TÓM TẮT Nghiên cứu đa dạng phân lớp giáp xác chân chèo Copepoda trong hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Quảng Nam được thực hiện với 20 điểm lấy mẫu gồm 2 khu vực bao gồm rừng ngập mặn tại
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH - MÔI TRƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH : Quản lý Tài nguyên Môi trường
Đà Nẵng - 2021
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH-MÔI TRƯỜNG
Đà Nẵng - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan các dữ liệu trình bày trong khóa luận này là trung thực Đây là kết quả
nghiên cứu của tôi dưới sự chỉ dẫn của Th.S Trần Ngọc Sơn và chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác trước đây Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm nếu vi phạm
bất kì quy định nào về đạo đức khoa học
Tác giả
(Kí tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài nghiên cứu khoa học này tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy Th.S Trần Ngọc Sơn đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong suốt thời gian qua Đồng thời tôi xin cảm ơn thầy cô khoa Sinh - Môi trường cũng như là thầy cô trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, máy móc, thiết bị hỗ trợ cho quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn đồng hành và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành bài nghiên cứu của tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày 8 tháng 5 năm 2021
Sinh viên
Phạm Thị Ánh Hồng
Trang 5MỤC LỤC
TÓM TẮT 1
MỞ ĐẦU 2
1.Lý do chọn đề tài : 2
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Ý nghĩa đề tài 4
4 Nội dung nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu 5
1.1.1 Tổng quan về copepoda 5
1.1.2 Phân biệt 3 bộ phụ thuộc nhóm sống tự do 7
1.2 Tổng quan về nước mặt và khu vực nghiên cứu 8
1.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 17
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .20
2.1 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 20
2.2 Địa điểm thời gian nghiên cứu 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 22
2.3.1 Phương pháp lấy mẫu 22
2.3.2 Phương pháp phân tích chất lượng môi trường 23
2.3.3 Phương pháp phân loại loài 24
2.3.4 Phương pháp đếm mật độ 24
2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 24
2.3.6 Phương pháp đánh giá mức độ đa dạng sinh học bằng chỉ số Shannon – Wiener và chỉ số đa dạng sinh học Simpson 24
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 26
3.1 Thành phần loài và mối tương đồng giữa sự xuất hiện loài đối với vị trí thu mẫu……….26
3.2 Loài mới của Việt Nam được ghi nhận tại rừng ngập mặn Quảng Nam 28
3.3 Mô tả một số loài mới 29
Trang 63.4 Chỉ số đa dạng Shannon và Simpson 35
3.5 Chất lượng môi trường nước 35
3.6 Mối tương quan chất lượng môi trường nước đến mật độ loài 41
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
1 Kết luận 43
2 Kiến nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 47
PHỤ LỤC BẢNG 49
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH
1.1 Nhóm Copepoda sống tự do, a: Cyclopoida, b: Calanoida, c:
3.1 Các loài ghi nhận tại rừng ngập mặn Quảng Nam 29
3.6 Mối tương đồng giữa sự xuất hiện loài tại các khu vực lấy
mẫu
34
3.7 Ảnh hưởng của thông số môi trường đến sự phân bố các loài 41
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
2.1 Các điểm thu mẫu động vật tại hệ sinh thái rừng ngập mặn
3.3 Bảng kết quả phân tích chất lượng nước tại các điểm
Trang 10TÓM TẮT
Nghiên cứu đa dạng phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) trong hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Quảng Nam được thực hiện với 20 điểm lấy mẫu gồm 2 khu vực bao gồm rừng ngập mặn tại Hội An và rừng Ngập mặn tại Núi Thành Nghiên cứu ghi nhận được 13 loài trong đó có 9 loài mới Việt Nam được ghi nhận tại khu vực hệ sinh thái rừng ngập mặn
Quảng Nam bao gồm Onychocamptus talipes, Schizopera neglecta, Mesochra bodini,
Leptocaris echinatus, Leptocaris Sibilicus, Mesochra Inconspicua, Mesochra Reducta, Limnoithona Sinensis, Lucicutia Ovalis Trong đó, mô hình tương quan đa biến (CCA) cho
thấy các yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến mật độ loài của Copepoda, cụ thể loài O
talipes tương quan nghịch với nhiệt độ với hệ số tương quan là -0.9.5 trên trục CCA1, loài
M lnconspicua tương quan nghịch với chỉ tiêu pH và SO42- trên CCA1 với hệ số tương
quan là -1.217, L echinatus tương quan thuận với Chl-a, Cl-, trên trục CCA1 với hệ số
tương quan là 0.588 Loài S neglecta và Nitokra sp tương quan nghịch với Fe2+ trên trục
CCA1 với hệ số tương quan lần lượt là -1.112 và -1.389 Loài L.sinensis tương quan thuận
với các thông số độ muối, EC, TDS trên trục CCA1 với hệ số tương quan 0.442 Qua phân tích tương quan giữa các thông số môi trường giữa 2 khu vực Hội An và Núi Thành cho thấy sự khác biệt về tương quan giữa các thông số với nhau Cụ thể tại Hội An không có
sự tương quan có độ tin cậy cao giữa nhiệt độ và các thông số còn lại nhưng tại Núi Thành nhiệt độ lại có mối tương quan chặt chẽ với EC, NTU với p<0.05 và PO43-, pH, DO, NH4+
và NO2- với p<0.01 Ngoài ra, tại Hội An NO2- có sự tương quan chặt chẽ với PO43- với p<0.01 nhưng tại Núi Thành thì NO2- lại tương quan chặt chẽ với NH4+ với p<0.05
Từ khóa: Rừng ngập mặn, Copepoda, Harpacticoida, Calanoida, Cyclopoida
Trang 11MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài :
Trong những năm vừa qua thế giới đã có rất nhiều những nghiên cứu về sự đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rừng ngập mặn, đặc biệt là nhóm động vật phù du , nó được coi
là mắc xích vô cùng quan trọng đối với hệ sinh thái này Trong đó phải kể đến sự có mặt đông đảo và phân bố rộng rãi của nhóm phân lớp giáp xác chân chèo Copepoda, đây là một nhóm sinh vật giáp xác có kích thước nhỏ và phân bố hầu như khắp các thủy vực vì vậy chúng được rất nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm tìm hiểu Môi trường sống của chúng trải dài từ các thủy vực nước ngọt kể cả trong nước ngầm, từ các hồ nước đóng băng đến suối nước nóng và rừng ngập mặn Copepoda là sinh vật phù du phổ biến và phong phú nhất trên toàn thế giới Chúng đóng vai trò rất quan trọng trong việc cân bằng hệ sinh thái thủy vực dưới dạng là nguồn thức ăn chủ chốt và ổn định cho các loài thủy sinh
Copepoda là một mắt xích quan trọng trong các chuỗi thức ăn của các thủy vực với thành phần loài rất phong phú, đa dạng và có mặt ở hầu hết các sinh cảnh sống từ nước ngọt đến lợ và mặn (Vân & Tới, 2018) Copepoda còn được sử dụng như là loài chỉ thị để biểu thị về chất lượng môi trường nước Hiện nay,trên thế giới có khoảng 24.000 loài thuộc 2.400 giống và 210 họ đã được mô tả Trong số đó, có khoảng 2.800 loài sống ở các thủy vực nước ngọt nội địa (Galassi, 2001) Chúng là một trong những nhóm động vật giáp xác
đa dạng về hình thái và đặc thù nhất Những nghiên cứu trong những năm gần đây đã có nhiều bước tiến quan trong trong việc phát hiện nhiều loài mới thuộc phân lớp Copepoda Harpacticoida là một trong 03 bộ chính của phân lớp Copepoda, và chủ yếu là sống
tự do, gồm hơn 54 họ, 460 chi và 3.000 loài (Bostock, 2010) Mức độ đặc hữu trong phân loại nước ngọt được coi là đáng chú ý, đặc biệt là các loài nước ngầm, trong đó Harpacticoida là bộ chiếm ưu thế hơn hẳn đối với môi trường sống đáy và trong sinh cảnh cát bởi đặc điểm hình thái của chúng có khả năng thích nghi cao với điều kiện sinh thái môi trường này (Galassi, 2001) Họ Canthocamptidae Harpacticoida là nhóm copepoda chiếm ưu thế được tìm thấy trong môi trường sống đáy nước ngọt Nó chứa khoảng 35 chi nước ngọt, bao gồm cả Attheyella và Elaphoidella rất đa dạng và phổ biến Ngoài ra Harpacticoida còn đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới thức ăn thủy sản (Dhont et al, 2013)
Calanoida và Cyclopoida là một trong ba bộ chính thuộc phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) Hiện nay, Calanoida bao gồm 43 họ với khoảng 2000 loài (kể cả biển và nước ngọt) phần lớn các bộ Calanoida phân bố chủ yếu ở nước lợ, 25% phân bố ở nước ngọt (Bostock, 2010) Cyclopoida hiện có 800 loài đã được mô tả, số lượng này bao gồm một
số loài ở biển, nhưng phần lớn chúng sống ở môi trường nước ngọt hoặc nước lợ Ở vùng
ôn đới Bắc Mỹ, có khoảng 114 loài Cyclopoida và phân loài trong 22 chi, trong đó có 1
Trang 12chi và 3 loài khác (Ergasilus (Copepoda: Cyclopoida): Revision and key to species in north america, 2012) Cho đến nay, Việt Nam có nhiều đề tài nghiên cứu và các nhà khoa học cũng đã cung cấp một danh mục phong phú các loài giáp xác chân chèo, nhưng không tìm thấy bất kỳ hình ảnh minh họa hay mô tả chi tiết các loài
Trên thế giới, các nghiên cứu về phân lớp giáp xác Chân Chèo (Copepoda) trong hệ thống rừng ngập mặn trên thế giới đã được bắt đầu từ khá sớm Các nghiên cứu đã thu được nhiều thành công khi ghi nhận được nhiều loài mới và đặc hữu ở các khu vực khác nhau Trong đó, có nghiên cứu của ông J M Fuentes-Reiness and E Suarez-Morales đã phát hiện tổng cộng có 14 loài động vật chân đốt Harpacticoid được phát hiện từ khu vực Duyên hải miền bắc Colombia (Fuentes-Reins & Suarez-Morales, 1980) Bên cạnh đó ở rừng ngập
mặn Malaysia các nghiên cứu đã phát hiện ra sự phong phú của Copepoda cao nhất ở vùng
biển gần bờ (20.311 ind/m3), nhưng giảm về phía cả thượng nguồn (15,572 ind/m3) và vùng biển xa bờ (12.330 ind/m3) (Chew & Chong, 2011) Nghiên cứu ở phía bắc Argentina
đã phát hiện ra chi Thermocyclops thuộc bộ Cyclopoida thường có rất nhiều trong các hồ chứa nước đa dưỡng và phú dưỡng (Reid, 1989)
Đối với Việt Nam, việc nghiên cứu về copepoda còn khá mới mẻ, đặc biệt đối với
hệ sinh thái rừng ngập mặn vẫn còn rất ít người chú ý đến Hiện nay nghiên cứu về đa dạng copepoda chỉ hạn chế chủ yếu ở thủy vực nước ngọt, tiêu biểu như nghiên cứu của Anton
brancelj đã tìm thấy một loài thuộc chi mới Hadodiaptomus n gen., n sp (Brancelj, 2005)
Ngoài ra còn có các nghiên cứu của Trần Đức Lương và Cheon Young Chang phát hiện ra
một loài cyclopoida mới thuộc chi Graeteriella là được mô tả từ một hang động đá vôi ở
miền Trung Việt Nam đây là bản ghi đầu tiên của chi từ khu vực phương Đông (Tran & Chang, 2013) Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Kim Liên và Huỳnh Trường Giang
về đa dạng động vật phiêu sinh trong hệ sinh thái rừng ngập mặn cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng đã cho thấy Copepoda chiếm 27,9% vào mùa khô và 25% vào mùa mưa (Nguyễn Thị Kim Liên, Vũ Ngọc Út, 2013) Nhưng ở khu vực rừng ngập mặn vẫn chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá mức độ đa dạng sinh học của phân lớp giác chân chèo
Ở khu vực Quảng Nam hệ sinh thái rừng ngập mặn phân bố chủ yếu ở rừng dừa Bảy Mẫu (Quảng Nam), rừng dừa Cẩm Thanh (Quảng Nam) và hệ sinh thái rừng ngập mặ n rộng lớn Tam Giang (Núi Thành) với tổng diện tích khoảng 114,27 ha (Hoa, Lan, & Truong, 2010) Rừng ngập mặn là nơi có độ đa dạng sinh học cao, không những là nguồn cung cấp thức ăn của nhiều loài thủy sản có giá trị, các loài chim nước, chim di cư và một
số động vật sống trên cạn mà là nơi cư trú, sinh sản, nuôi dưỡng con non của nhiều loài thủy sản quý hiếm Rừng ngập mặn có nguồn lợi thủy sản giàu có là nơi cung cấp sinh kế của người dân bản địa Hơn nữa dưới sự tác động của biến đổi khí hậu, rừng ngập mặn được xem là lá chắn trước thiên tai Tuy nhiên hiện nay dưới sự tác động kinh tế - xã hội
Trang 13của con người, từ các làng du lịch giải trí, sự tàn phá để nuôi trồng thủy sản, xây dựng nhà
cửa,… Khiến diện tích ngày rừng ngày càng thu hẹp, suy giảm về số lượng và chất lượng
Để đảm bảo cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học khu vực cửa sông ven biển được hiệu
quả đòi hỏi cần có những nghiên cứu để đánh giá mức độ đa dạng sinh học, sự biến động
của những sinh vật sống trong các hệ sinh thái đặc thù Hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu
về đa dạng phân lớp Giáp xác chân chèo (Copepoda) trong hệ sinh thái rừng ngập mặn Vì
vậy, tôi tiến hành chọn đề tài “Nghiên cứu đa dạng sinh học phân lớp Giáp xác chân
chèo (Copepoda) trong một số hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Quảng Nam” Đề tài nhằm
bổ sung dữ liệu đa dạng sinh học Copepoda tại khu vực hệ sinh thái rừng ngập mặn Quảng
Nam nói riêng và Việt Nam nói chung từ đó cung cấp các dữ liệu thông tin cần thiết đối
với công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá sự đa dạng sinh học các loài thuộc Copepoda tại một số khu vực rừng ngập
mặn thuộc Quảng Nam
- Đánh giá chất lượng môi trường nước tại một số khu vực rừng ngập mặn thuộc
Quảng Nam
- Đánh giá được mối tương quan giữa đa dạng Copepoda và chất lượng môi trường
nước tại khu vực nghiên cứu
3 Ý nghĩa đề tài
- Kết quả nghiên cứu được của đề tài đóng góp cung cấp thông tin cơ sở khoa học
về đa dạng sinh học của copepoda tại rừng ngập mặn ở Núi Thành và Hội An
- Là cơ sở để cho các nghiên cứu điều tra, quản lý bảo tồn đa dạng sinh học ở các
thủy vực nước lợ Ngoài ra dữ liệu nghiên cứu còn là cơ sở để phát triển cho các nghiên
cứu ừng dụng sau này
4 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá mức độ đa dạng sinh học các bộ Harpacticoid, Cyclopoida, Calanoida
thuộc phân lớp Copepoda trong một số hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Quảng Nam
- Đánh giá chất lượng môi trường thông qua một số chỉ tiêu (độ dẫn điện, pH, DO,
độ cứng, NO3-, PO42-, Chl-a, mức độ phú dưỡng (TSI)…)
- Nghiên cứu mối tương quan giữa mật độ loài, sự xuất hiện loài của Copepoda tại
khu vực nghiên cứu với chất lượng môi trường hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Quảng Nam
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu
1.1.1 Tổng quan về copepoda
Copepoda là một nhóm phân lớp động vật giáp xác nhỏ được tìm thấy ở hầu hết các môi trường sống nước ngọt và nước mặn Một số loài là sinh vật phù du (trôi dạt trong nước biển), một số là sinh vật đáy (sống dưới đáy đại dương), và một số loài sống ở rừng ngập mặn, trong môi trường sống trên cạn và những nơi ẩm ướt khác trên cạn, chẳng hạn như đầm lầy, dưới lá rụng trong rừng ẩm ướt, suối, ao tù nước đọng và vũng nước, rêu ẩm hoặc các hốc chứa đầy nước (phytotelmata) của các loài thực vật như cây bìm bịp và cây nắp ấm Nhiều loài sống dưới lòng đất trong các hang động biển và nước ngọt, hố sụt hoặc lòng suối.Copepoda là nhóm các sinh vật phân bố rộng trên toàn cầu, có thể là sinh vật nổi, sống đáy hay ở vùng ven bờ của các thủy vực nước ngọt (Dương Trí Dũng, 2001)
• Hình thái
Chiều dài biến động trong khoảng 0.3-3.2mm nhưng đa phần có chiều dài nhỏ hơn 2.0 mm Cơ thể có màu nâu hay hơi xám, những loài sống ở vùng triều có màu sáng hơn,
cơ thể có màu tím hay đỏ
Phân lớp Copepoda chia thành hai bộ là EuCopepoda và Branchiura trong đó có 6
bộ phụ là Caligoida, Lernaeopodoida, Arguloida (sống ký sinh) và Calanoida, Cyclopoida, Harpacticoida (sống tự do) Nhóm sống kí sinh có hình dạng rất biến đổi và thích nghi với điều kiện kí sinh Nhóm sống tự do có cơ thể phân đốt, hình dài hay hình trụ và chia thành
3 phần là đầu, ngực và bụng
Vùng ngực có 7 đốt nhưng đốt thứ 1 và có thể đốt thứ 2 kết hợp với phần đầu nằm trong vỏ giáp Có thể hai đôi chân ngực thứ 4 và thứ 5 hay thứ 5 và thứ 6 hợp lại thành 1 đốt
Phần bụng có từ 3-5 đốt, thường thì có 4 đốt Đốt ngực cuối và đốt bụng đầu tiên dính lại với nhau bằng một vòng mềm dẻo và ngắn Khớp nối làm con vật cử động dễ dàng
là khớp phân biệt giữa phần đầu và thân Phần thân gồm các đốt bụng và đốt ngực thứ 7 (có khi là đốt thứ 6) Phần đầu thật sự có 5 đôi phụ bộ đó là: Râu A1(antennules), râu A2 (antennae), hàm trên (maxillae) 1 và hàm trên 2, hàm dưới (mandibles) Đốt ngực đầu tiên dính với đầu có một đôi chân hàm (maxillipeds) và từng đốt ngực còn lại mang một đôi chân hàm (maxillipeds) và từng đốt ngực còn lại mang một đôi chân bơi Trong một vài loài ở đốt ngực thứ 7 tiêu giảm và đốt này không còn phần phụ
Phần phụ đầu: rất biến đổi tùy theo chức năng Râu A1 dài và chỉ có một nhánh, đây
là cơ quan cảm giác nhưng cũng có thể dùng để vận động Cả hai râu A1 con đực của
Trang 15Cyclopoida và Harpacticoida là cơ quan sinh dục dùng trong lúc bắt cặp Riêng Calanoida chỉ có râu A1 bên phải làm nhiệm vụ sinh dục Râu A2 ngắn hơn, có 2 hay 1 nhánh có vai trò quan trọng trong việc cảm giác, riêng ở Harpacticoida các râu này có thể dùng để nắm bắt được Các đôi hàm biến đổi để lấy thức ăn
Phần phụ ngực: các đôi chân ngực biến đổi từ lúc bắt đầu cho đến hai đôi chân cuối Nhóm sống tự do đôi chân thứ 6 luôn thiếu ở con cái hay biến đổi chỉ còn dạng sơ khai (ở con đực) Đôi chân số 5 giảm hay tiêu giảm ở nhóm Cyclopoida và Harpacticoida, nhưng
ở Calanoida thì đôi chân này phát triển cân đối ở con cái và bất đối xứng ở con đực, khi đó
nó biến đổi thành cái móc
Chạc đuôi: đốt cuối cùng chẻ hai tạo ra hai nhánh đuôi Cấu trúc của nó đơn giản có hình trụ không phân nhánh và cũng không giống với phần phụ nào ở đầu và ngực (Dương Trí Dũng, 2001)
• Cấu tạo trong
Hệ tuần hoàn: xoang tim chỉ có ở bộ phụ Calanoida, còn các bộ phụ khác có vòng tuần hoàn đơn giản gồm các mạch máu từ hệ tiêu hóa, hệ vận động và các phụ bộ đi về xoang tim
Hệ hô hấp: sự trao đổi O2 và CO2 xảy ra trên bề mặt cơ thể và một vài nơi như phần cuối của ống tiêu hóa được hút và đẩy bởi hệ cơ bên ngoài
Hệ bài tiết: chất thải được thải ra qua tuyến ở hàm trên gần phía đầu, tuy vậy phần sau của đoạn ruột cuối cùng cũng có chức năng bài tiết
Hệ thần kinh: tập hợp lại ở phần đầu, một mặc làm nhiệm vụ cảm giác thấy rõ tập trung lại thành điểm mắt (Dương Trí Dũng, 2001)
• Sinh sản
Tập tính sinh sản hầu như giống nhau ở nhóm Copepoda sống tự do, nhưng các loài khác nhau có thời kỳ sinh sản khác nhau Sự thụ tinh thật sự xảy ra khi hai cá thể đã tách rời nhau và con cái đẻ trứng, quá trình này hoàn thành trong vài phút hay c ả tháng sau khi bắt cặp Trứng thụ tinh sẽ được giữ trên mình con cái trong 1 hay 2 túi trứng cho đến khi
nở thành ấu trùng, khi trứng vừa nở thì nhóm trứng khác nhau bắt đầu sinh ra và tiếp tục được thụ tinh (Dương Trí Dũng, 2001)
• Vai trò
Copepoda tham gia vào chu trình vật chất trong thủy vực, đóng vai trò quan trọng trong bậc dinh dưỡng giữa vi khuẩn, tảo và động vật nguyên sinh với các nhóm sinh vật phiêu sinh, là nguồn thức ăn chính cho nhiều loài động vật không xương sống và động vật
có xương sống lớn hơn
Trang 16Copepoda được xem là một trong mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn, chúng
ăn phấn hoa, thực vật phù du, động vật không xương sống khác, và thậm chí cả ấu trùng
cá (Dương Trí Dũng, 2001)
• Chu kỳ sống
Trong chu kỳ sống của Copepoda, thông thường có 4 dạng hình thái là: trứng, 6 giai đoạn ấu trùng nauplius, 5 giai đoạn copepodid và trưởng thành
Trứng của Copepoda nở thành ấu trùng nhỏ gọi là Nauplius Chúng có 3 đôi phụ bộ
để sau đó biến thành râu A1, A2 và hàm dưới Khi lột xác sang giai đoạn II, chúng chỉ có thêm hàm trên Có 4 giai đoạn ấu trùng và 5 giai đoạn tiền trưởng thành khi biến thành con trưởng thành có khả năng sinh sản Sau mỗi lần lột xác, con vật lớn lên và dài hơn đồng thời có thêm phụ bộ Ví dụ như Nauplius IV có đủ các phụ bộ của đôi chân thứ 2, Copepodid I có đốt ngực và có phụ bộ ở đôi chân thứ 4 Thời gian để hoàn thành một chu
kỳ sống từ trứng cho đến khi sinh sản biến động tùy theo loài và điều kiện môi trường (Dương Trí Dũng, 2001)
1.1.2 Phân biệt 3 bộ phụ thuộc nhóm sống tự do
Chúng dễ dàng được phân biệt dựa trên độ dài của antennule, kích thước tương đối của metasome và urosome và cấu trúc của chân 5
• Calanoida
- Antennule rất dài (23-25 phân đoạn), thường vươn tới hoặc vượt quá caudal rami
- Antennule phải là uốn cong ở con đực (ngoại trừ Senecella sp, trong đó antennule trái là uốn cong)
- Cơ thể thu hẹp giữa phân khúc mang chân thứ 5 và bộ phận sinh dục
- Chân 5 khá lớn và khác biệt, đối xứng ở con cái và không đối xứng ở con đực
• Cyclopoda
- Antennule có chiều dài trung bình (6-17 đoạn)
- Cả hai antennule đều uốn cong ở con đực
Trang 17- Cơ thể hẹp giữa các phân đoạn mang chân 4 và chân 5
- Chân 5 là bị tiêu giảm
- Con đực sở hữu bộ chân 6 nhỏ mà không nối với chân 5
• Harpacticoida
- Anten rất ngắn (5-9 đoạn)
- Cả hai antennule uốn cong ở con đực
- Metasome và urosome có chiều rộng tương tự nhau (không có điểm thu hẹp)
- Chạc đuôi: đốt cuối cùng chẻ hai tạo ra hai nhánh đuôi Cấu trúc của nó đơn giản
có hình trụ không phân nhánh và cũng không giống với phần phụ nào ở đầu và ngực (Dương Trí Dũng, 2001)
Hình 1.1 Nhóm Copepoda sống tự do, a: Cyclopoida, b: Calanoida, c: Harpacticoida
và thời gian dừng lại khá lớn Việc dự trữ nước mặt tại các bể chứa, đập để phục vụ cho
Trang 18nhiều mục đích khác nhau trong đó có xử lý nước sinh hoạt Sự bốc hơi nước trong đất, ao,
hồ, sông ,biển; sự thoát hơi nước ở thực vật và động vật,… hơi nước vào trong không khí sau đó bị ngưng tụ lại trở về thể lỏng rơi xún mặt đất hình thành mưa, nước mưa chảy tràn trên mặt đất từ nơi cao đến nơi thấp tạo nên các dòng chảy hình thành nên thác, ghềnh, suối, sông và được tích tụ ở những nơi thấp trên lục địa hình thành hồ hoặc được đưa thẳng
ra biển hình thành nên lớp nước trên bề mặt của vỏ trái đất
Thành phần hóa học của nước mặt phụ thuộc vào bản chất của đất mà nước chảy qua đến các nơi chứa Trong hành trình nước hòa tan các phần tử khác nhau Bằng cách trao đổi trên bề mặt nước – không khí, các loại nước này tự chứa các khí hòa tan ( oxy, nito, khí cacbonic) Trước khi quyết định công nghệ xử lý nước mặt chúng ta cần lưu ý một
số điểm sau của nước mặt:
Trong nước mặt thường xuyên tồn tại các khí hòa tan
Nước mặt có nồng độ lớn các chất lơ lửng đặc biệt là trong dòng chảy Chất huyền phù rất khác nhau, bắt đầu từ các hạt keo đến các nguyên tố hữu hình được trôi theo các dòng sông khi lưu lượng tăng đáng kể Vì vậy khi thiết kế thiết bị xử lý nước mặt không thể thiếu được công đoạn keo tụ, tạo bông
Ở các đập nước thời gian dừng lâu tạo nên sự lắng gạn tự nhiên của các phần tử có kích thước lớn, độ đục còn lại của nước là do các chất keo
Trong nước mặt có mặt các chất hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên là do sự phân hủy các chất hữu cơ thực vật và động vật sống trên bề mặt bể chứa nước hoặc trong các sông
và các vi sinh vật tự phân hủy sau khi chết ( thực vật và động vật)
Tồn tại các sinh vật nổi trong nước mặt: Nước mặt là nơi cư trú và phát triển quan trọng của thực vật nổi ( tảo) và động vật nổi Trong điều kiện nhất định cuộc sống dưới nước có thể được phát triển mạnh: Bao gồm sự phát triển của thực vật, động vật, cá
Sự thay đổi hàng ngày ( sự chênh lệch nhiệt độ, ánh sáng mặt trời) thay đổi theo mùa, sự thay đổi khí hậu ( nhiệt độ, ) và của thực vật ( rụng lá) Chúng có thể xảy ra ngẫu nhiên như mưa, giông, ô nhiễm mạnh Ở các nơi chứa nước mặt, chất lượng nước thay đổi
từ bề mặt đến đáy bể chứa (O2, Fe, Mn, khả năng oxy hóa, sinh vật nổi) Hàm lượng của mỗi yếu tố thay đổi phụ thuộc vào chu kỳ của một năm
Đặc điểm
Nước mặt có nồng độ lớn các chất lơ lửng đặc biệt là trong dòng chảy Chất huyền phù rất khác nhau, bắt đầu từ các hạt keo đến các nguyên tố hữu hình được trôi theo các dòng sông khi lưu lượng tăng đáng kể Vì vậy khi thiết kế thiết bị xử lý nước mặt không thể thiếu được công đoạn keo tụ, tạo bông
Trang 19- Ở các đập nước thời gian dừng lâu tạo nên sự lắng gạn tự nhiên của các phần tử có kích thước lớn, độ đục còn lại của nước là do các chất keo
- Trong nước mặt có mặt các chất hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên là do sự phân hủy các chất hữu cơ thực vật và động vật sống trên bề mặt bể chứa nước hoặc trong các sông
và các vi sinh vật tự phân hủy sau khi chết (thực vật và động vật)
- Tồn tại các sinh vật nổi trong nước mặt: Nước mặt là nơi cư trú và phát triển quan trọng của thực vật nổi (tảo) và động vật nổi Trong điều kiện nhất định cuộc sống dưới nước có thể được phát triển mạnh: Bao gồm sự phát triển của thực vật, động vật, cá
- Sự thay đổi hàng ngày (sự chênh lệch nhiệt độ, ánh sáng mặt trời) thay đổi theo mùa, sự thay đổi khí hậu (nhiệt độ, ) và của thực vật (rụng lá) Chúng có thể xảy ra ngẫu nhiên như mưa, giông, ô nhiễm mạnh Ở các nơi chứa nước mặt, chất lượng nước thay đổi
từ bề mặt đến đáy bể chứa (O2, Fe, Mn, khả năng oxy hóa, sinh vật nổi) Hàm lượng của mỗi yếu tố thay đổi phụ thuộc vào chu kỳ của một năm
- Ô nhiễm hữu cơ thường dẫn đến việc phú dưỡng nguồn nước
- Nguồn ô nhiễm đến từ nguồn nước thải đô thị: các chất cặn bã có trong nước thải
đô thị (quá trình trao đổi chất của con người, tiện nghi nhà ở)
- Nguồn ô nhiễm từ nguồn nước công nghiệp: chất ô nhiễm hữu cơ và vi ô nhiễm hoặc vô cơ
- Ô nhiễm từ nguồn nông nghiệp: phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ trôi theo nước mưa và các dòng nước Chất thải hữu cơ cũng tạo ra trong các trại chăn nuôi
- Có nhiều chất hữu cơ do sinh vật bị phân hủy
- Có nhiều rong tảo, thực vật nổi, động vật nổi
- Chất lượng nước thay đổi theo mùa
- Bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi hoạt động hai bên bờ của con người (công nghiệp, nông nghiệp…)
Phân loại nguồn nước mặt
Nước mặt được phân loại thành 3 loại chính như sau :
Trang 20- Nước mặt vĩnh viễn: Là loại nước có quanh năm Bao gồm nước sông, nước đầm
và nước trong hồ
- Nước mặt nhân tạo: Đây là nguồn nước do con người tạo ra, được chứa trong các
hệ thống mà con người xây dựng, tạo ra Đây sẽ là hồ, đập và đầm lầy nhân tạo
- Tổng quan về rừng ngập mặn tại khu vực nghiên cứu
Rừng ngập mặn là khu vực rừng bao gồm nhiều loại cây sống trong các khu vực nước mặn ven biển trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi đây, những thực vật khác rất khó để sinh trưởng và phát triển Phần lớn những khu vực này lộ ra khi thuỷ triều xuống thấp và bị ngập nước khi mực nước triều dâng lên Chính vì những điều kiện khắc nghiệt
đó nên chỉ có một số loại cây ngập mặn với các đặc tính của mình mới có thể thích nghi được
Ở Quảng Nam, rừng ngập mặn chủ yếu ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn (Hội An), sông Trường Giang và ven đầm An Hòa (huyện Núi Thành) với tổng diện tích khoảng 114,27 ha (Hoa et al., 2010)
Những loài cây ngập mặn phổ biến là dừa nước, mắm trắng , mắm biển, đước, giá, bần trắng Trong đó, rừng ngập mặn ở Hội An phổ biến nhất là dừa nước hầu như chiếm
ưu thế hoàn toàn Trước đây, diện tích rừng dừa nước ở vùng cửa sông Thu Bồn rất lớn, nhưng hiện nay diện tích rừng dừa nước ở đây đã bị giảm nhiều do bị chặt phá lấy đất xây dựng khu dân cư, đô thị, homestay, làm đồng muối, ao, đìa nuôi tôm, Tổng diện tích phân bố của rừng dừa nước ở hạ lưu sông Thu Bồn hiện nay khoảng 81,23 hecta tập trung chính ở vùng Hội An Quần thể dừa nước ở Hội An rất đặc sắc, hiếm gặp ở vùng Nam Trung Bộ Hiện nay do lá dừa nước có giá trị nên người dân nơi đây đang giữ gìn rừng dừa nước còn lại khá tốt Rừng dừa nước Cẩm Thanh có vai trò quan trọng và mang ý nghĩa sống còn đối với hệ sinh thái vùng ngập mặn thuộc hạ lưu sông Thu Bồn (gồm khu vực Hội An, rừng ngập mặn Cửa Đại) và vùng lõi sinh quyền Cù Lao Chàm
Với chừng 300 ha, trong đó khoảng 1/3 là đất và 2/3 là vùng ngập triều thuộc xã Cẩm Thanh, rừng dừa nước mọc ven bờ các kênh lạch, quanh năm xanh tốt, tạo nên một sinh cảnh rất đặc biệt cho Hội An Kết quả nghiên cứu, khảo sát cho thấy: trên các cồn gò
và vực nước xung quanh các rừng dừa nước từ vùng triều thấp trở xuống có hệ sinh thái cỏ biển đặc thù, chỉ có ở vùng nhiệt đới và ôn đới ấm Chúng là những loài thực vật bậc cao, sống chìm trong môi trường nước, tồn tại và phát triển quanh năm, thích nghi trong môi trường luôn có dòng chảy, sóng gió nhờ có hệ thống ngầm vùi sâu trong trầm tích Dọc triền sông phía ngoài dừa nước, trên các cồn gò ở gần khu vực Cửa Đại có hệ sinh thái cỏ biển với ưu thế tuyệt đối của loài cỏ lươn, cỏ lá dài (40 – 50cm) và một loài cỏ xoan khác bao phủ, làm thành các tấm thảm xanh, mịn quanh triền sông
Trang 21Về hệ sinh thái, khu vực này có sự đa dạng sinh học rất cao, là nơi cư trú của nhiều loài động vật biển có giá trị Các thảm cỏ biển là nơi sinh sống, ẩn nấp của ấu thể nhiều loài hải sản Còn về phương diện sinh vật và môi trường, lưu vực sông Thu Bồn – Cửa Đại
và Cù Lao Chàm có mối liên quan mật thiết với nhau về sự giao lưu thủy vực, sự tích tụ và phân hủy chất thải, lắng đọng trầm tích, làm trong sạch nguồn nước, về sự cư trú, nuôi dưỡng các loài sinh vật (sông, biển) có tính đa dạng sinh học và có giá trị cao
Rừng ngập mặn ở xã Tam Giang với diện tích hơn 60 ha với nhiều cây mắm, đước, bần, cốc thuộc vào hàng cổ thụ nằm chen chúc, rậm rạp, khu rừng trải dài qua bốn thôn Đông Xuân, Đông An, Đông Bình và Đông Mỹ (xã Tam Giang), người dân ở đây từ xưa
đã tâm niệm đó là của để dành cho dân làng, vì vậy không cho ai được phép đụng vào, rừng được xem như “báu vật” của làng, giúp bảo vệ làng mạc, chống biến đổi khí hậu Những năm về sau phong trào nuôi tôm thẻ trân trắng nở rộ, nhiều hộ dân bắt đầu "xẻ thịt" rừng
để đắp bờ làm ao nuôi tôm Được vài năm, tôm bị dịch bệnh, rớt giá nên hàng trăm ao hồ
bỏ hoang để lại cánh rừng ngập mặn thưa thớt cây, thiên tai gây xói lở đất, nhà cửa bị tốc mái, ghe thuyền không có nơi trú ngụ Lúc này người dân địa phương mới nhìn thấy sai lầm trong việc phá rừng nuôi tôm
Vai trò của rừng ngập mặn
- Cung cấp sinh kế cho con người: Rừng ngập mặn cung cấp nhiều loại nguyên vật liệu mà con người cần Con người ăn, đánh bắt và bán nhiều loài cá và động vật có vỏ sống trong rừng ngập mặn Rừng ngập mặn còn cung cấp nhiều nguyên liệu mà con người thường xuyên sử dụng như củi và than (từ những cành cây chết), dược liệu, sợi, thuốc nhuộm, mật ong và lá dừa để lợp mái Rừng ngập mặn có giá trị về văn hóa đối với rất nhiều người và còn thích hợp cho du lịch Rừng ngập mặn đang là nơi cung cấp sinh kế cho nhiều người trên toàn thế giới,họ sống dựa vào việc khai khác các giá trị từ những cánh rừng ngập mặn
- Bảo vệ chống thiên tai: Rừng ngập mặn bảo vệ con người, nhà cửa và ruộng rẫy khỏi thiên tai như bão, ngập lụt và sóng triều Những thân cây, cành và rễ của rừng ngập mặn có vai trò như những rào cản giúp giảm những ảnh hưởng của sóng, ngập lụt và gió mạnh
- Giảm xói lở và bảo vệ đất: Rừng ngập mặn có một hệ thống lớn các thân, cành và
rễ giúp bảo vệ bờ biển và đất đai khỏi xói lở và ảnh hưởng của sóng Thường tại những khu vực bờ sông và bờ biển nơi rừng ngập mặn đã bị tàn phá thì hiện tượng xói lở xảy ra rất mạnh Hệ thống lớn các thân, cành và rễ còn giúp cho quá trình lấn biển giúp tăng diện tích đất bằng cách giữ lại và kết dính những vật liệu phù sa từ sông mang ra Cũng bằng cách này mà cây rừng ngập mặn tự xây dựng cho mình môi trường sống thích hợp Loài
Trang 22Mắm là cây tiên phong trong việc phát triển rừng ngập mặn, chúng giúp cốt kết đất bùn loãng và giữ phù sa ở lại, sau đó là các loài khác phát triển theo như Đước, Bần, ô rô, quá trình xảy ra liên tục, rừng ngập mặn ngày càng phát triển hướng ra biển và các bãi bồi ven biển
- Giảm ô nhiễm: Rừng ngập mặn giúp lọc bỏ các chất phú dưỡng, trầm tích và chất ô nhiễm ra khỏi đại dương và sông ngòi Vì thế, chúng giúp lọc sạch nước cho những hệ thống sinh thái xung quanh (như hệ sinh thái san hô, cỏ biển) Rừng ngập mặn được ví như
là quả Thân của môi trường Bằng các quá trình sinh hóa phức tạp, rừng ngập mặn phân giải, chuyển hóa, hấp thụ các chất độc hại
- Giảm tác động của biến đổi khí hậu: Với việc biến đổi khí hậu được dự đoán là sẽ làm tăng mức độ xảy ra của những hiện tượng thời tiết cực đoan như bão và lũ lụt, rừng ngập mặn sẽ trở nên đặc biệt quan trọng để bảo vệ con người, nhà cửa và ruộng đồng khỏi những thiên tai này Rừng ngập mặn còn có tác dụng rất tốt trong việc loại thải khí nhà kính (vốn là nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu) ra khỏi bầu khí quyển
- Nguồn sống cho động vật: Rừng ngập mặn cung cấp chỗ cư ngụ và nguồn thức ăn cho rất nhiều loại cá, động vật có vỏ (như nghêu, sò,cua,ốc ), chim và động vật có vú Một vài động vật có thể được tìm thấy trong rừng ngập mặn bao gồm: nhiều loại cá, chim, cua,
sò huyết, nghêu, hàu, tôm, ốc, chuột, dơi và khỉ Rừng ngập mặn còn là khu vực kiếm ăn, nơi sinh sản và nuôi dưỡng quan trọng của nhiều loài cá, động vật có vỏ và tôm Lá và thân cây ngập mặn, khi bị phân hủy sẽ cung cấp những vụn chất hữu cơ vốn là nguồn thức ăn quan trọng cho các loài thủy sinh Tương tự như vậy, các loài sinh vật phù du sống dưới rễ của các cây ngập mặn là nguồn thức ăn quan trọng cho nhiều loài cá
- Rừng ngập mặn đặc biệt quan trọng đối với các loài cá đánh bắt thương mại, vốn
có rất nhiều loài đã đẻ trứng trong rễ cây rừng ngập mặn nhằm mục đích bảo vệ con của chúng Quan trọng hơn, 75% các loài cá đánh bắt thương mại ở vùng nhiệt đới trải qua một khoảng thời gian nào đó trong vòng đời của mình tại các khu rừng ngập mặn
- Rừng ngập mặn đóng một vai trò đặc biệt trong các hệ thống lưới thức ăn phức tạp Điều này có nghĩa là sự phá hủy rừng ngập mặn có thể có tác động rất xấu và rộng đến đời sống thủy sinh và đại dương Sự suy kiệt của rừng ngập mặn là một nguyên nhân chính dẫn đến suy kiệt đời sống thủy sinh vì rừng ngập mặn không còn để đóng vai trò như vườn ươm hay chỗ kiếm ăn cho những sinh vật thủy sinh nhỏ Kết quả là, trữ lượng thủy sản không thể được tái tạo Sản lượng cá, tôm, động vật có vỏ và cua sẽ giảm khi diện tích rừng giảm Không có các sinh vật thủy sinh nhỏ vào thời điểm này nghĩa là không có nguồn cá
để đánh bắt trong tương lai
Mối đe dọa và bảo vệ
Trang 23- Mối nguy hại: Trong quá khứ, tầm quan trọng của rừng ngập mặn cho môi trường
và bảo vệ con người không được biết đến rõ ràng và kết quả là nhiều khu rừng ngập mặn trên khắp thế giới bị tàn phá Khoảng phân nửa diện tích rừng ngập mặn của thế giới đã bị phá hủy trong suốt 50 năm qua Ở Việt Nam, trong suốt giai đoạn từ năm 1969 đến 1990, khoảng 33% diện tích rừng ngập mặn của nước ta đã bị phá hủy, khiến cho diện tích che phủ rừng giảm từ 425.000 ha còn 286.400 ha Vào năm 2002 diện tích rừng ngập mặn chỉ còn 155.290 ha Tiếc thay, rừng ngập mặn vẫn đang bị tàn phá thông qua một số các hoạt động của cả con người và các quá trình tự nhiên
- Sự phá hủy bởi con người: Mối đe dọa lớn nhất đến những khu rừng ngập mặn là
sự tàn phá của con người Nhiều người phá hủy rừng ngập mặn bằng cách chặt cây để lấy củi và gỗ, hay lấy đất để nuôi tôm, trồng cây cho những mục đích xây dựng và phát triển khác Một số người khác nhổ rễ và tàn phá cây rừng ngập mặn để đào sâm đất (con đồm độp) và bắt cua Một vài cách thức bắt thủy sản cũng có hại đến rừng ngập mặn như kéo
và đẩy lưới gần cây con sẽ làm tróc hay bật rễ của chúng Ngoài ra chiến tranh và sử dụng
vũ khí hóa học đã phá hủy một diện tích lớn rừng ngập mặn của Việt Nam cũng như Thế giới trong quá khứ
- Các hóa chất và chất ô nhiễm: Rừng ngập mặn cũng có thể bị tổn thương hoặc phá hủy bởi những hóa chất và chất ô nhiễm như thuốc trừ sâu và phân bón Những chất này
đi theo nước chảy tràn từ đồng ruộng, hay nước thải từ các khu nuôi trồng thủy sản và các thành phố, theo các con sông và kênh rạch để tập trung ở rừng ngập mặn Những mối đe dọa tự nhiên rừng ngập mặn còn có thể bị đe dọa bởi những cơn sóng lớn hay thảm họa tự nhiên như các cơn bão Sâu và bệnh cũng gây ảnh hưởng xấu đến cây rừng ngập mặn Con hàu gây tổn hại cho các cây con bằng cách bám mình vào thân và rễ cây
- Biến đổi khí hậu: Trong tương lai khi mực nước biển dâng do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu sẽ đe dọa đến rừng ngập mặn trên khắp thế giới Khi nước biển dâng, một số khu vực sinh sống của một số cây rừng ngập mặn sẽ bị ngập nhiều hơn (hay bị quá mặn) cho loài cây rừng đó sinh sống Nếu cây ngập mặn không thể di chuyển lên vùng đất cao hơn, do bị cản bởi đê hay các vật cản khác, cây sẽ không có chỗ nào để sống và bị chết ngập Biến đổi khí hậu cũng được dự đoán là sẽ tăng cường độ những sự kiện thời tiết cực đoan như bão tố và lũ lụt Càng nhiều lần xuất hiện những sự kiện như vậy thì rừng càng
bị tổn thương (do không kịp phục hồi)
Hoạt động bảo vệ
Rất nhiều chính phủ trên khắp thế giới trong đó có Việt Nam đã đặt ra những luật
để bảo vệ rừng ngập mặn, và đã bắt đầu thực hiện những chương trình trồng lại rừng để tăng diện tích bao phủ bởi rừng ngập mặn So với mức độ bao phủ rừng vào khoảng 155.290
Trang 24ha của năm 1990, năm 2005 Việt Nam đã trồng và đạt được diện tích rừng ngập mặn là 209.741 ha Các hoạt động tuyên truyền khuyến khích bảo vệ rừng ngập mặn bao gồm:
- Cẩn thận khi đi trong rừng ngập mặn: không vô tình làm gãy cây rừng hay giẫm đạp lên cây con khi đi vào trong rừng, hay lúc đi đánh bắt tài nguyên như cua, tôm và cá
- Giữ sạch môi trường nước: không vứt rác thải vào sông, rạch hay biển, bởi vì nó sẽ trôi theo dòng nước để đến rừng ngập mặn
- Không sử dụng các hóa chất và thuốc trừ sâu bởi khi theo dòng nước thải ra biển chung đặc biệt nguy hiểm cho các khu rừng ngập mặn
- Tổ chức và vận động tham gia vào các sự kiện trồng rừng ngập mặn
• Tổng quan khu vực nghiên cứu
Vị trí địa lý :
Phía Nam giáp: tỉnh Quảng Ngãi, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum, phía Đông giáp biển Đông Tên gọi Quảng Nam có nghĩa là mở rộng về phương Nam Quảng Nam là vùng đất giàu truyền thống văn hóa với hai di sản văn hóa thế giới là phố cổ Hội An và thánh địa
Mỹ Sơn Quảng Nam còn là vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi sản sinh ra nhiều người con
ưu tú cho đất nước Với diện tích 10,438 km² và dân số trung bình hơn 1.567 triệu người (2019), Quảng Nam đứng thứ 6 về diện tích, thứ 19 về dân số trong số 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam Mật độ dân số là 140 người/km² (đứng thứ 45/63) so với 293 người/km² của
cả nước Quảng Nam là tỉnh đầu tiên của duyên hải Nam Trung Bộ có 2 thành phố trực thuộc tỉnh (Tam Kỳ, Hội An) Đây cũng là tỉnh duy nhất của duyên hải Nam Trung Bộ có đường biên giới quốc tế
Tỉnh Quảng Nam nằm ngay giữa miền Trung của Việt Nam, trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung gồm Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định Ngày 1/1/1997, tỉnh Quảng Nam được chính thức tái lập.Với vị trí địa lý của mình, Quảng Nam có nhiều điều kiện kinh tế thuận lợi trong quan hệ và giao lưu kinh tế với các địa phương trong cả nước cũng như với các nước láng giềng Hơn thế nữa, Quảng Nam còn là một trong số rất ít địa phương trong cả nước có sân bay, cảng biển, đường sắt và quốc lộ, đồng thời là nơi triển khai mô hình khu kinh tế mở đầu tiên trong cả nước với những chính sách ưu đãi đầu tư hấp dẫn (Khu kinh tế mở Chu Lai); lại có 2 di sản văn hóa (Khu Di tích Mỹ Sơn và phố cổ Hội An) được thế giới công nhận Do đó, có thể nói Quảng Nam chứa đựng nhiều tiềm năng, cơ hội lớn để phát triển mạnh mẽ…
Địa hình
Với 4 dạng chính là: địa hình núi cao, địa hình đồi cao núi thấp, địa hình đồi gò và địa hình đồng bằng bị chia cắt theo các lưu vực sông Vu Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ Địa hình núi cao phân bổ ở phía Tây Bắc và Tây Nam của tỉnh, gồm nhiều dãy núi chạy nối tiếp
Trang 25theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, độ cao trung bình từ 500 - 1000 m, nằm trong hệ thống dãy Trường Sơn, có nhiều ngọn núi cao, trong đó cao nhất là Ngọc Linh (2.567m) Địa hình núi cao có hướng dốc từ Tây sang Đông và từ Bắc xuống Nam, càng về phía Đông Nam địa hình càng thấp dần Ngoài ra, ở ven biển Quảng Nam còn có nhiều hòn đảo lớn nhỏ Vùng đồi núi chiếm 72% Vùng ven biển là dải cồn cát chạy dài từ xã Điện Nam huyện Điện Bàn đến xã Tam Nghĩa huyện Núi Thành
Quảng Nam có hướng địa hình nghiêng dần từ Tây sang Đông, hình thành 3 kiểu cảnh quan sinh thái rõ rệt là kiểu núi cao phía Tây, kiểu trung du ở giữa và dải đồng bằng ven biển Vùng đồi núi chiếm 72% diện tích tự nhiên với nhiều ngọn cao trên 2.000m Ngoài ra, vùng ven biển phía đông sông Trường Giang là dải cồn cát chạy dài từ Điện Nam, Điện Bàn đến Tam Quan, Núi Thành Bề mặt địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngoài khá phát triển gồm sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ và sông Trường Giang
Hệ thống sông ngòi Quảng Nam với tổng chiều dài hơn 900 km, nối liền miền xuôi
và miền ngược, thuận lợi cho giao lưu kinh tế bằng đường thủy giữa các địa phương, giữa Hội An, Vĩnh Điện, Tam Kỳ và Đà Nẵng, tạo nên lợi thế trao đổi buôn bán trong tỉnh thông qua đường thủy từ nhiều thế kỷ trước Con sông lớn nhất của Quảng Nam là sông Thu Bồn, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, chảy qua các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Phước Sơn, Hiệp Đức, Quế Sơn, Duy Xuyên và đến Giao Thủy (Đại Lộc) Từ Giao Thủy, sông Thu Bồn xuôi về Điện Bàn, Hội An Sông Trường Giang chạy dọc theo vùng cát ven biển, nối cửa An Hoà với cửa Đại, nối sông Tam Kỳ - có diện tích lưu vực 300 km2, bắt nguồn từ
10 con suối ở Đông Trường Sơn đổ ra cửa biển An Hòa - với sông Thu Bồn Một phân lưu của sông Thu Bồn là sông Vĩnh Điện chảy ra phía bắc của tỉnh, hợp lưu với sông Cẩm Lệ
và sông Cổ Cò Ngoài ra, trong tỉnh còn có một số con sông nhỏ khác như sông An Tân, sông Tiên
Khí hậu
Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu giao thoa giữa Bắc Hải Vân, Nam Hải Vân, giữa Đông Trường Sơn với Tây Trường Sơn nên tạo nhiệt đới ẩm gió mùa; mùa mưa trùng với mùa Đông; mưa tập trung vào các tháng 9 - 12, chiếm 80% lượng mưa cả năm và mùa khô trùng với mùa hạ Khí hậu: nhiệt đới gió mùa, độ ẩm không khí trung bình 84%; gió Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau (vận tốc gió trung bình 6-10m/s); gió Nam, Đông Nam, Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 8 (vận tốc gió trung bình 4-6 m/s) Nhiệt độ trung bình : 25,4°C Mùa đông dao động từ 29 -24°C
Lượng mưa trung bình hằng năm: 2.580mm, tập trung trong các tháng 9, 10, 11 (chiếm 85% lượng mưa cả năm)
Tình hình kinh tế xã hội
Trang 26Tổng chi ngân sách địa phương 6 tháng đầu năm 2020 là 9.271 tỷ đồng, đạt 34% dự toán, nếu không tính chi chuyển nguồn từ năm trước chuyển sang thì ước thực hiện 6 tháng đầu năm là 7.571 tỷ đồng, đạt 27% dự toán Do đại dịch Covid-19 và các yếu tố bất lợi khác dẫn đến số thu ngân sách nhà nước năm 2020 dự kiến không đạt dự toán giao, UBND tỉnh đã trình Thường trực HĐND tỉnh thống nhất phương án cắt giảm dự toán chi ngân sách tỉnh năm 2020 để đảm bảo cân đối ngân sách; chỉ đạo UBND cấp huyện thực hiện cắt
dự toán chi ngân sách năm 2020 do dự báo ngân sách địa phương hụt thu; tăng cường lãnh đạo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Năm 2021, tỉnh Quảng Nam phấn đấu phát triển thêm khoảng 1.500 doanh nghiệp, nâng tổng số doanh nghiệp hoạt động lên gần 9.250 doanh nghiệp; phát triển thêm 35 - 40 hợp tác xã, nâng số hợp tác xã hoạt động lên hơn 430 hợp tác xã
Năm 2020, tình hình dịch bệnh COVID-19 và thiên tai, bão lụt đã làm ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Do vậy, tình hình phát triển kinh tế của tỉnh gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng giảm Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn 23.682 tỷ đồng, đạt 91,9% so với dự toán
Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh năm 2020 ước đạt 65.783 tỷ đồng, dự kiến bằng 93% so với năm 2019 Ngành sản xuất công nghiệp và xây dựng chịu nhiều ảnh hưởng bởi chuỗi cung ứng bị đứt gãy, mức tiêu thụ giảm, tăng trưởng bằng 94,9% so với năm 2019
Ngành thương mại - dịch vụ bằng 89,8% so cùng kỳ năm 2019, bị ảnh hưởng nhiều nhất là lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 55,3% Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2020 ước đạt 47,3 nghìn tỷ đồng, bằng 88% so với năm 2019
1.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
❖ Trên thế giới
Hiện nay các nghiên cứu về phân lớp giáp xác chân chèo Copepoda trên thế giới đã được những thành tựu từ rất sớm đặc biệt là các nước thuộc châu Âu, châu Mỹ, sau này các nước châu Á như Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, cũng đã quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu về Copepoda, sớm ghi nhận được nhiều loài mới và loài đặc hữu ở nhiều khu vực khác nhau tiêu biểu như nghiên cứu về đa dạng Copepoda ở khu rừng ngập mặn Tây
Bắc bán đảo Malaysia đã phát hiện ra loài mới Cletocamptus merbokensis sp Nov, nó được phân biệt với tất cả các loài Cletocamptus đã biết khác (Gee, 1999) Ở khu vực lân cận
Marseilles, Pháp đã phát hiện được động vật chân đốt có hình dáng giống Acartia amida là loài giáp xác chân đầu phong phú nhất ở đầm phá Berre (Cervetto, Gaudy, & Pagano,
1999) Tại Australia,nghiên cứu đã mô tả hai loài mới Oithona nishidai và O.robertsoni ở
vùng nước văn bờ và rừng ngập mặn ở Bắc Queensland species-of-Oithona-Copepoda-Cyclopoida-from-mangrove-water-of-North-Queensland-
Trang 27(“Mckinnon-2000-Two-new-Australia-annotated.pdf,” n.d) Ở hệ sinh thái rừng ngập mặn của Sinai, Brasil, Antilles ở
Hà Lan và Florida, Harpacticoida thuộc họ Darcythompsoniidae từ đã tìm thấy được hai
loài mới, được mô tả: Darcythompsonia radans từ Sinai (cũng được tìm thấy ở Brasil và Curacao) và Leptocaris mangalis từ Sinai (cũng được tìm thấy ở Brasil và Florida ở Brasil
và Florida) (Society, 2016) Khu vực phía nam của Cuba ở đầm phá rừng ngập mặn, nghiên cứu cũng đã ghi nhận được Copepoda là một trong năm đơn vị phân loại phổ biến nhất (Marinas & Biologie, 1986) Nghiên cứu đối với copepoda trong hệ sinh thái cửa sông ven biển cũng phát triển mạnh mẽ đặc biệt ở khu vực châu Mỹ tiêu biểu như nghiên cứu về sự phận bố của bộ Cyclopoida và Calanoida ( Copepoda) theo chiều dọc tại Đông Bắc Mỹ (Turner, 1981) Một nghiên cứu của M Rakhesh và A.V Raman nghiên cứu về quần thể copepoda tại cửa sông Godavari thuốc Ấn Độ cho thấy copepoda nổi bật hơn cả về độ phong phú loài cũng như khả năng phân bố (M Rakhesh a, , A.V Raman a,*, T Ganesh
a, A, & F Dehairs, 2013)
❖ Tại Việt Nam
Nghiên cứu về Copepoda trong những năm gần đây ở Việt Nam cũng đang dần được chú ý, quan tâm.Các nghiên cứu về thành phần loài giáp xác nhỏ sống nổi ở Việt Nam chủ yếu được thực hiện bởi các tác giả nước ngoài Tuy nhiên các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào thủy vực nước ngọt như sông hồ, hay các nước trong hang động Các nghiên cứu đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn rất ít Tuy nhiên đối với nghiên cứu về Calanoida, Trần Đức Lương và Hồ Thanh Hải cũng đã lập được danh sách cập nhật của các loài xảy ra trong nước, danh sách kiểm tra nhằm cung cấp tình trạng phân loại và thông tin phân phối về chi Diaptomids tại Việt Nam một cách toàn diện (T D Luong, H T Hai, 1903) Một nghiên cứu ở Hồ Phú Ninh thuộc tỉnh Quảng Nam của Võ Văn Phú và Hoàng Đình Trung đã tìm thấy tổng 11 họ, trong đó Copepoda có 15 loài thuôc 3 họ (Võ Văn Phú, 2009) Nghiên cứu giáp xác chân chèo giống Pseudodiaptomus cũng đã được một số tác giả quan tâm về phân loại học và phân bố ở cả các thủy vực nước ngọt, nước lợ và biển (Brancelj, 1994) Bên cạnh đó còn có các nghiên cứu của Quang Ngo Xuan, Ann Vanreuse, Nguyen Vu Thanh và Nic Smol về sự đa dạng sinh học của Meiofauna ở Bãi bồi Khe Nhạn, Rừng ngập mặn Cần Giờ, Việt Nam, đã được tìm thấy tổng cộng 18 đơn vị phân loại meiofaunal với đơn vị phân loại ưu thế thuộc bộ Nematoda, Copepoda, Sarcomastigophora
và Polychaeta (Xuan, Vanreusel, Thanh, & Smol, 2007) Tại khu vực bãi triều ở cửa sông
Bé (Vịnh Nha Trang,Việt Nam) Nghiên cứu cũng đã tìm thấy Copepoda (Harpacticoida ) thuộc trong sáu nhóm phân loại có thứ hạng cao được tìm thấy trong các loài meiofauna (Mokievsky et al, 2011) Nghiên cứu của Trương Sĩ Hải Trình và Nguyễn Tâm Vinh về đa dạng sinh học động vật phù du ở khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm, Hội An ( Quảng
Trang 28Nam ) đã công nhận rằng Copepoda là nhóm chiếm ưu thế với 92 loài (Trinh Si Hai Truong, 2019)
Trang 29CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng:
Phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) trong hệ sinh thái rừng ngập mặn tại địa điểm thuộc Quảng Nam và các chỉ tiêu môi trường (NO3-, NH4+, NO2-, PO43-, SO42-, Fe2+, Nhiệt độ (0C), EC, TDS, pH, NTU, DO, Chl-a.,…)
• Phạm vi nghiên cứu
Rừng ngập mặn thuộc khu vực Hội An (Quảng Nam)
Rừng ngập mặn Tam Giang- Núi Thành (Quảng Nam)
2.2 Địa điểm thời gian nghiên cứu
• Địa điểm: Mẫu copepoda được thu thập tại 20 địa điểm ở rừng ngập mặn Hội An
và Núi Thành gồm:
10 địa điểm ở hệ sinh thái rừng ngập mặn Hội An ,Quảng Nam
10 địa điểm ở hệ sinh thái rừng ngập mặn Núi Thành, Quảng Nam
Hình 2.1 Bản đồ các địa điểm thu mẫu động vật tại hệ sinh thái rừng ngập mặn Hội An Bảng 2.1 Các điểm thu mẫu động vật tại hệ sinh thái rừng ngập mặn Hội An
1 Điểm 1 Đ1 Hội
An
15°52'29.9"N 108°22'22.2"E
2 Điểm 2 Đ2 Hội
An
15°52'31.8"N 108°22'21.9"E