ĐỀ CƢƠNG ÔN THI MÔN ĐỊA LÝ DU LỊCH 1 Quan niệm về tài nguyên du lịch 1 Quan niệm tài nguyên – Theo Phạm Trung Lương đã định nghĩa “Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng, thông tin có trên Trái đất và trong không gian vũ trụ liên quan, mà con người có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình” – Còn theo PGS TS Trần Đức Thanh “ Tài nguyên là tất cả những nguồn thông tin, vật chất, năng lượng được khai thác phục vụ cuộc sống và sự phát triển[.]
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN ĐỊA LÝ DU LỊCH
1 Quan niệm về tài nguyên du lịch
1 Quan niệm tài nguyên
– Theo Phạm Trung Lương đã định nghĩa:“Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng gồm tất cả
các nguồn nguyên liệu, năng lượng, thông tin có trên Trái đất và trong không gian vũ trụ liên quan, mà con người có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình”
– Còn theo PGS.TS Trần Đức Thanh: “ Tài nguyên là tất cả những nguồn thông tin, vật
chất, năng lượng được khai thác phục vụ cuộc sống và sự phát triển xã hội loài người
Đó là những thành tạo hay tính chất của thiên nhiên, những công trình do bàn tay khối
óc của con người tạo nên, những khả năng của loài người…được sử dụng phục vụ cho sự phát triển kinh tế và xã hội của của cộng đồng”
– Như vậy, có thể tóm lại: Tài nguyên là tất cả những gì thuộc về tự nhiên và tất cả
những sản phẩm do con người tạo ra
1 Quan niệm tài nguyên Du lịch
– Nguyễn Minh Tuệ: “ TNDL là tổng thể tự nhiên, văn hóa-lịch sử cùng các thành phần
của chúng có sức hấp dẫn du khác; đã, đang và sẽ được khai thác, cũng như bảo vệ nhằm đáp ứng nhu cầu của du lịch một cách hiệu quả và bền vững.”
– Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), “ TNDL là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên,
di tích LSVH, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác
có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.”
– Như vậy, mặc dù do cách tiếp cận TNDL giữa các nhà khoa học, nghiên cứu có sự khác nhau Nhưng về cơ bản có đặc điểm chung: Đều đề cập đến các yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa do con người tạo ra có sức hấp dẫn với du khách
2.Hiện nay Việt Nam có bao nhiêu Khu du lịch?
Khu du lịch
Trang 2Theo luật du lịch Việt Nam (2005): “ Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn
với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả kinh tế-xã hội và môi trường”
Theo luật du lịch Việt Nam, điều kiện được công nhân là khu du lịch
Khu du lịch quốc gia:
– Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn có khả năng thu hút lượng khách du lịch cao – Có diện tích tối thiểu 1.000 hecta
– Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỷ thuật du lịch đồng bộ, có khả năng đảm bảo phục
vụ ít nhất 1 triệu lượt khách mỗi năm
Khu du lịch địa phương:
– Có tài nguyên hấp dẫn, thu hút du khách
– Có diện tích tối thiểu 200 hecta
– Có cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỷ thuât có khả năng đảm bảo phục vụ ít nhất 100.000 lượt khách du lịch mỗi năm
Hiện nay ở Việt Nam có các khu du lịch :
1 Khu du lịch nghỉ dưỡng Sa Pa (Lào Cai)
2 Khu du lịch sinh thái hồ Ba Bể (Bắc Kạn)
3 Khu du lịch vịnh Hạ Long- quần đảo Cát Bà (Quảng Ninh, Hải Phòng)
4 Khu du lịch quốc gia suối Hai Ba Vì (Hà Nội)
5 Khu du lịch văn hóa Hương Sơn (Hà Nội)
6 Khu du lịch văn hóa Cổ Loa – thành cổ Hà Nội
7 Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động (Ninh Bình)
8 Khu du lịch Kim Liên (Nghệ An)
9 Khu du lịch Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình)
10 Khu du lịch đường mòn Hồ Chí Minh (Quảng Trị)
11 Khu du lịch Lăng Cô – Hải Vân – Non Nước (Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng)
12 Khu du lịch phố cổ Hội An (Quảng Nam)
13 Khu du lịch vịnh Vân Phong- mũi Đại Lãnh (Khánh Hòa)
Trang 314 Khu du lịch biển Phan Thiết – Mũi Né(Bình Thuận)
15 Khu du lịch Đankia – Suối Vàng( Lâm Đồng)
16 Khu du lịch hồ Tuyền Lâm(Lâm Đồng)
17 Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ(Thành phố Hồ Chí Minh)
18 Khu du lịch sinh thái – lịch sử Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu)
19 Khu du lịch biển Long Hải (Bà Rịa – Vũng Tàu)
20 Khu du lịch sinh thái biển đảo Phú Quốc (Kiên Giang)
21 Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau(Cà Mau)
3 Hệ thống lãnh thổ du lịch là gì?
Hệ thống lãnh thổ du lịch
Theo I.I.Pirojnik (1985): “ Hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống kinh tế – xã hội bao
gồm các yếu tố có quan hệ tương hỗ với nhau như các luồng khách du lịch, tổng thể tự nhiên và văn hóa, lịch sử, cơ sở vật chất – kỷ thuật, nhân viên phục vụ và cơ quan điều hành Hệ thống lãnh thổ du lịch như một thành tạo toàn vẹn về chức năng và lãnh thổ,
có hàng loạt các chức năng chính là phục hồi và tái sản xuất sức khỏe và khả năng lao động, thể lực và tinh thần của con người (du khách) Về phương diện này, hệ thống lãnh thổ tương đương với các tổng thể lãnh thổ sản xuất, đồng thời với các hệ thống giao thông và các hệ thống định cư”
Theo Ngô Tất Hổ (1998) cấu tạo của hệ thống lãnh thổ bao gồm 4 phân hệ: phân hệ – Thị trường nguồn khách – thị trường bản địa, thị trường quốc nội, thị trường quốc tế Phân hệ quá cảnh: hạ tầng giao thông, dịch vụ lữ hành, thông tin liên lạc, quản lý điểm đến
Phân hệ điểm đến : vật hấp dẫn ( cảnh quan, hoạt động, sự kiện du lịch), cơ sở hạ
tầng, dịch vụ ( cảnh quan có sẵn, cảnh quan dự tạo)
Phân hệ hỗ trợ: chính sách pháp luật, môi trường bảo về, nguồn nhân lực Trong số đó, phân hệ thị trường nguồn khách, phân hệ quá cảnh, phân hệ điểm du lịch lại hợp thành một hệ thống bên trong có kết cấu chặt chẽ Ngoài ra còn có các yếu tố chính sách, môi trường, nhân lực hợp thành một hệ thống hỗ trợ.Trong phân hệ hỗ trợ này, Chính phủ là
Trang 4một đơn vị đặc biệt quan trọng.Ngoài ra cơ cấu đào tạo cũng là một nhân tố bộ phận quan trọng
Như vậy, xét về tổng thể hai quan niệm trên có nhiều điểm tương đồng
Thứ nhất, về mặt cấu trúc:
– Hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống gồm nhiều thành phần có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Có thể coi các điều kiện và nhân tố du lịch trong sự thống nhất của chúng
là một hệ thống mở phức tạp gồm có cấu trúc bên trong và cấu trúc bên ngoài.Cấu trúc bên trong gồm các nhân tố hoạt động với sự tác động qua lại với nhau.Còn cấu trúc bên ngoài gồm các mối liên hệ với điều kiện phát sinh và với các hệ thống khác (tự nhiên, kinh tế, xã hội)
Thứ hai, về mặt hệ thống
– Hệ thống lãnh thổ du lịch được cấu thành bởi nhiều phân hệ khác nhau về bản chất, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau Đó là các phân hệ khách du lịch; tổng thể tự nhiên; lịch sử, văn hóa; cơ sở vật chất – kỷ thuật du lịch; cán bộ phục vụ và bộ phận điều khiển
– Phân hệ khách du lịch
– Phân hệ tổng thể tự nhiên, lịch sử – văn hóa
– Phân hệ cơ sở vật chất – kỷ thuật du lịch
– Phân hệ cán bộ nhân viên phục vụ
– Bộ phận điều khiển
4 Những vai trò và đặc điểm của tài nguyên du lịch?
Vai trò của tài nguyên du lịch
– TNDL là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm du lịch
– TNDL là cơ sở quan trọng để hình thành, phát triển các loại hình du lịch
– TNDL ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu và chuyên môn hóa vùng du lịch
TNDL là một bộ phận quan trọng cấu thành tổ chức lãnh thổ du lịch
Đặc điểm tài nguyên du lịch
1 Đặc điểm chung
– TNDL là đối tượng khai thác của nhiều ngành kinh tế-xã hội
Trang 5– Tài nguyên mang tính biến đổi
– Hiệu quả và mức độ khai thác của TNDL phụ thuộc vào nhiều yếu tố
– Tài nguyên du lịch rất phong phú, đa dạng
– TNDL là loại tài nguyên có thể tái tạo được
– TNDL có tính sở hữu chung
– TNDL mang tính mùa vụ
1 Đặc điểm tài nguyên du lịch tự nhiên
– Là tài nguyên nếu được quy hoạch, bảo vệ, khai thác hợp lý theo hướng bền vững sẽ là tài nguyên vô tận, có thể tái tạo hoặc suy thoái chậm
– Hầu hết các TNDL tự nhiên chịu ảnh hưởng nhiều vào điều kiện thời tiết
Một số điểm phong cảnh và du lịch dựa vào tài nguyên tự nhiên thường nằm xa các khu dân cư
1 Đặc điểm tài nguyên du lịch nhân văn
– Tài nguyên du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức hơn nhiều so với giải trí, tác dụng giải trí không thật điển hình hoặc chỉ có ý nghĩa thứ yếu
– Ngoại trừ loại hình du lịch nghiên cứu, việc tham quan các đối tượng nhân văn thường diễn ra trong thời gian ngắn (kéo dài 1-2 giờ, thậm chí ngắn hơn)
– Trong một chuyến đi, du khách có thể hiểu được nhiều đối tượng nhân tạo, do đó tài nguyên du lịch nhân văn thích hợp với loại hình du lịch nhận thức theo lộ trình
– Khách du lịch quan tâm tới tài nguyên du lịch nhân văn thường có trình độ văn hóa, thu nhập, yêu cầu nhận thức cao
Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung nhiều tại các điểm quần cư, thành phố lớn
– Tài nguyên du lịch nhân văn không có tính mùa, ít chịu ảnh hưởng bởi khí hậu
– Sở thích của người tham quan du lịch nhân văn thường rất phức tạp và khác nhau, nên gặp nhiều khó khăn trong đánh giá tài nguyên này TNDLNV chịu ảnh hưởng mạnh của những nhân tố như: Độ tuổi, trình độ văn hóa, hứng thú, nghề nghiệp, thành phần dân tộc, vốn tri thức…
Trang 6– Tài nguyên du lịch nhân văn, được phân loại thành: TNDLNV vật thể và TNDLNV phi vật thể
– TNDL nhân văn do chính con người tạo nên chịu tác động của thời gian, thiên nhiên và
do chính con người
– TNDL nhân văn do con người sáng tạo ra, nên có tính phổ biến
– TNDL nhân văn ở mỗi vùng, mỗi quốc gia thường mang những giá trị đặc sắc riêng – TNDL nhân văn thường phân bố gần các khu dân cư
– Việc khai thác TNDL nhân văn thường ít chịu ảnh hưởng bởi yếu tố thời tiết
5 Phân biệt: Điểm du lịch, trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch, á vùng du lịch, vùng
du lịch, trong hệ thống phân vị trong phân vùng du lịch?
Hệ thống phân vị trong phân vùng du lịch
1 Điểm du lịch
Điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị.Về mặt lãnh thổ, điểm du lịch có quy mô nhỏ song nó vẫn chiếm một diên tích nhất định trong không gian Ví dụ: Vườn Quốc gia Cúc Phương, Văn miếu Quốc Tử Giám
Điểm du lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên du lịch (tự nhiên, văn hóa-lịch sử hoặc kinh tế-xã hội) hoặc một loại công trình riêng biệt phục vu du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ Do đó, điểm du lịch được chia thành 2 loại: Điểm du lịch tài nguyên và điểm chức năng (hoặc điểm tiềm năng và điểm thực tế)
Điểm du lịch, thời gian lưu trú của khách du lịch tương đối ngắn (không quá 1-2 ngày), vì
sự hạn chế của đối tượng du lịch, trừ một vài trường hợp ngoại lệ như điểm du lịch với chức năng chữa bệnh hay nhà nghỉ của cơ quan
Theo luật du lịch Việt Nam (2005): “ Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn ,
phục vụ nhu cầu tham quan của du khách”
Các điều kiện để được công nhận là điểm du lịch như sau:
Đối với điểm du lịch Quốc gia:
– Điểm du lịch có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của du khách
Trang 7– Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng đảm bảo phục vụ ít nhất 100.000 lượt khách tham quan mỗi năm
Đối với điểm du lịch địa phương:
– Có tài nguyên du lịch hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch
– Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ cần thiết , có khả năng đảm bảo phục vụ ít nhất 10.000 lượt khách mỗi năm
1 Trung tâm du lịch
– Trung tâm du lịch là sự kết hợp lãnh thổ của nhiều điểm du lịch, hay nói cách khác mật
độ điểm du lịch trên lãnh thổ tương đối dày đặc
– Đặc trưng của trung tâm du lịch là nguồn tài nguyên du lịch tương đối tập trung và được khai thác một cách cao độ
– Trung tâm du lịch có cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỷ thuật tương đối đầy đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng để đón, phục vụ và lưu khách lại trong một thời gian dài – Trung tâm du lịch có khả năng tạo vùng rất cao, nó tạo nên bộ khung để cho vùng du lịch hình thành và phát triển Nói cách khác, đây là cực để hút các lãnh thổ lân cận vào phạm vi ảnh hưởng của vùng
– Có quy mô diện tích nhất định, bao gồm các điểm du lịch kết hợp với các điểm dân cư
và môi trường xung quanh Trung tâm du lịch có diện tích tương đương với lãnh thổ cấp tỉnh hay một thành phố trực thuộc tỉnh
Có 2 loại trung tâm du lịch: Trung tâm có ý nghĩa Quốc gia (Hà Nội, TPHCM, Huế, Đà Nẵng…) và trung tâm có ý nghĩa địa phương (Phong nha-kẽ bang, Đà Lạt…)
1 Tiểu vùng du lịch
– Tiểu vùng du lịch là tập hợp các điểm du lịch và trung tâm du lịch (nếu có)
– Về quy mô, tiểu vùng du lịch bao trùm lãnh thổ một vài tỉnh và sự dao động về diện tích giữa các tiểu cùng khá lớn
– Tiều vùng du lịch có 2 loại: Tiểu vùng du lịch đã hình thành (còn gọi tiểu vùng thực tế)
và tiểu vùng du lịch đang hình thành (tiểu vùng du lịch tiềm năng) Giữa 2 tiểu vùng này
có sự chênh lệch đáng kể về trình độ phát triển Loại tiểu vùng thứ nhất tập trung nhiểu
Trang 8loại tài nguyên và được khai thác mạnh mẽ; loại thứ hai có thể có tài nguyên song do những lý do nhất định, tiềm năng chưa có điều kiện để trở thành hiện thực
1 Á vùng du lịch
– Á vùng du lịch được xem là cấp trung gian giữa tiểu vùng du lịch và vùng du lịch Á
vùng du lịch là tập hợp các điểm, trung tâm (nếu có) và các tiểu vùng du lịch thành một thể thống nhất
– Á vùng du lịch có mức độ tổng hợp cao về cơ sở hạ tầng, vật chất kỷ thuật, thông số hoạt động du lịch cao và lãnh thổ rộng lớn
– Sự hình thành và phát triển á vùng du lịch phụ thuộc rất nhiều yếu tố Có thể có trong một số vùng du lịch, sự phân hóa lãnh thổ chưa dẫn đến hình thành Á vùng du lịch, trong trường hợp đó hệ thống phân vị thực sự chỉ có 4 cấp: Điểm du lịch-trung tâm du lịch-tiểu vùng du lịch-vùng du lịch
1 Vùng du lịch
– Đây là cấp cao nhất trong hệ thống phân vị.Vùng du lịch là sự kết hợp lãnh thổ của các
á vùng (nếu có), tiểu vùng, trung tâm và điểm du lịch với những đặc trưng riêng về số lượng và chất lượng
– Nét đặc trưng quan trọng của vùng du lịch chính là tính chuyên môn hóa cao, làm cho
vùng khác hẳn với các vùng khác
– Về phương diện lãnh thổ, vùng du lịch có diện tích rất lớn bao gồm nhiều tỉnh
– Vùng du lịch gồm 2 loại: Vùng du lịch tiềm năng và vùng du lịch đã hình thành
Như vậy, Ngoài cách phân vị như trên Theo luật du lịch Việt Nam (2005): Ở quy mô nhỏ
hơn như cấp tỉnh hoặc cấp thành phố trực thuộc trung ương còn có: Khu du lịch, đô thị
du lịch và tuyến du lịch
6 Khái quát TNDL nhân văn của vùng du lich Trung du và miền núi phía Bắc?
Di tích văn hóa- lịch sử
Di tích khảo cổ: vùng du lịch Bắc Bộ nói chung và khu vực trung du và miền núi phía Bắc nói riêng là nơi phát hiện hầu hết các nền văn minh cổ trên đất nước Việt Nam Từ di chỉ Núi Đọ ( Thanh Hóa) đến các di chỉ thuộc nền văn minh Đông Sơn ( Hòa Bình), chứng minh vùng này là cái nôi của nền văn hóa Việt Nam
Trang 9Di tích lịch sử: vùng du lịch trung du và miền núi phía Bắc là khu vực tập trúng khá
nhiều di tích lịch sử trong tổng thể các di tích lịch sử của toàn vùng Bắc Bộ:
+ Tiểu vùng du lịch miền núi Đông Bắc: chiếm gần 6% di tích của toàn vùng Đây là vùng phên dậu của đất nước qua các thời kì lịch sử Vùng có nhiều di tích của người tói
cổ đầu tiên, được phát hiện ở các hang động: Thẩm Khuyên, Thẩm Hai, Kéo Lèng ( Lạng Sơn)
Ở đây còn có nhiều di tích lịch sử cách mạng như Định Hóa, Ải Chi LĂng, hang Pác Bó, Tân Trào…
+ Tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc: là tiểu vùng có số di tích ít nhất trong cả nước khoảng 1% Tuy nhiên, đây là vùng đất lịch sử lâu đời, nơi xuất hiện sớm nhất nền văn hóa đá cuội ở nước ta, tiền thân của nền văn hóa Hòa Bình Hàng trăm di chỉ hang động được nghiên cứu , tạo nên tiềm năng lớn về du lịch hang động- sản phẩm du lịch đặc sắc
Ở đây còn có những sản phẩm du lịch độc đáo của nền văn hóa các dân tộc, các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian, lễ hội, kiến trúc nhà sàn, các món ăn dân tộc…hấp dẫn khách du lịch
Lễ hội
Vùng du lịch trung du và miền núi phía bắc cũng là vùng tập trung nhiều lễ hội lớn, hàng năm có các lễ hội độc đáo, đặc sắc của đồng bào các dân tộc miền núi cao Tây Bắc và cả nước như:
Tết Nguyên Đán ( lễ hội lớn nhất cả nước, lễ của đoàn tụ gia đình, tưởng nhớ tổ tiên, tình làng nghĩa xóm, với nhiều trò chơi dân dã) diễn ra 30/12-3/1 năm sau ( âm lịch ) trên cả nước
Lễ hội Lồng Tồng ( hội xuống đồng, ghi công Thần Nông, cầu mưa thuận gió hòa), diễn
ra ngày 6/1 âm lịch hàng năm ở các tỉnh Việt Bắc
Lễ hội Nào Song ( lễ hội nông nghiệp) diễn ra vào tháng 1 dương lịch hàng năm ở các tỉnh Tây Bắc
Và còn nhiều lễ hội lớn nhỏ đắc sắc khác…mỗi lễ hội trong vùng đều mang một nét đặc trưng riêng, tất cả làm nên cái hồn dân tộc Việt
Trang 10Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học
Vùng du lịch Bắc bộ nói chung và trung du miền núi phía Bắc nói riêng là nơi cư trú của hơn 30 dân tộc an hem như Việt, Mông, Dao, Thái, Tày, Nùng,…chính vì vậy, ở đây có các hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống , các lễ hội, phong tục tập quán sản xuất, sinh hoạt hết sức đa dạng và phong phú
Không thể không kể đến chợ phiên Bắc Hà- loại chợ lớn nhất, là chợ phiên náo nhiệt, đông vui, nhiều sắc màu nhất vùng cao biên giới phía Bắc
Làng nghề thủ công truyền thống
Vùng du lịch trung du và miền núi phía Bắc có các làng nghề thủ công truyền thống với lịch sử phát triển lâu đời và xuất hiện sớm nhất, tiêu biểu là nghề dệt thổ cẩm (miền núi), mây tre đan ( Bắc Giang) … các làng nghề trong vùng đã trở thành các điểm du lịch hấp dẫn, mở ra một loại hình du lịch mới- du lịch làng nghề
Các tài nguyên du lịch nhân văn khác
Khu vực TD và MN phía Bắc còn có các loại hình văn hóa nhân gian đặc sắc như:
+ Các bản trường ca bất tận, các điệu hát then Cao Bằng ( dân tộc Tày- Nùng), hát sli xứ Lạng ( dân tộc Nùng)…
+ Các điệu múa xòe, múa khèn…
+ Các trò chơi dân gian: nu na nu nống, đánh đu, kéo co…
Văn hóa ẩm thực của vùng cũng hết sức độc đáo với các món ăn dân gian nổi tiếng như: lợn quay Lạng Sơn, thắng cố- rượu ngô Bắc Hà, rượu cần Hòa Bình…
7 KHÁI QUÁT TÀI NGUYÊN DU LỊCH CỦA VÙNG DU LỊCH BẮC TRUNG BỘ
Nhờ những giá trị đặc sắc, đa dạng của điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và lịch sử phát triển lâu dài với nhiều biến động thăng trầm, đã tạo cho vùng du lịch Bắc Trung Bộ có tiềm năng du lịch phong phú đặc sắc cả du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn Nguồn tài nguyên du lịch của vùng có mức độ tập trung tương đối cao, dọc theo quốc lộ 1A và phát triển thành từng cụm với bán kính gần 100km
+ tài nguyên du lịch tự nhiên
Địa hình: