ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA: SINH-MÔI TRƯỜNG *** NGUYỄN NGỌC DUNG ĐỀ TÀI : NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC PHÂN LỚP GIÁP XÁC CHÂN CHÈO COPEPODA TRONG NƯỚC NGẦM THUỘC MỘT SỐ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA: SINH-MÔI TRƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Đà Nẵng - 2021
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA: SINH-MÔI TRƯỜNG
***
NGUYỄN NGỌC DUNG
ĐỀ TÀI :
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC PHÂN LỚP GIÁP XÁC CHÂN
CHÈO (COPEPODA) TRONG NƯỚC NGẦM THUỘC MỘT SỐ ĐỊA
ĐIỂM CỦA TỈNH QUẢNG NAM VÀ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên môi trường
Mã số : 3150317005
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Người hướng dẫn : Th.S Trần Ngọc Sơn
Đà Nẵng - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan các dữ liệu trình bày trong khóa luận này là trung thực Đây là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của Th.S Trần Ngọc Sơn khoa Sinh – Môi trường, trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác trước đây Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm nếu vi phạm bất kì quy định nào
về đạo đức khoa học
Tác giả
Nguyễn Ngọc Dung
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Em xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã tạo mọi điều kiện cho em trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này Trước hết, em xin gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc đến Th.S Trần Ngọc Sơn, người đã trực tiếp hướng dẫn em trong luận văn này Thầy đã dành cho em nhiều thời gian, công sức, cho em nhiều ý kiến, nhận xét quý báu, chỉnh sửa cho em những chi tiết rất nhỏ trong luận văn này, góp phần cho luận văn của em được hoàn thành về cả mặt nội dung lẫn hình thức
Đồng thời em cũng xin cám ơn các thành viên trong phòng thí nghiệm công nghệ môi trường đã giúp em trong quá tình hoàn thành đề tài
Bên cạnh đó, em cũng xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, thầy cô đã động viên, khuyến khích, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện
Do hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm nên trong quá trình thực hiện luận văn không tránh khỏi những sai sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu: 4
1.1.1 Giới thiệu về Copepoda 4
1.1.2 Tổng quan về nước ngầm 8
1.2 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu 9
1.2.1 Nước Ngoài 9
1.2.2 Trong Nước 10
1.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu: 11
1.3.1 Tỉnh Quảng Nam 11
1.3.2 Thành phố Đà Nẵng 13
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 16
2.2 Nội dung nghiên cứu: 19
2.2.1 Đánh giá mức độ đa dạng sinh học của phân lớp Copepoda 19
2.2.2 Đánh giá các thông số môi trường nước ngầm 19
2.2.3 Đánh giá mối tương quan giữa các thông số môi trường với mức độ đa dạng sinh học Copepoda 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 20
2.3.1 Phương pháp lấy mẫu ngoài thực địa 20
2.3.2 Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm 21
2.3.3 Phương pháp phân loại Copepoda 21
2.3.4 Phương pháp đếm mật độ cá thể 22
2.3.5 Chỉ số chất lượng nước ngầm ( Ground Water Quality Index) 22
2.3.6 Phương pháp phân tích số liệu 23
2.3.7 Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử Atomic Absorbtion Spectrometric (AAS) 23
2.3.8 Chỉ số đa dạng Shannon – Wiener và chỉ số đa dạng sinh học Simpson 23
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 24
3.1 Thành phần Copepoda 24
3.1.1 Danh mục thành phần loài Copepoda 24
3.1.2 Mối tương đồng giữa sự xuất hiện loài tại các khu vực lấy mẫu 32
Trang 63.1.3 Chỉ số đa dạng Shannon và Simpson 34
3.2 Thông số môi trường nước tại các địa điểm nghiên cứu 35
3.2.1 Số liệu môi trường 35
3.2.2 Tương quan giữa các thông số môi trường 37
3.2.3 Chỉ số chất lượng nước GWQI 40
3.2.4 Mối tương quan giữa chất lượng nước GWQI với mật độ loài 42
3.3.5 Mối tương quan chất lượng môi trường nước đến sự phân bố loài 43
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
4.1 Kết luận 46
4.2 Kiến nghị 46
Tài liệu tham khảo: 47
Trang 8DANH MỤC BẢNG
2.4 Trọng số, trọng số tương quan và giá trị giới hạn chỉ số chất
3.4 Ma trận tương quan giữa các thông số môi trường nước ở
3.5 Ma trận tương quan giữa các thông số môi trường nước ở
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
3.1
Hình ảnh một số loài tìm thấy: a) E intermedia; b) P
camptoides; c) D disjunctus; d) Austriocyclops sp; e) Cryptocyclopina sp; f) M leuckarti; g) E.bidens; h) E
richardi ; k) E.cuspidata
28
3.2
Loài Nitokra quadriseta: a) râu 1; b) râu 2; c) chạc đuôi;
d) chân 1_1; e) chân 1_2; f) chân 2; g) chân 3; h) chân 4;
k) chân 5
29
3.3
Loài Nitocra fallaciosa: a) râu 1; b) râu 2; c) chạc đuôi; d)
chân 1; e) chân 2; f) chân 3; g) chân 4; h) chân 5_1; k) chân 5_2
Trang 10TÓM TẮT
Nghiên cứu đa dạng sinh học phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) trong nước ngầm thuộc một số địa điểm của tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng được thực hiện với 27 điểm lấy mẫu chia làm 2 khu vực nước giếng và sinh cảnh cát Nghiên cứu ghi nhận được 15 loài,
trong đó 7 loài mới cho khu hệ giáp xác nước ngọt của Việt Nam là Nitokra quadriseta, Nitocra fallaciosa, Themocyclops dybowski, Phyllognathopus camptoides, Diacyclops disjunctus, Elaphoidella cuspidata, Mesocyclops leuckarti Trong đó, mô hình tường
quan đa biến (CCA) cho thấy các thông số môi trường của nước ngầm như Sal, EC, Cl
-,
TDS tương quan thuận với N quadriseta Thông qua bảng phân tích các thông số môi
trường thì nhận thấy có sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 khu vực nước giếng và sinh cảnh cát ở cả 2 tỉnh đối với các thông số nhiệt độ, pH, độ đục, DO, Nitrat, Amoni Kết quả phân tích GWQI từ 27 điểm lấy mẫu so sánh với bảng phân hạng chất lượng (GWQI) nhận thấy chất lượng nước tốt (<50) đạt 44.44% , chất lượng nước trung bình đạt 40.74% còn chất lượng xấu đạt tỉ lệ thấp nhất là 14.82
Từ khóa: Nước giếng, sinh cảnh cát, Copepoda, Hội An, Canonical Correspondence Analysis
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trên thế giới những nghiên cứu về động vật phù du đã phát triển rất sớm vì đây là một mắc xích thức ăn vô cùng quan trọng trong các hệ sinh thái dưới nước Một nhóm sinh vật trong số đó được các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý bởi sự phổ biến của chúng trong các thủy vực đó là phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) Copepoda là một nhóm động vật giáp xác kích thước nhỏ phân bố rộng ở hầu hết các môi trường khác nhau từ nước ngọt đến nước mặn, kể cả những môi trường khắc nghiệt như nước ngầm, suối nước nóng hay vùng nước băng tan (Pierre Marmonier et al., 1993) Copepoda được biết đến là một thành phần quan trọng của lưới thức ăn trong hệ sinh thái dưới nước từ vùng nước ngọt đến vùng nước mặn (Bostock, 2010) Copepoda là thức ăn thiết yếu đối với con non của nhiều sinh vật biển, Copepoda đóng vai trò chuyển tiếp năng lượng từ các bậc thức ăn thấp hơn (thực vật, mùn bã hữu cơ) đến mắt xích thức ăn cao hơn trong
hệ sinh thái Ngoài ra Copepoda còn được sử dụng làm sinh vật chỉ thị môi trường khá hiệu quả (Wojciech Piasecki1 et al., 2004) Hiện nay trên thế giới đã có khoảng 24.000 loài thuộc 2.400 giống và 210 họ đã được mô tả, trong đó có khoảng 2.800 loài sống ở các thủy vực nước ngọt Với hơn 900 loài được biết đến từ các tầng nước ngầm lục địa (Galassi, 2001)
Nước ngầm là nguồn nước quan trọng đóng vai trò là nguồn nước chính lưu trữ nước ngọt trong chu trình thủy văn (Mark Louie D Lopez et al., 2017) Cấu trúc của nước ngầm có thể được xác định bởi một số khía cạnh chẳng hạn như địa mạo,thủy văn, hóa học, thành phần cơ chất, thực phẩm nguồn và quần xã sinh vật (Galassi, 2001) Copepoda là thành phần chính của động vật nước ngầm, chúng có mặt hầu hết các môi trường nước ngầm, trong đó Cyclopoida và Harpacticoida là hai bộ chiếm ưu thế hơn hẳn đối với nước ngầm bởi đặc điểm hình thái của chúng dễ thích nghi với kiểu môi trường này (Galassi, 2001) Trong đó bộ Cyclopoida đã ghi nhận được 12 họ, 80 chi và 450 loài còn đối với bộ Harpacticoida đã ghi nhận được 54 họ, 460 chi và 3.000 loài (Bostock, 2010)
Các nghiên cứu về đa dạng sinh học phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) cũng như mối tương quan giữa đa dạng sinh học này với các yếu tố môi trường ở trên thế giới cũng bắt đầu xuất hiện nhiều hơn Các nghiên cứu này bắt đầu rất sớm, hiện nay đã được lan rộng ra nhiều khu vực và đạt được nhiều thành tựu khi phát hiện ra nhiều loài mới, cùng với đó là phát triển các nghiên cứu ứng dụng Copepoda đặc biệt là trong sản xuất thức ăn thủy sản Ở khu vực Jura của Pháp năm 2009 thì đã phát hiện ra 62 loài, trong đó chủ yếu là thuộc Cladocera, Cyclopoida, Harpacticoida, Ostracoda, Amphipoda, Isopoda
Trang 12và Bathynellacea đồng thời đánh giá được các thông số môi trường như pH, DO,
Mg2+,Cl-,… tương quan với đa dạng sinh học (Marie-Jose´ et al., 2009) Một nghiên cứu mới hơn vào năm 2017 ở Philippines đã phát hiện 21 loài gồm Cladocera và Copepoda và
họ cho rằng sự phân bố của động vật giáp xác bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ, oxy hòa tan và
độ cao (Mark Louie D Lopez et al., 2017)
Ở Việt Nam thì nghiên cứu đa dạng sinh học phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) đã được quan tâm nhiều hơn so với trước đây nhưng chỉ tập trung nghiên cứu
về đa dạng sinh học chứ vẫn chưa có nghiên cứu đánh giá mối tương quan giữa đa dạng sinh học và các yếu tố môi trường Tiến sĩ Trần Đức Lương là người có nhiều nghiên cứu
về đa dạng trong lĩnh vực này Các nghiên cứu của Ông đa phần tập trung ở khu vực Bắc Trung Bộ, đối với nước ngầm ông đã có những nghiên cứu và phát hiện được loài
Hadodiaptomus dumonti n gen., n sp thuộc bộ Calanoida ở khu vực núi đá vôi Quảng
học Copepoda trong nước ngầm ở khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng nói riêng và khu hệ giáp xác Việt Nam nói chung Ngoài ra, nghiên cứu này cũng sẽ là nghiên cứu nền tảng cho các nghiên cứu ứng dụng sau này
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá đa dạng sinh học của phân lớp Copepoda trong nước ngầm tại một số địa điểm ở Quảng Nam và Đà Nẵng
- Đánh giá được chất lượng nước ngầm tại một số huyện của tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng
- Đánh giá được mối tương quan giữa đa dạng sinh học các loài Copepoda và các thông số môi trường nước ngầm tại khu vực
3 Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài sẽ góp phần vào công tác điều tra, quản lý bảo tồn đa dạng sinh học trong nước ngầm cho khu vực Quảng Nam và Đà Nẵng đồng thời hỗ trợ công cụ đánh giá trong quan trắc giám sát môi trường
- Bổ sung dữ liệu khoa học cho phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) cho Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung
Trang 134 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá mức độ đa dạng sinh học của phân lớp Copepoda
- Đánh giá các thông số môi trường nước ngầm
- Đánh giá mối tương quan giữa các thông số môi trường với mức độ đa dạng sinh học Copepoda
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu:
1.1.1 Giới thiệu về Copepoda
5 Phân lớp Copepoda (chân chèo) thuộc nhóm Crustacea (giáp xác), ngành Arthropoda (chân khớp) Phân lớp Copepoda phân chia thành 3 bộ: Bộ Calanoida, bộ Cyclopoida và bộ Harparticoida sống tự do (Hình 1.1)
6 Phân lớp Copepoda chia thành hai bộ là EuCopepoda và Branchiura trong đó có
6 bộ phụ là Caligoida, Lernaeopodoida, Arguloida (sống ký sinh) và Calanoida, Cyclopoida, Harpacticoida (sống tự do) (Dương Trí Dũng, 2001)
7 Copepoda thích nghi cao với môi trường sống trong trầm tích nước ngầm, hiện
có khoảng 2.800 loài sống trong thủy vực nước ngọt (Galassi, 2001)
Bộ Cyclopoida Bộ Harpacticoida Bộ Calanoida
Hình 1.1: Ba bộ của phân lớp giáp xác chân chèo
Các bộ sẽ có các đặc điểm hình thái và thích nghi với các dạng môi trường sống khác nhau được thể hiện trong bảng 1.1
Bảng 1 1: Đặc điểm phân biệt các bộ sống tự do của Copepoda
Cơ thể Phần trước cơ thể dài
hơn phần sau cơ thể rất nhiều
Phần trước cơ thể dài hơn phần sau cơ thể rất nhiều
Phần trước wor thể chỉ hơi dài hơn phần sau cơ thể
Vị trí điểm Giữa đốt sinh dục và Giữa đốt ngực IV và Điểm co thắt không rõ ràng
Trang 15Râu A1 Dài từ 23 -25 đốt, có
thể dài từ cuối ngực đến cuối chạc đuôi
Ngắn, từ 6 – 17 đốt, dài từ đốt ngực thứ 3 đến cuối ngực
Rất ngắn, từ 5 -9 đốt dài từ đốt đầu thứ 5 đến cuối đầu
Cặp chân
ngực thứ 5
Giống các cặp chân ngực khác
Chân ngực V tiêu giảm
Chân ngực V tiêu giảm
Sống ở vùng triều, trên thực vật lớn và cả nền đáy
10 Thức ăn chủ yếu là thực vật phù du ngoài ra còn có luân trùng và Ciliates
đầu trong suốt, đối với các loài dưới lòng đất mắt có thể tiêu biến
12 Chiều dài biến động trong khoảng 0.3 - 3.2 mm nhưng đa phần có chiều dài nhỏ hơn 2.0 mm Cơ thể có màu nâu hay hơi xám, những loài sống ở vùng triều có màu sáng hơn, cơ thể có màu tím hay đỏ
đầu nằm trong vỏ giáp Có thể hai đôi chân ngực thứ 4 và thứ 5 hay thứ 5 và thứ 6 hợp lại thành 1 đốt
14 Phần bụng có từ 3-5 đốt, thường thì có 4 đốt Đốt ngực cuối và đốt bụng đầu tiên dính lại với nhau bằng một vòng mềm dẻo và ngắn Khớp nối làm con vật cử động dễ dàng là khớp phân biệt giữa phần đầu và thân Phần thân gồm các đốt bụng và đốt ngực thứ 7 (có khi là đốt thứ 6) Phần đầu thật sự có 5 đôi phụ bộ đó là: Râu A1(antennules), râu A2 (antennae), hàm trên (maxillae) 1 và hàm trên 2, hàm dưới (mandibles) Đốt ngực đầu tiên dính với đầu có một đôi chân hàm (maxillipeds) và từng đốt ngực còn lại mang một đôi chân hàm (maxillipeds) và từng đốt ngực còn lại mang
Trang 16một đôi chân bơi Trong một vài loài ở đốt ngực thứ 7 tiêu giảm và đốt này không còn phần phụ (Dương Trí Dũng, 2001)
15 Phần phụ đầu: rất biến đổi tùy theo chức năng Râu A1 dài và chỉ có một nhánh, đây là cơ quan cảm giác nhưng cũng có thể dùng để vận động Cả hai râu A1 con đực của Cyclopoida và Harpacticoida là cơ quan sinh dục dùng trong lúc bắt cặp Riêng Calanoida chỉ có râu A1 bên phải làm nhiệm vụ sinh dục Râu A2 ngắn hơn, có 2 hay 1 nhánh có vai trò quan trọng trong việc cảm giác, riêng ở Harpacticoida các râu này có thể dùng để nắm bắt được Các đôi hàm biến đổi để lấy thức ăn (Dương Trí Dũng, 2001)
16 Phần phụ ngực: các đôi chân ngực biến đổi từ lúc bắt đầu cho đến hai đôi chân cuối Nhóm sống tự do đôi chân thứ 6 luôn thiếu ở con cái hay biến đổi chỉ còn dạng sơ khai (ở con đực) Đôi chân số 5 giảm hay tiêu giảm ở nhóm Cyclopoida và Harpacticoida, nhưng ở Calanoida thì đôi chân này phát triển cân đối ở con cái và bất đối xứng ở con đực, khi đó nó biến đổi thành cái móc (Dương Trí Dũng, 2001)
17 Chạc đuôi: đốt cuối cùng chẻ hai tạo ra hai nhánh đuôi Cấu trúc của nó đơn giản có hình trụ không phân nhánh và cũng không giống với phần phụ nào ở đầu và ngực (Dương Trí Dũng, 2001)
Chu kì sống
Trong chu kỳ sống của Copepoda, thông thường có 4 dạng hình thái là: Trứng, 6 giai đoạn ấu trùng Nauplius, 5 giai đoạn copepodid và trưởng thành
Trứng của Copepoda nở thành ấu trùng nhỏ gọi là Nauplius Chúng có 3 đôi phụ bộ
để sau đó biến thành râu A1, A2 và hàm dưới Khi lột xác sang giai đoạn II, chúng chỉ có thêm hàm trên Có 4 giai đoạn ấu trùng và 5 giai đoạn tiền trưởng thành khi biến thành con trưởng thành có khả năng sinh sản Sau mỗi lần lột xác, con vật lớn lên và dài hơn đồng thời có thêm phụ bộ Ví dụ như Nauplius IV có đủ các phụ bộ của đôi chân thứ 2, Copepodid I có đốt ngực và có phụ bộ ở đôi chân thứ 4 Thời gian để hoàn thành một chu
kỳ sống từ trứng cho đến khi sinh sản biến động tùy theo loài và điều kiện môi trường (Dương Trí Dũng, 2001)
Sinh sản
Tập tính sinh sản hầu như giống nhau ở nhóm Copepoda sống tự do, nhưng các loài khác nhau có thời kỳ sinh sản khác nhau Con đực dùng râu A2 và chân ngực 5 ôm lấy con cái, thời gian ôm nhau trong khoảng vài phút hay có khi lên đến vài ngày Con đực
ôm con cái trước khi con cái lột xác để trưởng thành
Con đực Calanoida có lỗ cảm giác nằm trên đốt sinh dục bất đối xứng, trong khi ôm nhau con đực sẽ đưa tinh trùng vào túi chứa tinh của con cái nhờ sự hỗ trợ của chân ngực
Trang 17Sự thụ tinh thật sự xảy ra khi hai cá thể đã tách rời nhau và con cái đẻ trứng, quá trình này hoàn thành trong vài phút hay tháng sau khi bắt cặp
Trứng thụ tinh sẽ được giữ trên mình con cái 1 hay 2 túi trứng cho đến khi nở thành
ấu trùng, khi trứng vừa nở thì nhóm trứng khác bắt đầu sinh ra và tiếp tục được thụ tinh (Dương Trí Dũng, 2001)
Vai trò
Copepoda tham gia vào chu trình vật chất trong thủy vực, đóng vai trò quan trọng trong bậc dinh dưỡng giữa vi khuẩn, tảo và động vật nguyên sinh với các nhóm sinh vật phiêu sinh, là nguồn thức ăn chính cho nhiều loài động vật không xương sống và động vật có xương sống lớn hơn
Copepoda được xem là một trong mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn, chúng
ăn phấn hoa, thực vật phù du, động vật không xương sống khác, và thậm chí cả ấu trùng
cá (Dương Trí Dũng, 2001)
Dinh dưỡng
Tùy theo nhóm sinh vật mà có cách lấy thức ăn và lựa chọn loại thức ăn thích hợp.Phần miệng của bộ Harpacticoida thích nghi với kiểu lấy thức ăn là cào lấy, sàng lọc
và tìm kiếm thức ăn từ đáy thủy vực
Thức ăn của Calanoida chủ yếu là sinh vật phù du nhỏ hơn và mùn bã hữu cơ được lọc qua râu A1 (quay, xoắn) và râu A2 (đập vỡ thức ăn) đưa vào dòng nước, từ đây nó sẽ được lọc qua phần miệng nhất là ở hàm trên Cũng có ý kiến cho rằng Calanoida lấy thức
ăn chủ động kết hợp với việc ăn lọc và chúng có khả năng lựa chọn cỡ và loại tảo ưa thích
Phần miệng của Cyclopoida biến đổi để thích nghi với lối ăn chủ động bằng cách bắt lấy vật mồi, thức ăn của chúng là tảo và động vật đơn bào, động vật đa bào cỡ nhỏ nhất là nhóm giáp xác khác Hiện tượng ăn nhau xảy ra phổ biến khi chúng chưa trưởng thành (Dương Trí Dũng, 2001)
Phân bố
Đây là nhóm sinh vật có nguồn gốc biển, chúng trải qua quá trình tiến hóa để đi vào vùng nước ngọt Bộ Cyclopoida là những sinh vật nước ngọt phân bố rộng trên thế giới Hầu hết Harpacticoida sống ở nước ngọt đều thuộc họ Canthocamptidae, chúng phân bố rộng từ vùng biển đến vùng nước lợ và nước ngọt
Copepoda chịu đựng điều kiện thiếu Oxy tốt hơn Cladocera đó là do khả năng trao đổi chất tốt trong điều kiện thiếu Oxy ở nền đáy thủy vực (Dương Trí Dũng, 2001)
Trang 181.1.2 Tổng quan về nước ngầm
Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở rời như cặn, sạn, cát, bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới bề mặt trái đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người Theo độ sâu phân bố, có thể chia nước ngầm thành nước ngầm tầng mặt và nước ngầm tầng sâu Nước ngầm có khả năng di chuyển nhanh trong các lớp đất xốp, tạo thành dòng chảy ngầm địa hình
Nước ngầm có trong ba loại tầng chứa nước chính: đá vôi (đá vôi), khe nứt (granit)
và xốp (phù sa) (Pierre Marmonier et al., 1993)
- Nguồn gốc trầm tích trầm tích, khi lắng đọng thì ở dạng bùn ướt Quá trình trầm tích tiếp theo tạo ra lớp đè lên trên, gây nén kết đá và nước bị tách ra thành vỉa Các vỉa nước dưới đáy mỏ dầu khí thuộc dạng này
- Nguồn gốc magma (Nguyên sinh): Do magma nguội đi thì quá trình kết tinh xảy
ra, lượng dư hydro và oxy nếu có sẽ tách ra, rồi kết hợp thành nước Đây là quá trình chính thời viễn cổ khi Trái Đất từ dạng khối vật chất nóng chảy nguội dần, nước tách ra
từ magma tạo ra khí hơi nước, mây rồi tích tụ tạo ra các đại dương cổ Nguồn nước từ magma đã giảm nhiều, do vỏ rắn Trái Đất hiện dày hơn, và hydro là nguyên tố nhẹ nên ít nằm lại trong lòng Trái Đất
- Nguồn gốc biến chất (Thứ sinh): Các hoạt động xâm nhập làm nóng đất đá, gây biến chất các lớp trầm tích bên trên, dẫn đến thải nước từ trầm tích Về chi tiết thì có hai hiện tượng: nước tự do (phân tử nước tự do nằm trong đất đá và có thể di chuyển hay khai thác được, do nhiệt độ cao nên tách ra khỏi tầng đá ) và nước liên kết (nước trong các phân tử ngậm nước của đất đá Bình thường thì nước này không tự do di chuyển và không khai thác được Quá trình biến chất chuyển đổi khoáng vật của đất đá sang dạng khác "đặc" hơn và thải nước liên kết ra)
Cấu trúc của một tầng nước ngầm được chia ra thành các tầng như sau:
- Bề mặt trên gọi là mực nước ngầm hay gương nước ngầm
Trang 19- Bề mặt dưới, nơi tiếp xúc với tầng đất đá cách thuỷ gọi là đáy nước ngầm Chiều dày tầng nước ngầm là khoảng cách thẳng đứng giữa mực nước ngầm và đáy nước ngầm
- Tầng thông khí hay nước tầng trên là tầng đất đá vụn bở không chứa nước thường xuyên, nằm bên trên tầng nước ngầm
- Viền mao dẫn: là lớp nước mao dẫn phát triển ngay trên mặt nước ngầm
- Tầng không thấm: là tầng đất đá không thấm nước
Đặc điểm:
- Nhiệt độ của nước ngầm tương đối ổn định
- Độ đục thường thay đổi theo mùa
- Độ màu: Thường thì không có màu, độ màu gây ra do chứa các chất của acid humic
- Độ khoáng hoá thường không thay đổi
- Sắt và mangan thường có mặt với các hàm lượng khác nhau
- CO2 thường xâm thực với hàm lượng lớn
- Oxy hoà tan thường không có
- H2S thỉnh thoảng có mặt trong nước ngầm
- NH4+ thường có mặt trong nước ngầm
- Nitrat, Silic có hàm lượng đôi khi cao
- Ít bị ảnh hưởng bởi các chất vô cơ và hữu cơ
- Clo có thể bị ảnh hưởng hoặc không bị ảnh hưởng tuỳ theo khu vực
Tại khu vực Châu Á thì nghiên cứu của Takashi Ito đã phát hiện ra 15 loài trong bộ Cyclopoida từ 33 địa phương, 31 giếng và 2 hang động đá vôi ở các quận khác nhau của Tây Nam Nhật Bản (Ito, 1952) Ở Trung Quốc thì một nghiên cứu của Shusen Shu et al… đã phát hiện một loài mới của bộ Calanoida được mô tả từ hang động ở tỉnh Vân
Trang 20Nam, Trung Quốc Đây là dữ liệu đầu tiên về Stygobiotic Calanoida từ Trung Quốc và là loài thứ tư từ châu Á (Shusen Shu et al., 2017) Nghiên cứu ở khu vực Nam Mỹ vào năm
2016 đã phân tích 22 loài động vật chân chèo để đánh giá tương quan giữa các chất dinh dưỡng, chất diệp lục, độ sâu và độ trong suốt của nước có ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ các loài chân chèo (Gilmar Perbiche-Nevesa et al., 2016) Trong đó thì chất diệp lục, tổng nito và tổng photpho có tương quan thuận với tỷ lệ các loài chân chèo còn nhiệt độ, DO thì có tương quan nghịch với tỷ lệ các loài chân chèo Bên cạnh đó, nghiên cứu năm
2018, nghiên cứu tại 17 hồ chứa của bang São Paulo bảy loài Copepoda Cyclopoida
(Eucyclops serrulatus, Tropocyclops prasinus cf meridionalis, Thermocyclops Crassus, Thermocyclops minutus, metacyclops mendocinus, mesocyclops longisetus và Microcyclops anceps) đã được tìm thấy, nghiên cứu này cũng cung cấp các khóa để xác
định Cyclopoida và xác định phân bố địa lý cũng như điều kiện môi trường (E K et al., 2018) Ngoài ra vào năm 2006, một loài mới thuộc chi Cyclopoid Australoeucyclops Karanovic đã được tìm thấy từ một số địa điểm không còn tồn tại ở Tây Nam Châu Úc, chúng là đại diện thứ sáu của chi này và là loài đặc hữu của Úc, New Zealand và Indonesia (Karanovic & Tang, 2009)
Năm 1966 đã phát hiện ra 10 loài Copepod Cyclopoid siphonostome thu thập ở
Mauritius, 8 trong số 10 loài này là mới đối với khoa học (Stock, 1966) Năm 1991, tại
Úc một nghiên cứu đã chỉ ra sáu trong số bảy loài Copepod Mesocyclops , được thu thập
từ phía đông bắc Australia, cho thấy tiềm năng là tác nhân kiểm soát sinh học của muỗi Aedes (M D Brown, B H Kay, 1991)
1.2.2 Trong Nước
Việt Nam trong những năm gần đây cũng bắt đầu nghiên cứu về đa dạng Copepoda tuy nhiên thì vẫn chưa có nhiều người tập trung vào lĩnh vực này Các nghiên cứu ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở khu vực phía Bắc và Bắc Trung Bộ còn khu vực miền Trung và Nam chưa có nghiên cứu nào về lĩnh vực này.Trong đó nghiên cứu vào năm 2013 của Trần Đức Lương với Hồ Thanh Hải với các mẫu vật ở các thủy vực nước ngọt, nước lợ
và biển ven bờ đã ghi nhận mới một số loài thuộc giống Pseudodiaptomus cho khu hệ Copepoda Việt Nam (Trần Đức Lương, 2013)
Ngoài ra đối với nước ngầm Trần Đức Lương cũng có nghiên cứu phát hiện ra hai loài Harpacticoid mới thuộc chi Microarthridion và ZD Boeck từ các hang động ngầm trong khu vực núi đá vôi tỉnh Ninh Bình, Bắc Việt Nam (Duc Luong Tran & Cheon Young Chang, 2012) Đó là nghiên cứu về đa dạng sinh học giúp phát hiện loài mới còn nghiên cứu đánh giá mối tương quan của môi trường và đa dạng sinh học thì chưa được nghiên cứu Một nghiên cứu khác của Hồ Thanh Hải ở động Phong Nha Quảng Bình vào
Trang 21năm 2003 đã ghi nhận 54 loài thực vật phù du, 39 loài động vật phù du, 14 loài nhuyễn thể và giáp xác đáy, 13 đơn vị phân loại thuộc họ ăn côn trùng và 36 loài cá (Ho Thanh Hai et al., 2003) Năm 2007, với nghiên cứu của Trần Đức Lương và Hồ Thanh Hải đã xác định được 6 loài giáp xác chân chèo mới cho khu hệ động vật nổi nước ngọt trong đó
có một loài thuộc bộ Cyclopoida (H T H Trần Đức Lương, 2007)
Mới nhất là Nghiên cứu tại sông Thu Bồn, Quảng Nam đã ghi nhận được 10 loài thuộc phân lớp Copepoda thuộc 09 chi, 06 họ và 03 bộ Trong đó, 01 chi và 02 loài ghi nhận mới cho khu hệ phân lớp giáp xác ở Việt Nam Trong đó, mô hình tường quan đa biến (CCA) cho thấy các thông số môi trường của nước mặt như EC, TDS, NO2- và PO43- ảnh hưởng đến các loài Schmackeria bulbosa, Thermocyclops crassus và Mesocyclops leuckarti với lần lượt là -0.87, -0.24 và -0.64 (Trần Ngọc Sơn et al., 2021)
1.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu:
1.3.1 Tỉnh Quảng Nam
Tỉnh Quảng Nam nằm ngay giữa miền Trung của Việt Nam, trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung gồm Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định Ngày 1/1/1997, tỉnh Quảng Nam được chính thức tái lập.Với vị trí địa lý của mình Quảng Nam có nhiều điều kiện kinh tế thuận lợi trong quan hệ và giao lưu kinh tế với các địa phương trong cả nước cũng như với các nước láng giềng Hơn thế nữa, Quảng Nam còn là một trong số rất ít địa phương trong cả nước có sân bay, cảng biển, đường sắt và quốc lộ, đồng thời là nơi triển khai mô hình khu kinh tế mở đầu tiên trong cả nước với những chính sách ưu đãi đầu tư hấp dẫn (Khu kinh tế mở Chu Lai); lại có 2 di sản văn hóa (Khu Di tích Mỹ Sơn và phố cổ Hội An) được thế giới công nhận Do đó, có thể nói Quảng Nam chứa đựng nhiều tiềm năng, cơ hội lớn để phát triển mạnh mẽ… (Giới thiệu tổng quan về tỉnh Quảng Nam, 2021)
Với diện tích 1.040,683 nghìn ha, tình hình thổ nhưỡng Quảng Nam gồm 09 loại đất khác nhau : cồn cát và đất cát ven biển, đất phù sa, đất xám bạc màu, đất đỏ vàng, đất thung lũng, đất bạc màu xói mòn trơ sỏi đá, (Giới thiệu tổng quan về tỉnh Quảng Nam, 2021)
Vị trí địa lý
Quảng Nam nằm ở miền Trung của Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội 860 km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 865 km về phía Nam Phía bắc giáp thành phố Đà Nẵng; phía đông giáp biển Đông với trên 125 km bờ biển; phía nam giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía tây giáp tỉnh Kon Tum và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Quảng Nam
18 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm 02 thành phố (Tam Kỳ, Hội An) và 16 huyện
Trang 22(Bắc Trà My, Duy Xuyên, Hiệp Đức, Nam Giang, Nam Trà My, Núi Thành, Phú Ninh, Phước Sơn, Quế Sơn, Tây Giang, Thăng Bình, Tiên Phước, Đại Lộc, Điện Bàn, Đông Giang, Nông Sơn) Thành phố Tam Kỳ là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của cả tỉnh Diện tích tự nhiên 10.406,83 km2, dân số xấp xỉ 1.5 triệu người
Khí hậu
Quảng Nam nằm trong vùng nhiệt đới, nhiệt độ trung bình hàng năm là 25.4°C, nhiệt độ cao nhất ở mùa hè không quá 42°C, giờ nắng trung bình hàng năm là 1300 giờ Lượng mưa trung bình hàng năm 2000mm – 2500mm nhưng phân bố không đều theo thời gian và không gian, mưa ở miền núi nhiều hơn đồng bằng, mưa tập trung vào các tháng 9 - 12, chiếm 80% lượng mưa cả năm; mùa mưa trùng với mùa bão, nên các cơn bão đổ vào miền Trung thường gây ra lở đất, lũ quét ở các huyện trung du miền núi và gây ngập lũ ở các vùng ven sông Độ ẩm trung bình là 84 - 85% (Giới thiệu tổng quan về tỉnh Quảng Nam, 2021)
Địa hình
Quảng Nam có hướng địa hình nghiêng dần từ Tây sang Đông, hình thành 3 kiểu cảnh quan sinh thái rõ rệt là kiểu núi cao phía Tây, kiểu trung du ở giữa và dải đồng bằng ven biển Vùng đồi núi chiếm 72% diện tích tự nhiên với nhiều ngọn cao trên 2.000m Ngoài ra, vùng ven biển phía đông sông Trường Giang là dải cồn cát chạy dài từ Điện Nam, Điện Bàn đến Tam Quan, Núi Thành Bề mặt địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngoài khá phát triển gồm sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ và sông Trường Giang (Giới thiệu tổng quan về tỉnh Quảng Nam, 2021)
Thủy văn
Quảng Nam có hai hệ thống sông lớn là Vu Gia - Thu Bồn (VG-TB) và Tam Kỳ Diện tích lưu vực VG-TB (bao gồm một phần lưu vực thuộc tỉnh Kon Tum, Quảng Ngãi, thành phố Đà Nẵng là 10,350 km², là 1 trong 10 hệ thống sông có diện tích lưu vực lớn nhất Việt Nam và lưu vực sông Tam Kỳ là 735 km² Các sông bắt nguồn từ sườn đông của dãy Trường Sơn, chảy chủ yếu theo hướng Tây-Đông và đổ ra biển Đông tại cửa Hàn (Đà Nẵng), cửa Đại (Hội An) và An Hòa (Núi Thành) Ngoài hai hệ thống sông trên, sông Trường Giang có chiều dài 47 km chảy dọc ven biển theo hướng Bắc - Nam kết nối
hệ thống sông VG-TB và Tam Kỳ Do địa hình đồi dốc và lượng mưa lớn nên mạng lưới sông ngòi của tỉnh Quảng Nam khá dày đặc Mật độ sông ngòi trung bình là 0.47 km/km² cho hệ thống VG - TB và 0.6 km/km² cho các hệ thống sông khác.(Giới thiệu tổng quan
về tỉnh Quảng Nam, 2021)
Trang 23Các sông có lưu lượng dòng chảy lớn, đầy nước quanh năm Lưu lượng dòng chảy trung bình năm của sông Vu Gia (tính đến thị trấn Thạnh Mỹ với diện tích lưu vực 1,850 km²) là 127 m3/s, của sông Thu Bồn (tính đến Nông Sơn với diện tích lưu vực 3,130 km²)
là 281 m3/s Chế độ dòng chảy của sông ngòi có sự phân mùa rõ rệt Dòng chảy 3 tháng mùa lũ (tháng 10, 11, 12) chiếm 65 - 70% tổng dòng chảy cả năm trong khi dòng chảy vào mùa kiệt (từ tháng 2 đến tháng 8) rất thấp Hai tháng 1 và 9 là các tháng chuyển tiếp với dòng chảy thất thường Lưu lượng cực đại của Thu Bồn tại Nông Sơn là 10,600 m3/s
và lưu lượng tối thiểu đo được là 15.7 m3/s trong khi đó lưu lượng cực đại của Vu Gia tại Thạnh Mỹ là 4,540 m3/s và cực tiểu là 10.5 m3/s Lưu lượng lớn vào mùa mưa và thấp vào mùa khô là nguyên nhân chính gây nên lũ lụt và hạn hán trong vùng (Giới thiệu tổng quan về tỉnh Quảng Nam, 2021)
Tài nguyên nước phong phú là tiền đề để phát triển thủy điện trên địa bàn Tính đến
2015, trên địa bàn Quảng Nam có 8 dự án thủy điện có công suất lớn (trên 100 MW) và
35 thủy điện có công suất nhỏ Nhiều nhà máy thủy điện công suất lớn như Sông Tranh 2, Đăk Mi 4, A Vương, Sông Bung 2, Sông Bung 4, Sông Kôn 2, đã và đang được xây dựng góp phần cung cấp điện cho nhu cầu ngày càng tăng của cả nước (Giới thiệu tổng quan về tỉnh Quảng Nam, 2021)
1.3.2 Thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng là trung tâm kinh tế và là một trong những trung tâm văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ lớn của khu vực miền Trung - Tây Nguyên, là thành phố lớn thứ 4 của Việt Nam, đứng sau thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng Thành phố nằm dọc theo vùng duyên hải Nam Trung Bộ Đà Nẵng hiện là một trong 3 đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương của Việt Nam (cùng với Hải Phòng và Cần Thơ) Toàn thành phố có diện tích 1.255,53 km² (trong đó phần đất liền là 950,53 km²; phần huyện đảo Hoàng Sa
là 305 km²) Đà Nẵng hiện tại có tất cả là 6 quận, và 2 huyện là Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa (Tổng quan về Đà Nẵng, 2021)
Vị trí địa lý
Thành phố Đà Nẵng trải dài từ 15°15' đến 16°40' Bắc và từ 107°17' đến 108°20' Đông Phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế, phía tây và nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp biển Đông Trung tâm thành phố cách thủ đô Hà Nội 764km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam, cách kinh đô thời cận đại của Việt Nam là thành phố Huế 108km về hướng Tây Bắc (Tổng quan về Đà Nẵng, 2021)
Địa hình
Trang 24Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng duyên hải, vừa có đồi núi Vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp
Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700 - 1.500 m, độ dốc lớn (>400), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố
Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố (Tổng quan về Đà Nẵng, 2021)
Khí hậu
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,9°C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, trung bình 28-30°C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình 18-23 °C Riêng vùng rừng núi
Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình khoảng 20 °C
Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%; cao nhất vào các tháng 10, 11 trung bình 85,67-87,67%; thấp nhất vào các tháng 6, 7 trung bình 76,67-77,33%
Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.504,57 mm; lượng mưa cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình 550-1.000 mm/tháng; thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4, trung bình 23-40 mm/tháng
Số giờ nắng bình quân trong năm là 2.156,2 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6, trung bình từ 234 đến 277 giờ/tháng; ít nhất là vào tháng 11, 12, trung bình từ 69 đến 165 giờ/tháng (Tổng quan về Đà Nẵng, 2021)
Thủy văn
Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía tây, tây bắc và tỉnh Quảng Nam
Có hai sông chính là sông Hàn với chiều dài khoảng 204 km, tổng diện tích lưu vực khoảng 5.180 km² và sông Cu Đê với chiều dài khoảng 38 km, lưu vực khoảng 426 km² Ngoài ra, trên địa bàn thành phố còn có các sông khác: sông Yên, sông Chu Bái, sông Vĩnh Điện, sông Túy Loan, sông Phú Lộc Các sông đều có hai mùa: mùa cạn từ tháng 1
Trang 25đến tháng 8 và mùa lũ từ tháng 9 đến tháng 12 Thành phố còn có hơn 546 ha mặt nước
có khả năng nuôi trồng thủy sản
Nước ngầm của vùng Đà Nẵng khá đa dạng, các khu vực có triển vọng khai thác là nguồn nước ngầm tệp đá vôi Hòa Hải – Hòa Quý ở chiều sâu tầng chứa nước 50–60 m; khu Khánh Hòa có nguồn nước ở độ sâu 30–90 m; các khu khác đang được thăm dò Đầu năm 2013, do các công trình thủy điện đầu nguồn tích nước không xả nước về vùng đồng bằng, vùng xuôi khiến cho người dân Đà Nẵng phải đối mặt với việc thiếu nước sinh hoạt
và nguồn nước tưới tiêu cho cây trồng Bên cạnh đó thành phố cũng phải đối phó với tình trạng nguồn nước bị nhiễm mặn hàng năm
Vùng biển Đà Nẵng có chế độ thủy triều thuộc chế độ bán nhật triều không đều Hầu hết các ngày trong tháng đều có hai lần nước lên và hai lần nước xuống, độ lớn triều tại Đà Nẵng khoảng trên dưới 1 m Dòng chảy ở vùng biển gần bờ có hướng chủ đạo là hướng đông nam với tốc độ trung bình khoảng 20–25 cm/s Khu vực gần bờ có tốc độ lớn hơn so với khu vực ngoài khơi một chút (Tổng quan về Đà Nẵng, 2021)
Trang 26CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) trong nước ngầm tại một số địa điểm thuộc Quảng Nam – Đà Nẵng và các thông số môi trường (PO43-, SO42-, NO3-, NO2-, NH4+, GWQI, pH, DO, EC, NTU, nhiệt độ, Sal, Fe2+, TDS, độ sâu, độ cao, Cl-, …)
Trang 27Bảng 2 1: Vị trí lấy mẫu tại Quảng Nam
Trang 29(cát)
15°59'03" B 108°04'22" Đ
(cát)
15°57'18" B 107°58'20" Đ
2.2 Nội dung nghiên cứu:
2.2.1 Đánh giá mức độ đa dạng sinh học của phân lớp Copepoda
- Xây dựng danh mục thành phần loài thuộc phân lớp giáp xác Copepoda xuất hiện trong nước ngầm tại khu vực nghiên cứu
- Đánh giá mức độ đa dạng sinh học các bộ Cyclopoida, Harpacticoida, Calanoida thuộc phân lớp Copepoda ở môi trường nước ngầm tại một số địa điểm ở Quảng Nam và
Đà Nẵng
2.2.2 Đánh giá các thông số môi trường nước ngầm
Phân tích mẫu nước ngầm đối với các thông số về môi trường: Độ dẫn điện, pH,
DO, nhiệt độ, NTU, TDS, độ sâu, độ cao, Cl-, NO3-, NO2-, PO43-, NH4+, SO42-, Fe2+, GWQI…
Trang 302.2.3 Đánh giá mối tương quan giữa các thông số môi trường với mức độ đa dạng sinh học Copepoda
Đánh giá mối tương quan giữa sự xuất hiện và mật độ của các loài thuộc Copepoda với các thông số môi trường nước ngầm tại khu vực Quảng Nam và Đà Nẵng
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp lấy mẫu ngoài thực địa
- Mẫu định lượng:
Tiến hành lọc qua lưới lọc kích thước mắt lưới 50µm, mẫu sẽ được cô đặc tại một ống phanlcon 50ml dưới đáy của lưới lọc từ máy bơm 800 lít nước trong thời gian 10 phút
Đối với mẫu cát:
- Mẫu định tính:
Tiến hành dùng xẻng đào các hố cát cách mép nước 10cm với chiều sâu khoảng 50cm và chiều rộng khoảng 30x30cm Nước trong các hố cát sẽ được lọc qua lưới lọc có kích thước mắt lưới 50µm
30 Mẫu định lượng:
Cát sẽ được lấy tại lớp 15cm trên cùng, sử dụng một ống nhựa (đường kính trong 10cm và dài 30cm) cắm sâu vào lớp cát rồi dùng xẻng đưa lõi cát lên Sau đó lõi cát sẽ được lấy ra rửa qua ba lần bằng nước cất, nước rửa sẽ được lọc qua lưới lọc và được cô đặc lại trong ống phalcon dưới đáy lưới lọc
2.3.1.2 Thu mẫu nước
Các kĩ thuật lấy mẫu nước và đo đạc tại hiện trường, dụng cụ lưu giữ mẫu, bảo quản mẫu, vận chuyển mẫu, tiếp nhận mẫu tuân thủ đúng theo hướng dẫn:
+ TCVN 6663-1:2011 (ISO 5667-1:2006) - Chất lượng nước - Phần 1: Hướng dẫn lập chương trình lấy mẫu và kỹ thuật lấy mẫu;