, khởi nguyên cửa nước, Việt Nam đa dân tộc :hiện.nay Chủ tịch, Hê:Chí Minh ngay sau tháng lợi của Cách mạng Tháng Tam, ; trong: bite thy .gửt Đại hội.các dân tộc thiểu, số họp,,tại :Plâyku tháng 4 năm :!946 đã viết một cậu: kỳ diệu; “Đồng bào Kinh hay Thổ Mường hạy: Mán,., Giarai hay Êđe Xédang hay Bana và các dân tộc thiếu số khác: đều là con

chấu, Viet Nam, dev là anh em một thir’ Đá, lài một, ›L lời kêu sợi

thượng, dan ma, ‘chia đựng một HỘI dụng khoa học š xâự sắc, „ đồi lor nghiên cứu công phụ mới hiểu ra Như vậy, chặng đường lịch

sử gắn bó:con,người Việt Nam với que hương mình không - han

Trang 32

Nghiên cứu Việt Nam: Một số vấn đề

hạn hẹp trong vòng ba - bốn nghìn năm, mà còn ngược về quá

Ill Ap lực văn hóa - xã hội và quá trình hòa đồng cấu trúc

di truyền của nhân loại

Người Homo sapiens hay Xapiên hiện đại (Modern Sapiens) xuất

hiện trên trái đất vào hậu kỳ đồ đá cũ, cách đây khoảng 3,5 - 4 vạn năm, và cùng với họ, quá trình hình thành chủng tộc đã tiếp diễn So với các giai đoạn lịch sử trước đó, xã hội loài người đã

có bước tiến bộ quan trọng: sản xuất phát triển, tổ chức thị tộc

ngoại hôn xuất hiện khiến sinh lực và dân số gia tăng, tuy còn chậm chạp Tới sơ kỳ thời đại đá mới, số người trên hành tính

chỉ chừng 5 - 7 triệu, phân phối không đều, thường sống cách biệt nhau mà di truyền học gọi là những quần thể cách ly

(isolates) Dd 1a điều kiện để hình thành chủng tộc đưới ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên (địa lý khí hậu)

Tiếp đó cải tiến công cụ, nông nghiệp (trồng trọt chăn nuôi) nảy sinh tạo ra cuộc cách mạng kỹ thuật đầu tiên trong lịch sử -

Cách mạng đồ đá mới Những tạo phẩm văn hóa ngày càng

phong phú, đa dạng, đã hạ thấp tối thiểu tác động của chọn lọc

tự nhiên và mở rộng vùng cư trú Cuộc sống cải thiện, dân số gia tăng gấp, phá bỏ sự ngăn cách giữa quần thể cư dân: hỗn chủng diễn ra ngày càng rộng khấp Từ sau khi phát hiện ra châu Mỹ

(thế kỷ XV), những dòng người di cư, các cuộc chiếm đoạt thuộc

địa đã là những sự kiện tạo ra tiếp xúc và hôn phối giữa các chủng tộc cách nhau rất xa về địa lý Tình hình này đã xóa dân địa giới của chủng tộc và chấm dứt quá trình hình thành của chúng: chủng tộc sẽ chỉ là một mômen tồn tại khách quan trong lịch sử và ngày nay đang mờ nhạt dần Có tác giả nghiên cứu _ nhịp độ hỗn chủng giữa người da đen và da trắng ở Bắc Mỹ đã

Trang 33

Như vậy, cấu trúc di truyền của loài người trong tương lai sẽ ra

sao? Sẽ không phải là bức tranh chủng tộc, mà là các quần thể Menđen mở với các dòng gen trao đổi, tạo ra tính đa hình di truyền mà những đặc điểm chủng tộc trước đây biến đổi gián

đoạn thì nay phân bổ theo một phổ liên tục từ nơi này đến nơi khác (chnal distribution), trừ trường hợp cá biệt do phiêu bạt di

truyén (genetic drift) boi su chuyén dịch một nhóm người từ

vùng cư trú của họ đến một địa vực khác không kế cận Gia

thiết: những quần thể mở này xuất hiện từ thời đại đá mới là sự

báo hiệu thời điểm chấm dứt sự hình thành chủng tộc và sự tiêu vong của chúng trong tương lai Tuy nhiên, khác với sự tiêu vong của chúng tộc sinh vật dưới áp lực chọn lọc tự nhiên, chủng tộc loài người tiêu vong trong sự hòa đồng, đem lại lợi ích to lớn về

sinh lực và kha nang tính thần, bảo đảm cho người Xapiên thành một loại hình sinh học trẻ mãi không già trên hanh tinh ching ta

Thay cho chủng tộc, các quần thể mở sẽ là một đối tượng nghiên

cứu không bao giờ cạn cho Nhân học và Di truyền học quần thể

về con người Nhân đây nói thêm: chủ nghĩa phân biệt chủng

tộc, phản động và phản khoa học từ cội nguồn, phát sinh trong

điều kiện lịch sử nhất định sẽ không tránh khỏi lần lượt phá sản

và không còn đất tồn tại bởi các cuộc đấu tranh'cách mạng và trước những đữ kiện nhỡn tiền của khoa học Đó là điều tất yếu

Trang 34

Nghiên cứu Việt Nam: Một số vấn đề

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

Hồ Chí Minh:

- Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam Playku, tháng 4-

1946 Trong Hồ Chí Minh tuyển tập Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960,

tr 235

Đào Duy Anh:

- Nguồn gốc đân tộc Việt Nam, Hà Nội, 1957

Nguyễn Lân Cường:

- Những xương cốt người trong các di tích văn hóa Hòa Bình ở Việt Nam, Khảo cổ học, số 1-1986

- Tìm thấy di tích người cổ ở Động Can, Hà Sơn Bình Hình thái học,

ˆ tập 1, 1991

- Đặc điểm nhân chúng cu dan văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam Tóm

tắt luận án Phó Tiến sĩ khoa học lịch sử, Hà Nội, 1993

Nguyễn Đình Khoa:

- Về yếu tố Inđônêdiên trong thành phần nhân chủng các dân tộc Ở

Đông Nam Á Nghiên cứu lịch sử, số 75, 1965

- Những người Xa ở Tây Bắc Nghiên cứu lịch sử, các số 141, 1971,

và 142, 1971

- Con người thời Hùng Vương Trong Hùng Vương dựng nước, Lập

IV Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974, tr 116-133 :

- Các dân tộc ở miền Bắc Việt Nam Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

Trang 35

Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn:

- Sơ yếu khảo cổ học nguyên thúy Việt Nam, Hà Nội, 1961, tr 167 Trần Quốc Vượng - Nguyễn Dương Bình:

- Một vài nhận xét về mối quan hệ Mường - Việt và quá trình phân

hóa giữa tộcMường và tộc Việt Thông báo Sử học, tập V, 1971, tr 203-232; Đại học Tổng hợp Hà Nội

Tiếng Nga:

V.V Bunác:

- Rasit i Process tkh Férmirévania Xov Eth N° 1-1956

G.F Debes:

- Ôpứt grafitrescévé iz razenia genealdgitrescéi classificasii

trelovetreskich ras Xov Antr N° 4, 1958

N.N Trêbôsarốp:

- O préiskhézdenii Kitaixép X Eth No 1, 1847

- Ôsônưe prinsipw Antrépélogitreskich classificasii Trudu Inst Eth

N Bernard: Les Khas, peuple inculte du Laos francais Notes

anthropologiques et ethnographiques Extra bull historique

Trang 36

Nghiên cứu Việt Nam: Một số vấn dé

Cl Madrolle: Les populations de I'Indochine La dépéche coloniale

illustrée N special: I'Indochine Paris, 1968

G Olivier: Anthropologie des Cambodgiens Paris, 1968

De Quatrefages: Histoire générale des races humaines Paris, 1889

H Vallois: Les races humaines Presses universitaires de France :

Paris, 1967 —

Trang 37

GS Phan Huy Lê ”

Thiết chế chính trị: Di sản và kế thừa"

1 Nói đến di sản lịch sử dân tộc để lại mà ngày nay chúng

ta trân trọng và kế thừa, thường có khuynh hướng chỉ nhấn mạnh

di sản văn hóa, mà ít nói đến, thậm chí không thừa nhận thiết

chế chính trị cũng là một đi sản có những giá trị cần khai thác Khuynh hướng và thái độ đó xuất phát từ quan niệm cho rằng thiết chế chính trị mang nặng tính giai cấp và thiết chế chính trị

trước đây là công cụ thống trị của giai cấp bóc lột, nên cách

mạng vô sản và chủ nghĩa xã hội chỉ đập phá chứ không kế thừa

Dĩ nhiên thiết chế chính trị mang tính giai cấp, nhưng điều đó hoàn toàn không có nghĩa là vì thế mà loại bỏ thiết chế chính trị của quá khứ ra khỏi di sản lịch sử và cho rằng trên lĩnh vực này

không có gì để kế thừa trong xây dựng thiết chế chính trị hiện

nay Mọi cuộc cách mạng dù triệt để đến đâu, đứng về phương

diện lịch sử đều có mặr đứt đoạn và mặt liên tục, mặt đập phá, từ

bỏ và mặt kế thừa, phát triển Bất cứ một công cuộc phục hưng dân tộc nào cũng xuất phát trước hết từ những đặc điểm của nước đó với tất cả di sản lịch sử - văn hóa của mình để tìm đường -

e Giáo sư Phan Huy Lê - Chủ nhiệm khoa Đông Phương, Trường Đại học Khoa học

xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội

«+ Bài này là một công trình nghiên cứu trong để tài cấp Nhà nước KÖX.05-03 đã được

nghiệm thu và đã đăng trên Tạp chí Khoa học số 2 năm 1993

Trang 38

Nghiên cứu Việt Nam: Mội số vấn đề

tiến lên phù hợp với xu thế chung của thời đại, trong đó những giá trị và kinh nghiệm tích cực cần được kế thừa và phát huy, những mặt yếu kém và lỗi thời cần khắc phục để tiếp nhận những thành tựu mới của văn minh nhân loại Mọi sự đoạn tuyệt

và quay lưng với di sản lịch sử đều dẫn đến những hậu quả nặng

nề

Hơn thế nữa, trong xã hội có giai cấp ở phương Đông, Nhà nước

và thiết chế chính trị mang những nét đặc thù khác với phương

Tây Ỏ đây, nói chung Nhà nước xuất hiện sớm và ngoài chức

năng bảo vệ quyền thống trị và bóc lột của một tầng lớp, một

giai cấp nhất định, còn phải đẩm nhiệm những chúc năng công cộng liên quan đến sự tôn vong của cả cộng đồng Đó là chức năng xây dựng và quản lý các công trình thủy lợi khá phổ biến đối với các quốc gia văn minh nông nghiệp phương Đông và chức năng tự vệ chống ngoại xâm đặt ra bức thiết đối với một số quốc gia Những chức năng công cộng này đồi hỏi có những thiết chế chính trị phù hợp vừa mang tính cộng đồng và dân tộc cao, vừa được kế thừa và phát triển liên tục trong lịch sử mà mọi Nhà nước tích cực đều phải đảm đương trên cơ sở kế tục và tiếp nhận những kinh nghiệm của quá khứ

Vả lại, sự phân hóa xã hội và phân hóa giai cấp ở phương Đông cũng không đi theo con đường như phương Tây với sự phân hóa giai cấp gay gắt từ khi hình thành Nhà nước đầu tiên và phát triển qua các hình thái xã hội chiếm hữu nô lệ với giai cấp chủ

nô và nô lệ, hình thái xã hội phong kiến với giai cấp lãnh chúa và nông nô, hình thái xã hội tư bản chủ nghĩa với giai cấp tư sản và

công nhân Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội

phương Đông mang những đặc thù gắn liên với những khái niệm

như “hình thái xã hội phương Đông”, “hình thái xã hội Á châu”

Trang 39

Tiuết chế chính trị

hay “phương thức sản xuất châu Á" mà giới sử học thế giới và

nhiều ngành khoa học liên quan đã tranh luận trên nửa thế kỷ

nay Những khái niệm chế độ chiếm hữu nô lệ và cả chế độ

phong kiến theo mô hình phương Tây nói chung không phù hợp với kết câu kinh tế - xã hội và thiết chế chính trị phương Đông

Ở đây, sự phân hóa đẳng cấp diễn ra sớm hơn, đậm nét hơn sự

phân hóa giai cấp và sau đó tiếp tục kết hợp với sự phân hóa giai

cấp, đồng thời công xã nông thôn với những cấu trúc cộng đồng bền vững bảo tồn lâu dài

Trong những đặc thù của phương Đông như thế, thiết chế chính trị bên cạnh chức năng giai cấp còn mang những chức năng xã hội phần ánh lợi ích chung của cộng đông quốc gia, cộng đồng đân tộc trong cuộc đấu tranh sinh tồn bao gồm cả công cuộc lao động thích nghỉ và cải tạo thiên nhiên, cuộc chiến đấu bảo vệ vận mạng của cộng đồng Chỉ thấy tính chất và chức năng giai cấp mà không thấy hay không thừa nhận tính chất và chức năng

xã hội của thiết chế chính trị là không phù hợp với thực tế lịch

sử, nhất là của phương Đông +

2.6 Việt Nam, Nhà nước đầu tiên theo kết quả nghiên cứu

khoa học hiện nay, được hình thành trên cơ sở văn hóa Đông Sơn

vào khoảng thiên niên kỷ thứ | trước Công nguyên Đó là một Nhà nước sơ khai ra đời trên cơ sở tập hợp 15 bộ lạc (theo Đại

Việt sử lược) người Lạc Việt ở vùng đồng bằng và trung du

Nước Âu Lạc tiếp nối nước Văn Lang, mở rộng sự liên kết giữa

người Lạc Việt với người Âu Việt ở miền núi phía Bac

Sau khi dựng nước, nước Văn Lang, Âu Lạc, rồi nước Đại Cổ

Việt, Đại Việt, Đại Nam, Việt Nam đã phải đương đầu với họa

xâm lược kéo dài của nhiều đế chế phương Đông thời Cổ - Trung

dai và nhiều đế quốc thời Cận - Hiện đại Số lượng, thời gian

Trang 40

Nghiên cứu Việt Nam: Một số vấn đề

chống Tống, chống Mông Nguyên, chống Minh, chống Xiêm,

chống Thanh, chống Pháp, chống Mỹ Đặc điểm này tác động

và để lại dấu ấn sâu sắc trong toàn bộ tiến trình lịch sử cũng như

đời sống văn hóa, tư tưởng, thiết chế chính trị của nước ta

Văn minh Việt Nam vốn là văn minh nông nghiệp dựa trên nên

tảng chủ yếu của kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước Công cuộc

khai hóa vùng đồng bằng, khẩn hoang lấn biển vùng ven biển

cho đến kinh tế nương rẫy ở miền núi luôn luôn đòi hỏi những

công trình tưới nước, tiêu nước, chống hạn, lũ lụt Nào là dé

sông, đê biển, những phai mương ở miền núi, những đập (yến) ở

miền trung, những kênh rạch ở vùng đồng bằng, các công trình

thủy lợi mang tính đa dạng tùy theo từng vùng địa hình và khí

hậu khác nhau, nhưng đều cần có vai trò tổ chức và quản lý của

Nhà nước, vai trò hiệp tác lao động của các cộng đồng cư dân

địa phương Trải qua kinh nghiệm của hàng nghìn năm lao động nông nghiệp và đấu tranh chống thiên taitrong thiết chế chính

trị, trong đời sống xã hội đã hình thành những tổ chức, những

quy chế, những tục lệ với sự phân cấp và kết hợp chặt chế giữa chính quyền trung ương với chính quyền điạ phương và các công

xã nông thôn, các làng xã

Kết cấu kinh tế - xã hội của Việt Nam cũng có những dặc điểm riêng ảnh hưởng đến thiết chế chính trị của Nhà nước Cơ sở xã

hội phổ biến và bên vững là công xã nông thôn với những tên gọi

khác nhau theo từng tộc người `và từng thời, từng vùng Ví dụ,

người Kinh gọi là Chiểng, Cha rồi sau chuyển thành Làng, Thôn;

Ngày đăng: 03/06/2022, 13:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  sọ  Đông  Nam  Á  (Nguyễn  Đình  Khoa,  1976).  Nhận  định  này  được  khẳng  định  bởi  những  khai  quật  khảo  cổ  tiếp  theo  từ  năm  1977  đến  gần  đây  và  được  bổ  sung  thêm  chừng  60  sọ  cổ  Đông  Sơn  của  Nguyễn  Lân  Cường - Nghiên cứu Việt Nam: Một số vấn đề lịch sử - kinh tế - xã hội - văn hóa
nh sọ Đông Nam Á (Nguyễn Đình Khoa, 1976). Nhận định này được khẳng định bởi những khai quật khảo cổ tiếp theo từ năm 1977 đến gần đây và được bổ sung thêm chừng 60 sọ cổ Đông Sơn của Nguyễn Lân Cường (Trang 25)
Hình  Đông  Nam Ay,  có  sự  so  sánh  với  các Tộc Khả  ở  Lào;  do  học  giả  Tháp: N: Bectia  nghiêti  cứu  và  định loại  Inđẳnediên  (1904) - Nghiên cứu Việt Nam: Một số vấn đề lịch sử - kinh tế - xã hội - văn hóa
nh Đông Nam Ay, có sự so sánh với các Tộc Khả ở Lào; do học giả Tháp: N: Bectia nghiêti cứu và định loại Inđẳnediên (1904) (Trang 27)
Sơ đồ  2:  Quá  trình  chuyển  biến  loại  hình  ở  người  Xá:  Inđônediên - Nghiên cứu Việt Nam: Một số vấn đề lịch sử - kinh tế - xã hội - văn hóa
2 Quá trình chuyển biến loại hình ở người Xá: Inđônediên (Trang 28)
Bảng  2:  Ty  lệ  ruộng  công,  ruộng  tư  ở  một  số  vùng  miền  Bác. - Nghiên cứu Việt Nam: Một số vấn đề lịch sử - kinh tế - xã hội - văn hóa
ng 2: Ty lệ ruộng công, ruộng tư ở một số vùng miền Bác (Trang 112)
Bảng  thống  kê  dưới  đây  sẽ  cho  biết  cụ thể  thêm  tình  hình  sở  hữu - Nghiên cứu Việt Nam: Một số vấn đề lịch sử - kinh tế - xã hội - văn hóa
ng thống kê dưới đây sẽ cho biết cụ thể thêm tình hình sở hữu (Trang 115)
Bảng  5:  Tình  hình  sở  hữu  ruộng  đất  của  các  chức  sắc. - Nghiên cứu Việt Nam: Một số vấn đề lịch sử - kinh tế - xã hội - văn hóa
ng 5: Tình hình sở hữu ruộng đất của các chức sắc (Trang 120)
Bảng  6:  Tình  hình  sở  hữu  ruộng  đất  trong  các  chỉ  họ  Vũ. - Nghiên cứu Việt Nam: Một số vấn đề lịch sử - kinh tế - xã hội - văn hóa
ng 6: Tình hình sở hữu ruộng đất trong các chỉ họ Vũ (Trang 122)
Bảng  7:  Tương  quan  về  đân  số  và  ruộng  đất - Nghiên cứu Việt Nam: Một số vấn đề lịch sử - kinh tế - xã hội - văn hóa
ng 7: Tương quan về đân số và ruộng đất (Trang 124)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm