BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO” TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM NGUYỄN THỊ VIỆT PHƯƠNG PHÂN TÍCH “SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN VÀO” PHONG TRÀO CHỐNG RÁC THẢI NHỰA TẠI THỊ TRẤN KIÊN LƯƠNG, HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2021 ii BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM NGUYỄN THỊ VIỆT PHƯƠNG PHÂN TÍCH “SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN VÀO” PHONG TRÀO CHỐNG RÁC THẢI NHỰA TẠI THỊ TRẤN KIÊN LƯƠNG, HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN G.
Trang 1“ BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ”
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
THỊ TRẤN KIÊN LƯƠNG, HUYỆN KIÊN LƯƠNG,
TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN THỊ VIỆT PHƯƠNG
THỊ TRẤN KIÊN LƯƠNG, HUYỆN KIÊN LƯƠNG,
TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý công (Hệ điều hành cao cấp) Hướng đào tạo: Hướng ứng dụng
Mã ngành: 8340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS-TS NGUYỄN TRỌNG HOÀI
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Phân tích sự tham gia của người dân vào phong trào chống rác thải nhựa tại thị trấn Kiên Lương, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang” là nghiên cứu riêng của tác giả Các số liệu trong luận văn là trung thực và
chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2021
Tác giả
Nguyễn Thị Việt Phương
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.1 Bối cảnh nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 2
1.2.1 Mục tiêu chung: 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể: 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu: 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài: 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu: 3
1.5 PPNC 4
1.5.1 Dữ liệu thứ cấp: 4
1.5.2 Dữ liệu sơ cấp: 4
1.5.3 “Phương pháp phân tích dữ liệu” 5
1.6 Cấu trúc dự kiến của luận văn 5
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH ĐỀ XUẤT 6
2.1 Cơ sở lý thuyết 6
2.1.1 STG của người dân 6
2.1.1.1 Khái niệm về STG của người dân 6
2.1.1.2 Mức độ tham gia của người dân 7
2.1.2 Nhựa và RTN 10
2.2 Các nghiên cứu trước có liên quan 10
Trang 52.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài 10
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước 13
2.3 Các lý thuyết nền 16
2.3.1 Thuyết hành động hợp lý (TRA) và Lý thuyết hành vi dự định (TPB) 16
2.3.2 Lý thuyết học tập xã hội và giáo dục MT 19
2.4 Các nhân tố tác động đến STG của người dân trong BVMT 20
2.4.1 Phương tiện truyền thông 20
2.4.2 Cán bộ MT 21
2.4.3 Kiến thứcvề MT 21
2.4.4 Nhận thức của người dân 22
2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 24
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Khung nghiên cứu 25
3.2 Qui trình nghiên cứu 25
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu 25
3.2.1.1 Mẫu nghiên cứu 25
3.2.1.2 Phương pháp chọn mẫu 26
3.2.1.3 Thu thập dữ liệu 26
3.2.2 Quy trình nghiên cứu 28
3.3 Phương pháp nghiên cứu 30
3.3.1 PPNC định tính 30
3.3.1.1 Thiết kế nghiên cứu định tính 30
3.3.1.2 Nội dung nghiên cứu định tính 30
3.3.1.3 Kết quả nghiên cứu định tính 31
3.3.2 PPNC định lượng 33
3.3.2.1 Thiết kế nghiên cứu định lượng 33
3.3.2.2 Thang đo nghiên cứu 33
3.3.2.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 35
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 39
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 40
4.1 Bối cảnh nghiên cứu 40
4.1.1 “ Đặc điểm địa bàn và dân cư thị trấn Kiên Lương ” 40
4.1.2 Hiện trạng STG của người dân vào phong trào chống rác thải nhựa tại TT Kiên Lương 40
4.1.3 Kết quả thống kê mô tả mẫu khảo sát 42
4.2 Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha 43
4.2.1 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Sử dụng phương tiện truyền thông” 43
4.2.2 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Cán bộ MT” 44
4.2.3 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Kiến thức về môi trường ” 45
4.2.4 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Nhận thức của người dân” 46
4.2.5 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “STG của người dân vào phong trào phòng chống RTN” 47
4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 49
4.3.1 Phân tích khám phá EFA cho biến độc lập 49
Từ 21 biến quan sát của 4 nhân tố của mô hình nghiên cứu đề xuất được đưa vào phân tích EFA với kỳ vọng sẽ sau khi phân tích nhân tố thì vẫn giữ được 4 nhân tố với số lượng biến quan sát rút gọn nhất của mô hình 49
4.3.2 Phân tích khám phá EFA cho biến phụ thuộc ““STG của người dân vào phong trào phòng chống RTN tại TT Kiên Lương”, H Kiên Lương, T Kiên Giang” 52
4.4 Phân tích hồi quy 52
4.5 Bàn luận kết quả nghiên cứu 55
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
5.1 Kết luận 57
5.2.1 Nhận thức của người dân 59
Trang 75.2.2 Kiến thức về MT 60 5.2.3 Sử dụng phương tiện truyền thông 61
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Thống kê phiếu trên địa bàn khảo sát
Bảng 2.1: Nấc thang mô tả mức độ tham gia của người dân theo Arnstein 1971
Bảng 2.2: Nấc thang mô tả mức độ tham gia của người dân theo Pretty (1995)
Bảng 2.2: Căn cứ đề xuất biến nghiên cứu
Bảng 3 1: Thống kê kết quả phản hồi phiếu câu hỏi khảo sát
Bảng 4.1: Bảng thống kê mô tả mẫu khảo sát
Bảng 4.2 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Sử dụng phương tiện truyền thông” Bảng 4.3 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Cán bộ MT”
Bảng 4.4 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Cán bộ MT” lần 2
Bảng 4.5 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Kiến thức về MT”
Bảng 4.6 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Nhận thức của người dân”
Bảng 4.7 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “STG của người dân vào phong trào phòng chống RTN”
Bảng 4.8 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “STG của người dân vào phong trào phòng chống RTN” lần 2
Bảng 4.9: Hệ số KMO và kiểm định Bartlett các thành phần
Bảng 4.16: Bảng kết quả hồi quy
Bảng 4.17: Kết quả chạy Durbin-Watson
Trang 10
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Mức độ tham gia của người dân
Hình2.2: Thuyết xác định đối ứng của con người (P), (E) MT và (B) hành vi ảnh hưởng qua lại lẫn nhau (Seif, 2000)
Hình 3 1: Khung nghiên cứu
Hình 3 2: Quy trình nghiên cứu luận văn
Hình 4.1: Đồ thị phân tán giữa giá trị dự đoán và phần dư từ hồi quy
Hình 4.2: Đồ thị P-P Plot của phần dư – đã chuẩn hóa
Hình 4.3: Đồ thị Histogram của phần dư – đã chuẩn hóa
Trang 11TÓM TẮT
Thông qua sử dụng PPNC định tính và định lượng, luận văn giải quyết mục tiêu đặt ra Về các nhân tố ảnh hưởng đến “STG của người dân vào phong trào phòng chống RTN tại thị trấn Kiên Lương”, kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố đó bao gồm:nhận thức của người dân; kiến thức về MT; sử dụng phương tiện truyền thông; cán bộ MT Về mức độ tác động của các nhân tố đến “STG của người dân vào phong trào phòng chống RTN tại thị trấn Kiên Lương”, trong 4 nhân tố vừa nêu trên thì nhận thức của người dân có ảnh hưởng mạnh nhất đến “STG của người dân vào phong trào phòng chống RTN tại thị trấn Kiên Lương” và cán bộ MT có mức ảnh hưởng yếu nhất đến “STG của người dân vào phong trào phòng chống RTN tại thị trấn Kiên Lương”
Từ khóa: Phong trào chống rác thải nhựa
Trang 12in the movement to prevent plastic waste in Kien Luong town
Keywords: Movement against plastic waste
Trang 13Tại Việt Nam, thực trạng ô nhiễm rác thải nhựa, túi nilon là rất nghiêm trọng, lượng chất thải nhựa và túi nilon ở Việt Nam hiện vẫn ở mức rất cao, chiếm khoảng 8-12% trong chất thải rắn sinh hoạt Nếu trung bình 10% số lượng chất thải nhựa và túi nilon không được tái sử dụng mà thải bỏ hoàn toàn, lượng chất thải nhựa và túi nilon thải bỏ ở Việt Nam sẽ xấp xỉ 2,5 triệu tấn/năm Lượng rác thải nhựa, túi nilon thải ra ngày càng tăng dần theo từng năm (Cổng thông tin điện tử - Bộ Y Tế, ngày 20/11/2019)
Với thực trạng đó, Bộ Tài nguyên và môi trường đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030 tại Quyết định 1746/QĐ-TTg ngày 04/12/2019 với các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ để quản lý, hạn chế, giảm thiểu, xử lý rác thải nhựa đại dương và ban hành nhiều văn bản kêu gọi chống rác thải nhựa
Về phía địa phương, ngày 10/9/2019 UBND tỉnh Kiên Giang đã ban hành Kế hoạch số 133/KH-UBND phát động phong trào chống rác thải nhựa trên địa bàn tỉnh UBND huyện Kiên Lương cũng đã ban hành Kế hoạch số 118/KH-UBND ngày 15/11/2019 phát động phong trào chống rác thải nhựa cho các đơn vị hành chính ở huyện nói chung và cũng như thị trấn Kiên Lương nói riêng
Trang 14Quá trình thực hiện kế hoạch chống rác thải nhựa của thị trấn Kiên Lương bước đầu đã đạt được một số kết quả khả quan, các cơ quan, đoàn thể đã có nhiều hoạt động tích cực kêu gọi người dân chung tay chống rác thải nhựa bằng cách phát động, tuyên truyền, tập huấn với nhiều hình thức và đã có nhiều mô hình thiết thực trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt
Bên cạnh những kết quả đạt được thì xét thấy hiệu quả việc thực hiện phong trào chống RTN trên địa bàn thị trấn vẫn chưa cao, ý thức của người dân trong tiêu dùng tuy được nâng lên nhưng tỷ lệ không đáng kể Như tại địa bàn thị trấn, tỷ lệ rác thu gom được chuyển về các bãi rác là 78%, còn lại được vận chuyển đến các bãi rã tạm, chưa đảm bảo theo quy định vệ sinh môi trường, ấp Lung Kha Na chưa có điểm tập kết rác, thêm vào đó, với lượng rác chưa thu gom còn lại trong các khu dân cư, do
ý thức của người dân trong bảo vệ môi trường còn hạn chế nên họ thường đổ trực tiến xuống sông, biển gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Kiên Giang 30/06/2019), sự tham gia của người dân vào phong trào chưa nhiều, chưa thực sự lan tỏa trong cộng đồng, ô nhiễm môi trường từ chất thải nhựa vẫn còn tiếp diễn Nguyên nhân phần lớn là do thói quen của cộng đồng, tính tự giác và nhận thức về ô nhiễm môi trường từ chất thải nhựa cũng như những tác hại của nhựa đến sức khỏe con người của cộng đồng chưa cao
Xuất phát từ thực trạng trên, bản thân thực hiện nghiên cứu đề tài “Phân tích
sự tham gia của người dân trong phong trào chống rác thải nhựa tại thị trấn Kiên Lương, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang” nhằm tìm ra các lý do chưa thu hút
được sự tham gia của người dân, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao sự tham gia của người dân, góp phần cùng chính quyền địa phương thực hiện thành công phong trào này trong thời gian tới
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
1.2.1 Mục tiêu chung:
Nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào phong trào chống rác thải nhựa tại thị trấn Kiên Lương, huyện Kiên Lương Trên cơ sở đó, đề ra
Trang 15giải pháp quản trị phù hợp nhằm thu hút sự tham gia của người dân trên địa bàn thị trấn
1.3 Câu hỏi nghiên cứu:
- Hiện nay người dân tham gia vào phong trào chống rác thải nhựa như thế nào?
- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào vào phong trào chống rác thải nhựa?
- Các giải pháp nào để thu hút sự tham gia của người dân vào phong trào chống rác thải nhựa trong thời gian tới?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài:
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Người dân trên địa bàn thị trấn Kiên Lương, bao gồm các nhóm đối tượng như: Học sinh; công nhân, nhân viên; cán bộ, công chức, viên chức; người dân nội trợ, buôn bán
Trang 161.5 PPNC
1.5.1 Dữ liệu thứ cấp:
Được thu thập từ năm tháng 2019 đến năm 2020 để làm cơ sở lý luận và thực tiễn Lấy từ các nguồn sách báo, internet, các báo cáo của UBND TT Kiên Lương và các văn bản có liên quan… nhằm mô tả và phân tích thực trạng STG của người dân vào phong trào chống rác thải nhựa tại thị trấn Kiên Lương, H Kiên Lương, T Kiên Giang
1.5.2 Dữ liệu sơ cấp:
Thu thập dữ liệu bằng cách khảo sát người dân tại TT Kiên Lương thông qua các phiếu khảo sát thiết kế từ nghiên cứu này
Cụ thể, Thị trấn Kiên Lương bao gồm 8 khu Phố: Ngã Ba, Cư Xá, Cư Xá Mới,
Lò Bom, Tám Thước, Xà Ngách, Ba Hòn và Hoà Lập và 1 ấp Lung Kha Na Để tiến hành khảo sát, nhờ sự hỗ trợ của các trưởng ban khu phố, tác giả đã tham gia các cuộc họp tổ dân phố ở khu phố này và từ đó có cơ hội để nhờ người dân tham gia họp dân phố tiến hành trả lời khảo sát và thu lại phiếu ngay sau khi họ hoàn thành Do số lượng
hộ dân trên địa bàn trị trấn là tương đối lớn, tác giả cũng không có đủ thời gian cũng như nguồn lực để khảo sát tất cả các hộ dân, do đó, mỗi khu vực tác giả chỉ chọn mẫu nhiên 20 đối tượng để khảo sát, như vậy phạm vi khảo sát được trải đều ở tất cả các khu phố và ấp tại TT với tỷ lệ phiếu là như nhau 20 phiếu/ khu vực
Bảng 1.1: Thống kê phiếu trên địa bàn khảo sát ĐVT: Phiếu
STT Khu vực Số phiếu Lũy kế
Trang 171.5.3 “ Phương pháp phân tích dữ liệu ”
- Phương pháp phân tích định tính: Trước hết thông qua lược khảo các nghiên cứu trước, cơ sở lý thuyết , các lý thuyết nền về STG của người dân trong BVMT nói chung, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu và thang đo nghiên cứu nháp của đề tài, thông qua nghiên cứu định tính với kỹ thuật thảo luận chuyên gia, các chuyên gia sẽ
hỗ trợ tác giả trong việc xây dựng mô hình nghiên cứu chính thức, thang đo nghiên cứu chính thức và xây dựng bảng câu hỏi khảo sát để thu thập dữ liệu dùng trong nghiên cứu định lượng
- PPNC định lượng: Xử lý dữ liệu bằng phần mềm thống kê SPSS với các kỹ thuật: thống kê mô tả, kiểm định cronbach’s Alpha, phân tích EFA và kiểm định mô hình hồi quy bội
1.6 Cấu trúc dự kiến của luận văn
Cấu trúc luận văn gồm có 05 chương với các nội dung sau:
Chương 1 Giới thiệu đề tài nghiên cứu “Chương này trình bày lý do tác giả chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi, cấu trúc luận văn
Chương 2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương này trình bày tổng quan về lý thuyết về STG, hành động của người dân và các nghiên cứu có liên quan và rút ra mô hình nghiên cứu
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày thiết kế nghiên cứu, việc lựa chọn mẫu, xây dựng thang đo và phương pháp phân tích dữ liệu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày tổng quan về kết quả thu thập dữ liệu từ cuộc khảo sát; đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong công tác vận động người dân tham gia tham gia phong trào chống RTN tại TT Kiên Lương
Chương 5 Kết luận và hàm ý chính sách Chương này trình bày những kết quả
mà đề tài đạt được, đề xuất giải pháp để thu hút STG của người dân phong trào chống RTN và rút ra bài học kinh nghiệm cho các địa phương khác
Trang 18CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH ĐỀ XUẤT
2.1 Cơ sở lý thuyết
Nội dung dưới đây tác giả trình bày các lý thuyết về sự tham gia của người dân
và các khái niệm liên quan đến rác thải nhựa Cụ thể như sau:
2.1.1 STG của người dân
2.1.1.1 Khái niệm về STG của người dân
Theo Florin và Wanderman (1990), STG của người dân là một quá trình trong
đó các cá nhân tham gia vào việc ra quyết định của các tổ chức, chương trình và MT ảnh hưởng đến họ
Theo Hiệp hội các Đô thị Việt Nam (ACVN) và Viện KAS3, STG của người dân có nghĩa là STG của người dân bình thường (không phải chỉ của các tổ trưởng dân phố hoặc các đại diện chính thức) vào việc xem xét, phản ánh và chất vấn để tìm ra những cách tốt nhất nhằm thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội không chỉ trong các khu vực họ đang sinh sống mà cả trong các thị xã và thành phố của họ
Và theo đó, STG của người dân vào quản lý nhà nước tại địa phương sẽ giúp đông đảo người dân tham gia nhiều hơn nữa vào các quá trình thảo luận và các quá trình hoạt động của chính quyền địa phương Theo quan điểm của CVN và KS cũng cho rằng nếu việc công khai thông tin cho người dân và STG của cộng đồng được cải thiện thì
sẽ góp phần giúp các dự án đầu tư của nhà nước thực hiện có hiệu quả hơn, tiết kiệm chi phí và sử dụng hết các nguồn lực Trong trường hợp các dự án đòi hỏi phải giải phóng mặt bằng, với kỹ năng giao tiếp được nâng cao và lập quy hoạch có STG nhiều hơn, các trường hợp tranh chấp, khiếu nại và cưỡng chế giải phóng mặt bằng sẽ ít xảy
- Luật tổ chức chính quyền địa phương;
- Luật trưng cầu dân ý;
Trang 19- Pháp lệnh thi hành dân chủ cơ sở ở cấp xã, phường và TT.;
- Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật;
- Luật quy hoạch đô thị;
- Luật Đất đai; Luật Xây dựng;
- Luật BVMT; Nghị định hướng dẫn thi hành Luật BVMT, nghiên cứu tác động
MT và quy hoạch BVMT; các thông tư hướng dẫn thực hiện;
- Luật đầu tư công; Các văn bản nói trên quy định những trường hợp phải lấy ý kiến người dân, các cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc này (cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và chủ đầu tư), đối tượng mục tiêu, các phương thức tham gia
Bên cạnh đó, ở góc độ xã hội học, Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang (2020) khi bàn về triết lý tham dự (participation) cho rằng khái niệm này được dịch thành hai từ: tham dự và tham gia Tuy mức độ ngữ nghĩa có đôi chút khác nhau, nhưng nhìn chung là thống nhất Theo đó, tham dự là tham gia ở mức thấp, còn tham gia là tham
dự ở mức cao
Theo Arnstein (1969, 1971), STG của người dân trong việc ra quyết định là sự tái phân phối quyền lực nhằm giúp cho mọi thực thể ở cộng đồng đặc biệt là những người nghèo có thể đã bị bỏ lại sau (hoặc loại ra) trong các quá trình kinh tế và chính trị, được tham gia vào các quá trình đó một cách thực chất Arnstein đã xây dựng một
hệ thống mang tính hình mẫu gồm tám nấc thang có xu hướng mở rộng dần của quyền lực công dân, từ bậc thấp nhất là STG chỉ mang tính thủ tục hoặc an ủi cho đến bậc cao nhất là những ảnh hưởng thực sự của người tham gia trong quá trình ra quyết định
từ việc STG bị thay thế bởi người nắm giữ quyền lực tới việc công dân được trao quyền quản lý đầy đủ
2.1.1.2 Mức độ tham gia của người dân
Khi bàn đến STG của cộng đồng, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng mặc dù STG của người dân là cần thiết trong quá trình xây dựng các kế hoạch và chính sách phát triển nhưng mức độ tham gia đến đâu lại là một vấn đề khác cần xem xét Trong nhiều trường hợp, STG vừa là một vấn đề, vừa là một giải pháp bởi lẽ trong những trường hợp đó, STG của cộng đồng không cải thiện những vấn đề mâu thuẫn đã sẵn có mà STG có thể lại tạo ra những vấn đề và những xung đột mới Vì thế, khi huy động STG của cộng đồng, các nhà quản lí và những người hoạt động trong lĩnh vực phát triển
Trang 20cộng đồng cần đặt ra câu hỏi nên có STG không và tham gia ở mức độ nào
(Wiedemann & Femers, 1993)
Theo Sherry Arnstein (1971), mức độ tham gia của người dân được thể hiện qua các cấp độ sau:
Bảng 2.1: Nấc thang mô tả mức độ tham gia của người dân theo Arnstein 1971
Mức 8 Quyền kiểm soát
- Nấc thang số 3, 4 biểu hiện cho STG một cách miễn cưỡng, chỉ cho phép người tham gia được đưa ra ý kiến Bản chất của hai cấp độ này là thông tin được truyền đi một chiều, từ người nắm giữ quyền lực và chuyên gia đến người dân mà không có chiều ngược lại
- Nấc thang số 5 và số 6 biểu hiện mức độ tham gia trong đó người dân được đưa ra ý kiến, và được lắng nghe và ghi nhận Có nghĩa là ở cấp độ này, đã có sự chia
Trang 21sẻ quyền lực giữa các bên, các bên có trách nhiệm lập ra kế hoạch và đưa ra
những quyết định của mình trong quá trình thực hiện công việc
- Ở nấc thang số 7, thể hiện quyền lực của người dân được tăng lên thậm chí là
cao hơn các bên có liên quan khác Việc này đồng nghĩa với việc người dân phải chịu
trách nhiệm với các quyết định của mình
- Và cuối cùng là nấc thang số 8, người dân vừa có quyền ra quyết định và vừa
có quyền kiểm soát Có nghĩa là, ở đây người dân vừa lên kế hoạch, hoạch định chính
sách và quản lý chương trình Họ sẽ huy động nguồn lực để thực hiện các chương
trình, dự án theo nhu cầu
Qua thang đo trên cho thấy rằng vai trò của người dân đã được hoán đổi hoàn
toàn theo từng mức độ, thời điểm Vai trò này được thay đổi bởi tác nhân bên ngoài và
cuối cùng người dân nắm quyền kiểm soát, nắm giữ vai trò quan trọng trong thực hiện
chương trình chứ không còn là chính quyền nắm giữ Nếu đạt được đến nấc thang này,
thì chắc chắn rằng đó là sự thành công của chính quyền nơi đó
Theo Pretty (1995), mức độ tham gia của người dân được thể hiện qua các cấp
Mức 6 Tham gia tương tác
Mức 5 Tham gia các hoạt động chức năng
Tham gia hình thức Mức 4 Tham gia vì ưu đãi vật chất
Mức 2 Tham gia cung cấp thông tin
Không tham gia Mức 1 Tham gia thụ động
(Nguồn: Pretty, 1995)
Có thể thấy trong khi thang đo của Arnstein (1971) xem xét STG từ quan điểm
người tiếp nhận cuối cùng thì Pretty (1995) lại nói rõ hơn về người sử dụng các cách
tiếp cận tham gia Hơn nữa, việc phân loại STG của Pretty không giới hạn ở vùng
Trang 22thành thị như của Arnstein Các loại hình tham gia của Pretty bắt đầu từ tham gia mức thấp và tăng dần lên các mức độ tham gia cao hơn.Theo Dower (1996), mức độ tham gia của người dân được chia thành 05 cấp và từ thấp đến cao Mô hình này mô tả như sau:
bị loại ra trong sản xuất hoặc tiêu dùng Một số loại nhựa phế thải có thể làm nguyên liệu ngành tái chế đó là nhựa nhiệt dẻo như PET, PE, PP, PS
Theo Dhokhikah, Y và ctg (2015) thì RTN bao gồm nhựa gói, chai thuốc, chai đựng dầu gội và xà phòng lỏng, hộp đựng mỹ phẩm, túi nhựa, bao bì thực phẩm, bao
bì thực phẩm xốp và các loại RTN khác
2.2 Các nghiên cứu trước có liên quan
2.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Hợp tác Trao quyền Tham gia
Tư vấn Thông tin
Trang 23Meinhold & Malkus (2005)thực hiện nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của
hiệu quả bản thân, kiến thức và thái độ của bản thân ảnh hưởng đến các hành vi MT ở tuổi vị thành niên Để thực hiện nghiên cứu, các tác giả khảo sát 848 học sinh từ ba trường trung học phổ thông ở Bờ Tây, dữ liệu sau khi khảo sát được phân tích bằng kỹ thuật hồi quy phân cấp, kết quả chỉ ra rằng thái độ ủng hộ MT ảnh hưởng đáng kể đến các hành vi ủng hộ MT và kiến thức về MT là yếu tố điều tiết quan trọng cho mối quan
hệ giữa thái độ MT và hành vi MT
Harris (2006)MT tại Trung Quốc đang có những thay đổi sâu sắc, do đó, tác
giả này nhận định việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến hành vi liên quan đến MT tại Trung Quốc là cực kỳ quan trọng Tại Trung Quốc, sự tàn phá MT và khai thác tài nguyên tràn lan hiện đang diễn ra và có thể tiếp tục diễn ra trong nhiều thập kỷ tới Tuy nhiên, tác giả này nhận định, bằng việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi BVMT của người dân, có thể tìm ra những cách để làm chậm hay để giảm thiểu thiệt hại về MT trong tương lai Qua nghiên cứu, tác giả này nhận thấy, mức độ hiểu biết và nhận thức của người dân Trung Quốc về các vấn đề MT, các thuộc tính nhận thức (nghĩ gì về MT), và mức độ mà họ tin rằng MT đang thay đổi và yêu cầu sự quan tâm khẩn cấp là rất quan trọng cho các hành vi cũng như sự sẵn sàng ứng xử thân thiện với MTcủa người dân Trung Quốc
Barr (2007) trước hết, tác giả này nhận định rằng (Fishbein & Ajzen, 1975) đã
được nhiều tác giả sử dụng nhằm giải thích mối quan hệ tác động giữa thái độ, chuẩn chủ quan, ý định và hành vi Tuy nhiên, tác giả này lập luận thêm rằng đã có hai vấn
đề nảy sinh liên quan đến TRA, như Ajzen (1991) cũng có nhiều biến số hơn có thể có tác động đến ý định hành động và hành động, thêm nữa, nhiều tác giả khác tìm thấy bằng chứng cho rằng trải nghiệm hành vi là yếu tố dự báo quan trọng nhất cho thực hiện hành vi không có chủ đích, do đó, Barr, S (2007) đã đề xuất một khung phân tích mới liên quan đến các hành vi về MT Barr, S (2007) cho rằng hành vi quản lý chất thải bao gồm 3 loại: giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế lý thuyết hành động hợp lý TRA chất thải, tiếp đó, tác giả sử dụng mô hình đề xuất của mình để xác định sự ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi quản lý chất thải Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố
dự báo hành vi giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế có sự khác nhau đáng kể, với việc
Trang 24giảm thiểu và tái sử dụng thì giá trị MT, kiến thức và các biến dựa trên mối quan tâm có ảnh hưởng đáng kể
Dhokhikahvà ctg (2015) thực hiện nghiên cứu nhằm mục tiêu kiểm tra STG
của cộng đồng trong việc giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt (HSW) và các yếu tố ảnh hưởng đến STG của cộng động đối với hoạt động này Để thực hiện nghiên cứu, dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát, mẫu được chọn bằng kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng tại ba quận Sukolilo, Rungkut và Tenggilis Mejoyo Kết quả của nghiên cứu này cho thấy thành phần trong chất thải rắn sinh hoạt chủ yếu là rác thực phẩm (64,19%), tiếp theo là nhựa (10,79%), giấy (9,24%) và tã lót đã qua sử dụng (6,97%) Đồng thời, nghiên cứu cũng xác định 3 yếu tố ảnh hưởng đến STG của người dân trong chiến dịch giảm thiểu rác thải rắn gồm kiến thức MT, số lượng cán bộ
MT và các ngân hàng chất thải Từ đó, nghiên cứu đề xuất các chiến lược để hỗ trợ STG của cộng đồng trong việc giảm thiểu rác thải rắnnhư tăng cường các chương trình đào tạo giảm thiểu rác thải rắn; tăng cường thông tin tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và các chiến dịch; tăng số lượng cán bộ MT; và để tối
ưu hóa sự tồn tại của ngân hàng thải và chức năng của nó
Huang (2016) nhận định sự nóng lên toàn cầu đặt ra một thách thức lớn đối với
nhân loại và việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi BVMT của các cá nhân trước tình trạng nóng lên toàn cầu là rất cần thiết thực hiện Thông qua khảo sát, kết quả nghiên cứu chứng minh rằng các cá nhân dựa vào các phương tiện truyền thông (truyền hình, báo chí và Internet) để thu thập thông tin về sự nóng lên toàn cầu Sự tiếp xúc và chú ý của các cá nhân đối với các thông tin này tác động tích cực trực tiếp đến
ba loại hành vi vì MT, bao gồm hành vi thích nghi, khuyến khích và chủ động BVMT
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy chức năng quan trọng của việc sử dụng phương tiện truyền thông tác động đến hành vi MT của con người về vấn đề nóng lên toàn cầu Cuối cùng, tác giả khuyến nghị rằng, các tổ chức chính phủ có thể sử dụng các phương tiện truyền thông làm công cụ quảng bá và phổ biến các chính sách để thúc đẩy các hành động BVMT trước tình trạng nóng lên toàn cầu của các cá nhân
Law và ctg (2019) thực hiện nghiên cứu về sự tác động của nhận thức, kiến
thức của người dân về MT, quy định, chính sách của chính phủ và sự ảnh hưởng của
xã hội có ảnh hưởng đến mức độ tham gia chống sử túi nhựa ở Malaysia Nghiên cứu
Trang 25này áp dụng lý thuyết hành vi dự định TPB nhằm giải thích sự tác động của các nhân tố đến hành vi chống sử dụng túi nhựa Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua phiếu câu hỏi khảo sát, tiếp đó, được làm sạch và xử lý bởi phần mềm thống kê SPSS, kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức, kiến thức của người dân về MT, chính sách, quy định của chính phủ và ảnh hưởng xã hội có ảnh hưởng tích cực đến hành vi chống sử dụng túi ni lông Cuối cùng nghiên cứu đề xuất một số các hàm ý chính sách nhằm hạn chế sử dụng túi nilong ở nước này thông qua những yếu tố đã xác định được
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước
Trong bài viết “STG của người dân trong hoạt động quản lý rác thải đảm bảo
phát triển bền vững đô thị”, tác giả Nguyễn Thị Kim Nhung (2014) đã mô tả thực
trạng người dân thực hiện phân loại, thu gom và xử lý rác đồng thời còn bổ sung các bình diện khác của STG, đó là các hoạt động gián tiếp, như đóng phí vệ sinh, kiểm tra/giám sát, tuyên truyền, vận động và đóng góp ý kiến trong quá trình ra quyết định Nghiên cứu cho rằng các nhóm xã hội khác nhau có mức độ tham gia khác nhau trong quá trình trực tiếp và gián tiếp quản lý rác thải tại khu dân cư STG của người dân trong quá trình xây dựng các quy định và chính sách quản lý rác thải trải dài trong một phổ, từ mức độ thấp nhất là tuân thủ các quy tắc được nhóm chính quyền đưa ra đến mức độ cao nhất là tham gia đóng góp ý kiến nhưng quyền quyết định thuộc về chính quyền Mức độ tham gia của người dân tỷ lệ nghịch với tầm ảnh hưởng của từng quy định, nghĩa là những quy định có phạm vi ảnh hưởng càng nhỏ, như trong nội bộ khu dân cư thì mức độ tham gia của người dân càng cao và giới hạn quyền lực của người dân được mở rộng hơn Ngược lại, khi phạm vi ảnh hưởng của quy định càng lớn, vượt
ra ngoài nội bộ cộng đồng thì mức độ tham gia của nhóm dân cư trong cộng đồng càng thấp và giới hạn quyền lực của người dân cũng bị thu hẹp lại Nghiên cứu đã nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của người dân STG của người dân trong hoạt động quản lý rác thải sẽ hiệu quả hơn khi đảm bảo sự đồng thuận giữa hai nhóm yếu tố, một bên là các yếu tố nhu cầu, động cơ, nhận thức của cá nhân và một bên là các thiết chế, gồm chính sách và các tập tục, thói quen của cộng đồng Sự thiếu minh bạch trong xây dựng và thực thi các quy định, cùng với sự thiếu quan tâm đến các nhóm yếu thế, nhóm dễ bị tổn thương là những yếu tố hạn chế khả năng tham gia của
Trang 26các tầng lớp nhân dân trong quá trình quản lý rác thải đô thị Bên cạnh đó, những thói quen của cộng đồng trong cách nhìn nhận về vai trò giới trong quá trình quản lý rác thải, tâm lý e ngại và thiếu chủ động trong các cuộc họp tại khu dân cư và hiệu quả truyền thông chưa cao cũng là yếu tố ảnh hưởng đến STG của người dân…
Từ Nguyễn Hoàng Thành (2018) “STG của người dân trong hoạt động quản lý
rác thải sinh hoạt trên địa bàn H Đất Đỏ, T Bà Rịa – Vũng Tàu” Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh Bằng PPNC định tính, nghiên cứu
mô tả và phân tích hiện trạng quản lý rác thải, tập trung vào STG của người dân trong quá trình trực tiếp và gián tiếp quản lý rác thải Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của người dân trong hoạt động quản
lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn H Đất Đỏ gồm: Hoạt động quản lý rác thải tại huyện; chính sách, thói quen, truyền thông; Các bên liên quan trong hoạt động quản lý rác thải; Nhận thức, tâm lý, nhu cầu/ giá trị và yếu tố nhân khẩu học Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao STG của người dân trong hoạt động quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn H Đất Đỏ
Nguyễn Trung Thắng và cộng sự (2019) về “Chất thải rắn: Vấn đề nổi cộm
của MT Việt Nam” thì chất thải nhựa trên biển hiện đang là mối quan tâm lớn của cả thế giới Và theo một nghiên cứu của thế giới thì Việt Nam là 1 trong 4 quốc gia có lượng RTN thải ra biển nhiều nhất (sau Trung Quốc, Indonesia và Philippines) với ước tính khoảng 0,28-0,73 tấn/năm Năm 2012, Ngân hàng thế giới cũng có cuộc khảo sát
và nhận định rằng tỷ lệ chất thải nhựa ở các nước thu nhập trung bình thấp (ví dụ như Việt Nam) chiếm khoảng 12% tổng số CTR đô thị, còn theo ước tính của Bộ TN &
MT, tỷ lệ này vào khoảng 8-16%
Võ Minh Sử (2019) “Phân tích hành vi của người dân trong hoạt động quản lý
chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn H Trần Văn Thời, T Cà Mau” Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh Hành vi của cộng đồng và các bên liên quan là một trong những khía cạnh quan trọng để quản lý chất thải rắn Để thực hiện nghiên cứu, tác giả tiến hành khảo sát nhận thức hành vi của người dân thông qua phiếu khảo sát, sử dụng lý thuyết về STG để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người dân khu vực nông thôn H Trần Văn Thời, T Cà Mau trong hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt, kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố này
Trang 27bao gồm: hoạt động quản lý rác thải khu vực nông thôn; các bên liên quan trong hoạt động quản lý rác thải rắn; chính sách, văn hóa, thói quen, truyền thông; nhận thức, tâm lý, nhu cầu/ giá trị và đặc điểm xã hội Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các khuyến nghị nhằm phát huy STG của người dân trong công tác quản lý chất thải rắn, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững
Nguyễn Thanh Thảo (2020) “STG của người dân vào chương trình phân loại
chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn Phường 13 Quận 11, TP Hồ Chí Minh” Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh Trước hết, nghiên cứu trình cơ sở lý thuyết về STG của người dân, các nghiên cứu trước có liên quan và các lý thuyết nền về STG của người dân, từ đó, tác giả có căn cứ đề xuất khung nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến STG của người dân vào chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn Phường 13 Quận 11, TP Hồ Chí Minh Bằng PPNC hỗn hợp, nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, tác giả xác định các yếu tố ảnh hưởng đến STG gồm: Trao quyền, hợp tác, tham gia, tham vấn, thông tin Cuối cùng, từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao tham gia của người dân vào chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại địa phương này
Nhận xét:
Qua lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài có thể nhận thấy hướng nghiên cứu về STG của người dân trong các hoạt động cộng đồng nói chung và trong phòng chống RTN nói riêng được nhiều tác giả lựa chọn nghiên cứu Qua nghiên cứu, các đề tài góp phần trình bày, hệ thống cơ sở lý thuyết về STG của người dân, trình bày mô hình các nhân tố tác động đến STG của người dân khi tham gia các hoạt động cộng đồng Kết quả của các nghiên cứu này là căn cứ lý thuyết quan trọng để tác giả thực hiện nghiên cứu của mình về STG của người dân vào phong trào chống RTN
Về các nghiên cứu nước ngoài, qua nghiên cứu, bằng PPNC định tính và định lượng, các đề tài xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến STG của người dân trong BVMT, như nhân tố hiệu quả bản thân, kiến thức và thái độ (Meinhold & Malkus,
2005, Harris, 2006) hay các chương trình đào tạo giảm thiểu rác thải rắn; thông tin tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; số lượng cán bộ MT
Trang 28(Dhokhikah và ctg, 2015), hay nhận thức, kiến thức của người dân về MT, quy định, chính sách của chính phủ (Law và ctg, 2019), kết quả của các nghiên cứu này là căn cứ quan trọng để tác giả kế thừa và đề xuất mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến STG của người dân trong phong trào chống RTN Tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu này đều chưa có bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam, mà mỗi địa phương, mỗi quốc gia khác nhau thì đặc điểm về nhận thức, quy định của pháp luật, hoạt động của đội ngũ cán bộ MT,… cũng khác nhau, do đó không thể vận dụng rập khuôn kết quả của những nghiên cứu này tại Việt Nam hay tại Kiên Lương nói riêng
mà không tiến hành kiểm định lại
Về các nghiên cứu trong nước, nhiều tác giả cũng thực hiện nghiên cứu về STG của người dân trong phòng chống RTN, từ đó, nhận diện và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến STG của người dân trong chống RTN, tuy nhiên, mỗi nghiên cứu khác nhau lại lựa chọn các phạm vi nghiên cứu khác nhau như Nguyễn Thị Kim Nhung (2014) thực hiện nghiên cứu ở khu vực đô thị, Từ Nguyễn Hoàng Thành (2018) nghiên cứu ở H Đất Đỏ, T Bà Rịa – Vũng Tàu, hay Võ Minh Sử (2019) thực hiện nghiên cứu ở khu vực nông thôn H Trần Văn Thời, T Cà Mau,… và theo tìm hiểu của tác giả thì chưa có nghiên cứu nào lựa chọn phạm vi là TT Kiên Lương, H Kiên Lương để thực hiện nghiên cứu
Kết hợp giữa kiến thức và thực tế làm việc, sinh sống tại Kiên Lương, tác giả nhận thấy STG của người dân địa phương trong phòng chống RTN là rất cần thiết, do
đó, việc thực hiện một nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng RTN, STG của người dân trong phòng chống RTN, nhận diện các nhân tố và đo lường mức độ tác động của chúng đến STG của người dân trong phong trào phòng chống RTN tại địa phương Kiên Lương là cần thiết Từ kết quả nghiên cứu, tác giả sẽ có căn cứ để đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao, tăng cường STG của người dân trong phong trào chống RTN ở địa phương này
2.3 Các lý thuyết nền
2.3.1 Thuyết hành động hợp lý (TRA) và Lý thuyết hành vi dự định (TPB)
Trang 29“Lý thuyết TRA được Fishbein và Ajzen đưa ra từ năm 1975 cho rằng: ý định thực hiện hành vi là yếu tố quan trọng nhất quyết định hành vi của con người Nó gồm có hai nhân tố là “thái độ” của một người về hành vi và “tiêu chuẩn chủ quan” liên quan đến hành vi Hai yếu tố này sẽ hình thành nên ý định thực hiện hành vi Trên thực tế, lý thuyết này đã rất hiệu quả khi dự báo những hành vi nằm trong tầm kiểm soát của ý chí con người Nhằm để khắc phục hạn chế trong việc giải thích về những hành vi nằm ngoài kiểm soát, lý thuyết TPB đã mở rộng ra lý thuyết TRA Lý thuyết này được Ajzen bổ sung từ năm 1991, bằng cách đề ra thêm yếu tố kiểm soát hành vi nhận thức - đây là lòng tin của cá nhân liên quan đến khả năng thực hiện hành vi khó,
dễ ra sao Khi có càng nhiều nguồn lực và cơ hội thì họ nghĩ rằng sẽ càng có ít cản trở
và việc kiểm soát nhận thức đối với hành vi sẽ càng lớn Qua nghiên cứu thì yếu tố kiểm soát này có thể xuất phát từ bên trong của từng cá nhân (như: sự quyết tâm, năng lực thực hiện…) hay bên ngoài (thời gian, cơ hội, điều kiện kinh tế,…)”
“Theo Weber, một hành động xã hội là một hành động của một cá nhân, có gắn một ý nghĩa vào hành động ấy và cá nhân đó tính đến hành vi của người khác, bằng cách như vậy mà định hướng vào chuỗi hành động đó Weber cho rằng: Một hành động mà một cá nhân không nghĩ về nó thì không thể là một hành động xã hội và mọi hành động không tính đến sự tồn tại và những phản ứng có thể có từ những người khác thì không phải là hành động xã hội Hành động không phải là kết quả của quá trình suy nghĩ có ý thức thì không phải là hành động xã hội Weber cho rằng xã hội học cố gắng diễn giải hành động nhờ phương pháp luận về kiểu loại lý tưởng (ideal type) Ông thực hành phương pháp này để xây dựng một phân loại học về hành động xã hội gồm bốn kiểu: kiểu hành động truyền thống (traditional) được thực hiện bởi vì nó vẫn được làm như thế từ xưa đến nay; kiểu hành động cảm tính (affectual) bị dẫn dắt bởi cảm xúc; kiểu hành động duy lý-giá trị (value-rational) hướng tới các giá trị tối hậu, kiểu hành động duy lý-mục đích (end-rational) hay còn gọi là kiểu hành động mang tính công cụ (instrumental)”
Theo xã hội học thì hành động xã hội theo xã hội học đã đưa ra 03 khái niệm cơ bản, đó là: "ý nghĩa", "chuẩn mực" và "giá trị"
- Khái niệm về y nghĩa: “Weber là người đã đưa “ý nghĩa” trở thành một khái niệm cơ bản trong "xã hội học thấu hiểu" (verstehen) của mình Ông sử dụng khái
Trang 30niệm ý nghĩa để làm rõ tính đặc thù của hành động con người Theo ông thì để hiểu một hành động nào đó với tính cách là hành động xã hội, nhà xã hội học cần phải phân tích cái ý nghĩa chủ quan trong đó mà các chủ thể hành động đã chia sẻ với nhau
Và George Herbert Mead là người nêu lên câu hỏi nghiên cứu là làm thế nào mà có được sự thích ứng lẫn nhau giữa hành động của các cá nhân khác nhau? Theo đó, ông cho rằng ý nghĩa chính là yếu tố trung tâm cho sự thích ứng lẫn nhau này Trong tình huống tương tác, một chủ thể lựa chọn từ nhiều khả năng hiểu khác nhau, tìm ra một cái xác định; ý nghĩa cho phép người tiếp nhận hành động tiến hành một sự giải mã hành động (ý nghĩa của các biểu tượng thể hiện trong hành động) Do đó, khái niệm "ý nghiã" (tiếng latin: sensus) bao hàm những cơ sở sau: Một là, ý nghĩa sẽ giúp tạo ra một hình thái đặc thù cho sự cảm nhận, sự cảm nhận này làm cho hành vi của người khác trở nên có ý nghĩa và có thể hiểu được; Hai là, thông qua và vượt quá một tình huống hành động cụ thể, nó cho phép nhìn vào nền văn hóa mà nó thể hiện (như mối quan hệ giữa các chuẩn mực và giá trị của một hệ thống xã hội)”
- Khái niệm về chuẩn mực: “Theo nguồn gốc latin, thì khái niệm chuẩn mực (norm) có nghĩa là quy tắc, sợi chỉ xuyên suốt Qua đó, người ta thấy chuẩn mực “có trong đạo đức theo nghĩa các tiêu chuẩn hành vi, trong mỹ học và logic, trong kỹ thuật
và ngôn ngữ hàng ngày” Nói đến chuẩn mực là nói đến một sự đánh giá, phán xử:
“Cái gì phù hợp chuẩn mực tức là bình thường, cái gì ngược với chuẩn mực là lệch chuẩn, bất bình thường” Trong lĩnh vực hành động xã hội thì chuẩn mực là những quy tắc ứng xử được quy định rõ ràng (explicit), chúng tạo ra sự tiêu chuẩn hóa, là điều khiến cho việc lặp lại các hành động và do đó các kỳ vọng hành động trở nên có thể tồn tại được Giống như hành động xã hội, đối với xã hội học, chuẩn mực xã hội là một thành phần khái niệm tiên nghiệm của xã hội học Như vậy, khái niệm chuẩn mực
xã hội không thể được rút ra từ bất kỳ một khái niệm nào khác mà nó thể hiện một hiện tượng tối nguyên thuỷ của cái xã hội”
- “”Khái niệm về giá trị: Giá trị là các nguyên tắc cơ bản định hướng hành động, chúng là những quan điểm, thái độ về những điều được mong muốn, về những quan niệm dẫn dắt trong văn hóa, tôn giáo, đạo lý và xã hội Những định hướng giá trị thống trị trong một xã hội là khung cơ bản của văn hóa Và với tính cách là những nguyên tử của đời sống xã hội, các chuẩn mực chỉ có thể vận hành khi các chuẩn mực
Trang 31quan trọng nhất đối với hành động xã hội được kết nối với nhau, khi chúng được theo đuổi như là "đầy giá trị" (như: quan trọng, đúng đắn, chân lý) theo một ý nghĩa có tính đạo lý “Giá trị là những "chỉ dẫn đạo lý" dẫn dắt hành động con người” Giá trị biểu hiện các ý nghĩa và mục tiêu mà các cá nhân và nhóm gắn với hành động của họ
2.3.2 Lý thuyết học tập xã hội và giáo dục MT
Về bản chất, MT là một quan điểm liên ngành Do đó, nó phải được nghiên cứu
về triết học, lịch sử, tâm lý học, xã hội học, kinh tế, công nghệ, chính sách, đạo đức, đạo đức, thẩm mỹ và tâm linh (Soleiman Pour Omran, 2013) Tâm lý học MT là một nhánh của tâm lý học xã hội Nó quy các vấn đề MT vào hành vi của con người và nó coi kiến thức cá nhân về các vấn đề MT là biến số quan trọng nhất để dự đoán hành vi của con người (Ferdousi, 2007) Cả yếu tố MT bên ngoài và yếu tố nhận thức bên trong đều kiểm soát hành vi của con người Từ góc độ này, các ứng dụng tâm lý được giải thích dựa trên sự tương tác song phương giữa các yếu tố MT cá nhân và quyết định Do đó, con người, MT và hành vi của con người ảnh hưởng lẫn nhau (Seif, 2000)
Hình 2.2: Thuyết xác định đối ứng của con người (P), (E) Môi trường và (B) hành
vi ảnh hưởng qua lại lẫn nhau (Seif, 2000)
Nguồn: Seif (2000)
Những người ủng hộ lý thuyết học tập xã hội tin rằng các hành vi và giá trị đạo đức, giống như các hành vi khác của con người, bị ảnh hưởng bởi việc học tập quan sát Dựa trên các nguyên tắc học, thưởng, phạt, nêu gương và hình thức mẫu Nó cũng liên kết hành vi đạo đức với tình huống và gán nó vào một mô tả hoặc trình độ ổn định
Hành vi
Trang 32hoặc một giai đoạn phát triển đặc biệt (Rafee, 2003) Theo lý thuyết này, mọi người học hỏi lẫn nhau bằng các khái niệm như quan sát hành vi, bắt chước và làm mẫu Do đó, dựa trên kiến thức về MT thông qua học tập bằng cách quan sát hành vi của người làm mẫu đối với MT sẽ ảnh hưởng đến người học về các hành vi đối với
MT của họ sau này (Seif; 2000) Beerhuve (2001) tin rằng các vấn đề MT như ô nhiễm RTN trên thực tế là do trách nhiệm giáo dục MT yếu kém trong thời thơ ấu, do đó,
kiến thức về MT có ảnh hưởng đến hành vi của con người đối với MT
2.4 Các nhân tố tác động đến STG của người dân trong BVMT
2.4.1 Phương tiện truyền thông
Sử dụng phương tiện truyền thông thường đề cập đến việc tiếp xúc hoặc chú ý đến phương tiện truyền thông, bao gồm các phương tiện truyền thống như truyền hình hoặc báo chí và Internet Trong các nghiên cứu về MT, các nhà nghiên cứu thường đo lường việc sử dụng phương tiện truyền thông của mọi người cho nội dung chung, các vấn đề công cộng hoặc cho nội dung cụ thể về MT như vấn đề chống RTN Nhiều nghiên cứu đã tìm thấy sự tác động tích cực của sử dụng truyền thông đến các vấn đề chung của công cộng và các vấn đề cụ thể về MT đối với vấn đề MT, kiến thức và hành vi vì MT Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng việc phủ sóng truyền hình về MT làm tăng hiểu biết của mọi người về vấn đề MT (Brother, Fortner, & Mayer, 1991) Sự chú ý của phương tiện truyền thông, thông tin tin tức về vấn đề ô nhiễm cũng ảnh hưởng đến sự quan tâm về vấn đề này đối với công chúng (Ader, 1995) Tuy nhiên, McLeod, Glynn, & Griffin (1987) trực tiếp điều tra tác động của việc sử dụng phương tiện truyền thông đối với khán giả và nhận thấy rằng việc sử dụng phương tiện truyền thông mang lại ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự quan tâm đến vấn đề MT của mọi người nhưng không tạo ra hành vi BVMT của họ Chan (1988) tìm thấy bằng chứng rằng sử dụng phương tiện truyền thông có ảnh hưởng gián tiếp đến hành vi BVMT thông qua các chuẩn mực xã hội, việc đưa tin, thông tin, truyền thông về tái chế rác thải nói chung hay RTN nói riêng có thể tạo thành áp lực xã hội và làm tăng ý định tái chế chất thải của cộng đồng
Trang 332.4.2 Cán bộ MT
Dhokhikah và ctg (2015) khi thực hiện nghiên cứu về STG của cộng đồng trong việc giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt (HSW) đã xác định cán bộ môi trường là một
trong các nhân tố tác động đến STG của cộng đồng trong giảm thiểu chất thải Theo
Dhokhikah, Y và ctg (2015) thì cán bộ MT được định nghĩa là người từ một hiệp hội địa phương hoặc các khu vực lân cận, thực hiện chức năng cung cấp cho công chúng những tư vấn và hướng dẫn về MT, chẳng hạn như cách phân loại rác thải và cách ủ rác để phân hủy Sự tồn tại của cán bộ MT góp phần hỗ trợ việc phổ biến thông tin về các vấn đề MT nói chung cũng như phong trào chống RTN nói riêng, từ đó, thể cải thiện thái độ, hành vi và hành động của cộng đồng địa phương đối với MT Để nâng cao trình độ hiểu biết của cộng đồng, ý thức, hành vi của cộng đồng trong tham gia các phong trào BVMT, cán bộ MT phải phổ biến đến cộng đồng để động viên, hướng dẫn,
tư vấn về phân loại, tái chế và làm phân rác thải
Kiến thức ngày càng gia tăng và lan rộng trong những năm gần đây do các chiến dịch giáo dục và đặc biệt là do các phương tiện truyền thông đại chúng đưa tin nhiều hơn về các vấn đề MT nói chung cũng như các loại chất thải nói riêng, đặc biệt
là thông qua các nguồn như báo chí - nguồn thông tin chính về các vấn đề MT Cui (2002) thực hiện nghiên cứu ở Trung Quốc cho thấy sự thiếu kiến thức về MT dẫn đến người dân chưa hiểu được hành vi của con người ảnh hưởng đến MT như thế nào, mọi người thường không nhận ra rằng hành động của chính họ đang gây hại cho MT Tất nhiên, những trường hợp ngoại lệ là những người có học thức hơn Nhiều nghiên cứu cũng tìm thấy dấu hiệu cho thấy rằng việc có các kiến thức MT cơ bản, được giáo dục
Trang 34về BVMT là điều kiện tiên quyết để nuôi dưỡng thái độ và hành vi ít gây hại cho
MT ở Trung Quốc (Hong, 1998; Xi, Fan, & Deng, 1998)
2.4.4 Nhận thức của người dân
Định nghĩa về nhận thức MT được gọi là nhận thức về các vấn đề MT và tích cực tham gia vào các tổ chức MT (Mei et al., 2016) Chính nhận thức là yếu tố kích hoạt để nuôi dưỡng thái độ tích cực và tình cảm đối với hành vi tích cực đối với MT Nhận thức về MT là yếu tố chính đối với các mối quan tâm về bảo tồn và nâng cao
MT (Maniam, 2015) Sự thiếu hụt nhận thức về MT trước các vấn đề MT đang làm cản trở những nỗ lực của các nhà hoạch định chính sách nhằm đối mặt với những căng thẳng về MT (Keles, 2012)
Mehedi Masud và cộng sự (2013) thực hiện một nghiên cứu nhằm mục đích kiểm tra xem liệu nhận thức về biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng đến thái độ của mọi người và thực hiện các hành vi BVMT hay không, kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tích cực giữa nhận thức về MT và hành vi ủng hộ, BVMT của mọi người Nó chỉ ra rằng những người có mức độ nhận thức cao về biến đổi khí hậu có nhiều khả năng thực hiện các hành vi vì MT hơn những người có nhận thức thấp về vấn đề này
2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Xác định được vai trò quan trọng và tất yếu trong phong trào chống RTN không
ai khác là ngoài người dân và các bên liên quan Vì vậy từ nền tảng lý thuyết và các nghiên cứu trước về STG của người dân, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu như sau:
Bảng 3.1: Căn cứ đề xuất biến nghiên cứu
1 Sử dụng phương tiện truyền thông Dhokhika,Y và ctg (2015)
Võ Minh Sử (2019)
2 Cán bộ môi trường Dhokhika,Y và ctg (2015)
3 Kiến thức về môi trường
Harris, P.G (2006) Dhokhika,Y và ctg (2015) Meinhold,J.L., &
Trang 35Mô hình nghiên cứu được xây dựng như sau:
Hình 2.3: Mô hình nghiên cứu đề xuất
Nguồn: Tác giả tự đúc kết và vẽ
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Nội dung chương này trước hết trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu
Cụ thể, trước hết tác giả trình bày về lý thuyết STG của người dân gồm khái niệm về STG của người dân, mức độ tham gia của người dân, lý thuyết về nhựa và RTN Tiếp
đó, tác giả trình bày các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu và các lý thuyết nền giải thích cho các nhân tố ảnh hưởng đến STG của người dân trong BVMT nói chung và trong tham gia phong trào phòng chống RTN Các nội dung này là căn cứ quan trọng để tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến STG của người dântrong chống RTN tại TT Kiên Lương, H Kiên Lương, Kiên Giang gồm: Sử dụng phương tiện truyền thông; Cán bộ MT; Kiến thức về MT; Nhận thức của người dân
Trang 37CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Khung nghiên cứu
Khung nghiên cứu của luận văn như sau:
Hình 3.1: Khung nghiên cứu
(Nguồn: tác giả tổng hợp)
3.2 Qui trình nghiên cứu
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu
3.2.1.1 Mẫu nghiên cứu
Khung chọn mẫu của đề tài là: HGĐ, cá nhân trên địa bàn TT Kiên Lương, H Kiên Lương T Kiên Giang
Trang 38Theo Kinnear và Taylor (1992) “Không có điều gì đảm bảo rằng phương
pháp chọn mẫu xác suất là có kết quả chính xác hơn phương pháp chọn mẫu phi xác suất Những gì người đi trước cho chúng ta biết là khi chọn mẫu theo xác suất thì độ sai số của mẫu đo lường được còn phi xác suất thì không” Do vậy đề tài này sẽ chọn mẫu theo phương pháp phi xác suất, thuận tiện
Về kích thước mẫu, để sử dụng EFA, theo Hair (2010), mẫu tối thiểu phải là 50, tốt hơn là 100 và tỷ lệ giữa quan sát trên biến đo lường là 5:1, tốt nhất là 10:1 Trong khi đó, theo Tabachnick và Fidell (2007) khi dùng MLR (hồi quy bội), kích thước mẫu
n được tính: n >= 50 + 8p (p: số lượng biến độc lập) Trong bảng câu hỏi liên quan đến STG của người dân vào phong trào phòng chống RTN, tác giả có 22 biến quan sát, vậy theo kinh nghiệm xác định kích thước mẫu nghiên cứu của Hair (2010) thì cỡ mẫu tối thiểu là 110 (n 22*5=110), và theo kinh nghiệm chọn mẫu của Tabachnick và Fidell (2007) thì cỡ mẫu tối thiểu là 82 (n 50+8*4) Như vậy kết hợp các cách xác định kích thước mẫu tối thiểu vừa nêu thì cỡ mẫu tối thiểu tốt nhất là 110
3.2.1.2 Phương pháp chọn mẫu
Trong nghiên cứu này, đối tượng khảo sát là HGĐ, cá nhân trên địa bàn TT Kiên Lương, H Kiên Lương T Kiên Giang Do số mẫu cần khảo sát khá đông nên tác giả sẽ tiến hành khảo sát thông qua phương pháp phi xác suất, thuận tiện
3.2.1.3 Thu thập dữ liệu
Thứ nhất, dữ liệu thứ cấp: được thu thập từ sách báo, các thông tin được chia
sẻ từ mạng Internet, các báo cáo của UBND TT Kiên Lương, UBND H Kiên Lương,
đơn vị có liên quan
Thu thập từ các văn bản chung của nhà nước quy định về BVMT, quản lý rác thải rắn, chống RTN; thu thập bằng phương pháp điều tra xã hội học, khảo sát bằng các bảng câu hỏi đối với các thành phần, tầng lớp nhân dân tại khu vực TT Kiên Lương Phân tích, tổng hợp dựa vào cơ sở lý luận, các thông tin từ kết quả thăm dò, điều tra, tìm hiểu để phân tích được thực trạng và các phương pháp cần thiết khác
Thu thập, cập nhật về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của TT Kiên Lương về hiện trạng của người dân trong tham gia chống RTN
Trang 39Thứ hai, dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát: tác giả sử dụng bảng câu hỏi làm công cụ thu thập dữ liệu Bảng câu hỏi tự trả lời đã được sử dụng để thu thập thông tin cần nghiên cứu trong đề tài này Việc sử dụng bảng câu hỏi để thu thập thông tin cần nghiên cứu có những lợi ích sau (Ranjit Kumar, 2005):
Một là tiết kiệm chi phí, thời gian và nguồn nhân lực
Hai là đảm bảo được tính ẩn danh cao vì người nghiên cứu và đối tượng khảo sát không cần phải gặp mặt nhau
Mặc khác, với công cụ bảng câu hỏi nghiên cứu chúng ta có thể có được những thông tin cần thiết từ số lượng lớn người trả lời một cách nhanh chóng và hiệu quả Tuy nhiên, theo Bless và đồng tác giả (2006) thì bảng câu hỏi tự trả lời cũng còn một vài hạn chế như sau:
Một là trình độ học vấn và sự hiểu biết của người trả lời đối với các thuật ngữ được sử dụng trong bảng câu hỏi là không biết trước được
Hai là, tỷ lệ trả lời đối với các bảng câu hỏi là khá thấp
Trên cơ sở nghiên cứu, xem xét nhu cầu thu thập thông tin cũng như kết hợp việc phân tích những điểm mạnh và điểm yếu của công cụ này cũng như các công
cụ thu thập thông tin mà các nghiên cứu liên quan trước đây đã sử dụng Bảng câu hỏi tự trả lời đã được tác giả thiết kế chứa đựng một số thông tin cần thiết cho nghiên cứu như sau:
Phần 1: Các thông tin chung về đối tượng trả lời khảo sát như: (1) Họ và tên, (2) độ tuổi, (3) giới tính, (4) trình độ học vấn,…
Phần 2: Nội dung chính: Phần này tác giả sẽ trình bày về thang đo của các nhân
tố ảnh hưởng đến STG của người dân trong phong trào chống RTN
Quá trình thực hiện nghiên cứu đã có khoảng 180 bảng câu hỏi khảo sát được tác giả phát ra Sau cuộc khảo sát tác giả thu được 180 phản hồi từ các đáp viên trong
đó có 157 bảng hỏi trả lời hợp lệ Các phiếu không hợp lệ bị loại ra chủ yếu là do các
Trang 40nguyên nhân như: đối tượng khảo sát không trả lời đầy đủ các yêu cầu của khảo sát, hay đưa ra nhiều lựa chọn cho cùng một nhận định, hay phiếu khảo sát bị rách, bị tẩy xóa nhiều nên không nhìn rõ kết quả Kết quả thu thập dữ liệu khảo sát định lượng được tóm tắt như sau:
Bảng 3 1: Thống kê kết quả phản hồi phiếu câu hỏi khảo sát
(Phiếu)
Tỷ lệ (100%)
3.2.2 Quy trình nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết lúc đâu đã được nêu ở trên, đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu định tính (như: thảo luận tay đôi với chuyên gia) nhằm xây dựng mô hình nghiên cứu chính thức và thang đo nghiên cứu chính thức về các nhân tố ảnh hưởng đến STG của người dân vào phong trào phòng chống RTN, tiếp theo là nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng PPNC định lượng, dữ liệu được thu thập thông qua thu bản câu hỏi khảo sát gửi đến các đối tượng khảo sát “Từ thông tin thu thập được tiến hành thống kê, phân tích dữ liệu với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 22.0 Và quá trình này được thực hiện các bước theo trình tự như quy trình sau: