1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý luận của kinh tế chính trị học mác leenin về hàng hóa và tính hai mặt của hàng hóa liên hệ thực tiễn

21 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 406,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM KHOA CHÍNH TRỊ VÀ LUẬT TIỂU LUẬN CUỐI KỲ Lý luận của kinh tế chính trị học Mác Lênin về hàng hóa và tính hai mặt của sản xuất hàng hóa Liên hệ thực tiễn MÃ MÔN HỌC MÃ LỚP LLCT120205 21 2 17CLC NHÓM THỰC HIỆN RICARDO Thứ 2 tiết 1 2 GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ThS Trần Ngọc Chung Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2022 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 1 Lý do chọn đề tài 1 2 Mục tiêu nghiên cứu 1 3 Đối tượng nghiên cứu 2 3 1 Đối tượng nghiên cứu phần lý.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM

KHOA CHÍNH TRỊ VÀ LUẬT

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ

Lý luận của kinh tế chính trị học

Mác - Lênin về hàng hóa và tính hai mặt của sản xuất hàng hóa Liên hệ thực tiễn.

MÃ MÔN HỌC & MÃ LỚP: LLCT120205_21_2_17CLC

NHÓM THỰC HIỆN: RICARDO Thứ 2 - tiết: 1-2 GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS Trần Ngọc Chung

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Đối tượng nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu phần lý thuyết: 2

3.2 Đối tượng nghiên cứu phần thực tiễn: 2

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ HÀNG HÓA 3

1.1 Khái niệm cơ bản 3

1.1.1 Khái niệm về hàng hóa 3

1.1.2 Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa 3

1.2 Hai thuộc tính của hàng hóa 4

1.2.1 Thuộc tính giá trị 4

1.2.2 Thuộc tính giá trị sử dụng 5

1.2.3 Mối quan hệ của hai thuộc tính 6

1.3 Tính hai mặt của hàng hóa 7

1.3.1 Lao động cụ thể 7

1.3.2 Lao động trừu tượng 8

1.4 Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa 9

1.4.1 Khái niệm lượng giá trị hàng hóa 9

1.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa 9

1.4.2.1 Năng suất lao động 9

1.4.2.2 Mức độ phức tạp của lao động 10

1.4.2.3 Cường độ lao động 11

CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG TRONG TÍNH HAI MẶT CỦA SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM 12

Trang 3

DANH SÁCH NHÓM THAM GIA VIẾT TIỂU LUẬN

HỌC KÌ II NĂM HỌC: 2021-2022

Nhóm Ricardo Thứ 2 tiết 01, 02

Tên đề tài: Lý luận của kinh tế chính trị học Mác - Lênin về hàng hóa và tính hai mặt

của sản xuất hàng hóa Liên hệ thực tiễn

STT HỌ VÀ TÊN

SINH VIÊN

MÃ SỐ SINH VIÊN

TỶ LỆ % HOÀN THÀNH SĐT

Trang 4

Ghi chú:

− Tỷ lệ % = 100%

− Trưởng nhóm: Nguyễn Thị Thanh Trúc

Nhận xét của giáo viên:

Ngày tháng năm

Giáo viên chấm điểm

Trang 5

Hàng hoá đóng vai trò rất quan trọng trong xã hội Bất kỳ một hình thái xã hội nào cũng liên quan đến hàng hoá Một con người cần có nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại… nhưng họ không thể tự sản xuất tất cả mọi thứ để đáp ứng nhu cầu của mình Để thoả mãn họ phải tự trao đổi với nhau Chính vì vậy ta có thể hiểu rằng hàng hoá ra đời từ nhu cầu cấp thiết, không thể thiếu của cuộc sống Từ chủ nghĩa Mác, đến Mác và sau Mác đã có rất nhiều lý luận đã ra đời nhằm nghiên cứu một thứ vật chất đặc biệt đó là “hàng hoá” Với những thuộc tính của mình hàng hóa giữ một vai trò quan trọng trong sản xuất và lưu thông Hàng hoá là một “tế bào kinh tế” của xã hội tư bản “Có nền kinh tế hàng hoá thì tất nhiên tồn tại cạnh tranh Cạnh tranh là quy luật bắt buộc của nền kinh tế hàng hoá”, vì vậy việc nghiên cứu về hàng hoá và những thuộc tính của nó là một việc quan trọng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với quá trình cạnh tranh

Tóm lại để tìm hiểu và làm rõ về hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa, cả nhóm

chúng tôi đã quan tâm và chọn đề tài: “Lý luận của kinh tế chính trị học Mác – Lênin về

hàng hoá và tính hai mặt của sản xuất hàng hoá Liên hệ thực tiễn.” để làm đề tài cho

tiểu luận của môn học này

2 Mục tiêu nghiên cứu

Bài tiểu luận sẽ giải thích, phân tích, làm rõ các khái niệm “hàng hoá”, “giá trị sử dụng”, “hai thuộc tính của hàng hoá”, theo chủ nghĩa Mác – Lênin Phân tích được mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hoá Từ đó đề xuất ra các giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh hàng hoá Việt Nam

Trang 6

2

3 Đối tượng nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu phần lý thuyết:

Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh

tế, đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hoá Trong nền sản xuất hàng hoá tồn tại một phạm trù lịch sử đó chính là hàng hoá Hàng hoá là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán

Hàng hoá còn là phạm trù lịch sử, nó chỉ xuất hiện khi có nền sản xuất hàng hoá, đồng thời sản phẩm lao động mang hình thái hàng hoá khi nó là đối tượng trao đổi trên thị trường

Mặt khác, hàng hoá có hai thuộc tính cơ bản là giá trị sử dụng và giá trị Giữa hai thuộc tính này có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau, nếu thiếu một trong hai thuộc tính thì không phải là hàng hoá

Hiểu được tầm quan trọng của hàng hóa, đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung

vào hai thuộc tính của hàng hóa hay rộng hơn là tính hai mặt của hàng hóa

3.2 Đối tượng nghiên cứu phần thực tiễn:

Dù ở thời đại nào, con người luôn có nhu cầu trao đổi và mua bán hàng hoá Sản xuất hàng hoá ở mỗi giai đoạn lịch sử chính là cơ sở để đất nước Việt Nam ngày càng phát triển Đời sống vật chất lẫn tinh thần của con người cũng từ đó được cải thiện và ngày càng phong phú hơn Mặt khác, mọi sự vật, hiện tượng luôn có tính hai mặt, sản xuất hàng hoá

cũng thế, vậy tính hai mặt đó đã tác động gì đến nền sản xuất hàng hoá của Việt Nam ? Đó

chính là đối tượng nghiên cứu của đề tài chúng tôi

Trang 7

3

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ HÀNG HÓA

1.1 Khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm về hàng hóa

Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh

tế, đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hóa Trong nền sản xuất hàng hóa tồn tại một phạm trù lịch sử đó chính là hàng hóa Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán

Có rất nhiều tiêu thức để phân chia các loại hàng hóa như: hàng hóa thông thường, hàng hóa đặc biệt hàng hóa hữu hình, hàng hóa vô hình, hàng hóa tư nhân, hàng hóa công cộng Dạng hữu hình như: sắt, thép lương thực, thực phẩm ; Dạng vô hình như những dịch vụ thương mại, vận tải hay dịch vụ của giáo viên, bác sĩ, nghệ sĩ Hàng hóa có thể cho một cá nhân sử dụng hoặc nhiều người cùng sử dụng Từ khái niệm trên cho thấy “hàng hóa là một phạm trù lịch sử, nó chỉ xuất hiện khi có nền sản xuất hàng hóa, đồng thời sản phẩm lao động mang hình thái hàng hóa khi nó là đối tượng mua bán trên thị trường.” Karl Marx định nghĩa hàng hóa trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con người nhờ có các tính chất của nó Để đồ vật trở thành hàng hóa cần phải

có tính hữu dụng đối với người dùng; giá trị (kinh tế), nghĩa là được chi phối bởi lao động;

sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiếm

1.1.2 Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa

Khái niệm sức lao động: Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể

con người, nó được vận dụng vào quá trình lao động sản xuất

Trong bất kỳ xã hội nào, sức lao động cũng đều là yếu tố hàng đầu của quá trình lao động sản xuất Nhưng không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá Sức lao động chỉ

biến thành hàng hoá khi có hai điều kiện sau:

Một là, người lao động phải được tự do về thân thể, do đó có khả năng chi phối sức

lao động của mình Sức lao động chỉ xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hoá, nếu

nó do bản con người có sức lao động đưa ra bán Muốn vậy, người có sức lao động phải có

Trang 8

4

quyền sở hữu năng lực của mình Việc biến sức lao động thành hàng hoá đòi hỏi phải thủ tiêu chế độ chiếm hữu nô và chế độ phong kiến

Hai là, người lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất không thể tự tiến hành lao

động sản xuất Chỉ trong điều kiện ấy, người lao động mới buộc phải bán sức lao động của mình, vì không còn cách nào khác để sinh sống Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu đẫn đến chỗ sức lao động biến thành hàng hoá Dưới chủ nghĩa tư bản, đã xuất hiện đầy đủ hai điều kiện đó Một mặt, cách mạng tư sản đã giải phóng người lao động khỏi sự

lệ thuộc về thân thể vào chủ nô và chúa phong kiến Mặt khác, do tác động của quy luật giá trị và các biện pháp tích luỹ nguyên thuỷ của tư bản đã làm phá sản những người sản xuất nhỏ, biến họ trở thành vô sản và tập trung tư liệu sản xuất vào trong tay một số ít người Việc mua bán sức lao động được thực hiện dưới hình thức thuê mướn Quan hệ làm thuê

đã tồn tại khá lâu trước chủ nghĩa tư bản, nhưng không phổ biến và chủ yếu được sử dụng trong việc phục vụ nhà nước và quốc phòng Chỉ đến chủ nghĩa tư bản nó mới trở nên phổ biến, thành hệ thống tổ chức cơ bản của toàn bộ nền sản xuất xã hội Sự cưỡng bức phi kinh

tế được thay thế bằng hợp đồng của những người chủ sở hữu hàng hoá, bình đẳng với nhau trên cơ sở “thuận mua, vừa bán” Điều đó đã tạo ra khả năng khách quan cho sự phát triển

tự do cá nhân của các công dân và đánh dấu một trình độ mới trong sự phát triển tự do cá nhân của các công dân và đánh dấu một trình độ mới trong sự phát triển của văn minh nhân loại Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện chủ yếu quyết định sự chuyển hoá tiền thành tư bản

1.2 Hai thuộc tính của hàng hóa

VD: 3 con gà = 1 con lợn Tức là 3 con gà có giá trị trao đổi bằng 1 con lợn

Hai hàng hóa khác nhau trao đổi với nhau được thì theo C Mác giữa chúng phải có một cơ sở chung nào đó Điểm chung ấy được biểu thị là chúng đều là sản phẩm của hao

Trang 9

5

phí sức lao động Lao động hao phí để sản xuất ra sản phẩm nào thì giá trị của sản phẩm ấy càng cao, tức là hàng hóa có giá trị Mặc dù khác nhau về giá trị sử dụng nhưng các loại hàng hóa này đều là kết quả của sự hao phí sức lao động của người sản xuất đối với hàng hóa đó, do đó hàng hóa có giá trị Bên cạnh, giá trị hàng hóa còn là biểu hiện của mỗi quan

hệ giữa những người mua, người bán; là một phạm trù lịch sử, nó gắn liền với nền sản xuất hàng hóa

Mặt khác, giá trị trao đổi có giá trị làm nội dung, là cơ sở Ngược lại, giá trị trao đổi chỉ đơn giản là hình thức biểu hiện của giá trị mà thôi Khi nào có sản xuất, trao đổi hàng hóa giữa người mua và bán thì khi đó có phạm trù giá trị hàng hóa Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên thì giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa

Giá trị sử dụng có các đặc điểm cơ bản sau:

− Số lượng giá trị sử dụng của một hàng hóa không phải ngay một lúc đã phát hiện được hết mà nó được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa học kĩ thuật

Từ ý nghĩa này mà giá trị sử dụng được xem rằng có tính lịch sử cụ thể, phụ thuộc nhất định vào sự phát triển của khoa học – kỹ thuật Và các giá trị sử dụng là những vật phẩm mang giá trị trao đổi, giá trị của nó chỉ được thực hiện trong việc sử dụng hay tiêu dụng

nó mà thôi, khi chưa được tiêu dùng thì giá trị sử dụng của nó luôn ở trạng thái khả năng,

có thể gọi nôm na là chưa được kích hoạt Để giá trị sử dụng có khả năng chuyển hóa thành giá trị sử dụng hiện thực thì nó phải được sử dụng, tiêu dùng Qua đó nói lên ý nghĩa quan trọng của tiêu dùng đối với sản xuất

− Các giá trị sử dụng của từng loại hàng hóa là do chính những thuộc tính tự nhiên, chẳng hạn như vật lý, hóa học,… các yếu tố mà tham gia vào việc cầu thành nên vật phẩm

Trang 10

− Một vật khi đã là hàng hóa thì nhất thiết nó phải có giá trị sử dụng Nhưng không phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng cũng đều là hàng hóa Ví dụ, không khí rất cần cho cuộc sống con người nhưng không phải là hàng hóa Như vậy, một vật muốn trở thành hàng hóa thì giá trị sử dụng của nó phải là vật được sản xuất ra để mua bán, để trao đổi, cũng có nghĩa là vật đó phải có giá trị trao đổi

1.2.3 Mối quan hệ của hai thuộc tính

Giữa hai thuộc tính của hàng hóa luôn có mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc lẫn nhau,

nó vừa mâu thuẫn vừa thống nhất với nhau, mặt thống nhất thể hiện ở chỗ hai thuộc tính này cùng đồng thời tồn tại trong một hàng hóa, một vật phải có đầy đủ hai thuộc tính này mới là hàng hóa, nếu thiếu một trong hai thuộc tính đó sẽ không phải là hàng hóa Mẫu thuẫn giữa hai thuộc tính của hàng hóa thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất, với tư cách là giá trị sử dụng thì các hàng hoá khác nhau về chất Nhưng

với tư cách là giá trị thì các hàng hóa lại đồng nhất về chất, đều là sự kết tinh của lao động trong đó

Thứ hai, tuy giá trị và giá trị sử dụng cùng tồn tại trong một hàng hóa nhưng quá trình

thực hiện chúng lại tách rời nhau về cả mặt không gian va thời gian Hai thuộc tính của hàng hoá này không phải là do có hai thứ lao động khác nhau kết tinh trong hàng hoá mà

là do lao động sản xuất hàng hoá có tính chất hai mặt, vừa có tính trừu tượng (lao động trừu tượng), vừa có tính cụ thể (lao động cụ thể) Ta có thể nói, giá trị của hàng hoá là lao động trừu tượng kết tinh trong hàng hoá Đây chính là mặt chất của giá trị hàng hóa

Trang 11

7

Trong đó, giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị ra bên ngoài Khi trao đổi sản phẩm cho nhau, những người sản xuất ngầm so sánh lao động ẩn giấu trong hàng hoá với nhau

Thực chất của quan hệ trao đổi là người ta trao đổi lượng lao động hao phí của mình chứa đựng trong các hàng hoá Vì vậy, giá trị là biểu hiện quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hoá Giá trị là một phạm trù lịch sử, gắn liền với nền sản xuất hàng hóa Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên thì giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa

Như vậy, hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị, nhưng

là sự thống nhất của hai mặt đối lập Đối với người sản xuất hàng hoá, họ tạo ra giá trị sử dụng, nhưng mục đích của họ không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, họ quan tâm đến giá trị sử dụng là để đạt được mục đích giá trị mà thôi

Ngược lại, đối với người mua, cái mà họ quan tâm là giá trị sử dụng để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của mình Nhưng muốn có giá trị sử dụng thì phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó Như vậy, trước khi thực hiện giá trị sử dụng phải thực hiện giá trị của nó Nếu không thực hiện được giá trị, sẽ không thực hiện được giá trị sử dụng

1.3 Tính hai mặt của hàng hóa

Nghiên cứu mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hoá với lao động sản xuất hàng hoá, C.Mác gọi là lao động phức tạp và lao động giản đơn được nhân bội lên Đây là

cơ sở lý luận quan trọng để cả nhà quản trị và người lao động tính toán, xác định mức thù lao cho phù hợp với tính chất của hoạt động lao động trong quá trình tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội

1.3.1 Lao động cụ thể

Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những ngành nghề chuyên môn nhất định Mỗi lao động cụ thể có thao tác riêng, đối tượng riêng, mục đích riêng và kết quả riêng Lao động cụ thể tạo ra giá trị hàng hoá sử dụng riêng Trong đời sống xã hội, có vô số những hàng hoá với những giá trị sử dụng khác nhau Khoa học kỹ thuật, phân công lao động ngày càng phát triển thì xã hội ngày càng nhiều ngành nghề khác nhau, do đó có nhiều giá trị sử dụng khác nhau Khoa học kỹ thuật, phân công lao động càng phát triển thì các hình thức lao động cụ thể càng phong phú, đa dạng Mỗi lao động

Trang 12

8

cụ thể tạo ra một loại giá trị sử dụng nhất định Lao động cụ thể càng nhiều loại thì càng tạo ra nhiều giá trị sử dụng khác nhau Các lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động xã hội Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, các hình thức lao động cụ thể ngày đa dạng, phong phú, nó phản ánh trình độ phát triển của phân công lao động xã hội

Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa Giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn, vì vậy, lao động cụ thể cũng là phạm trù vĩnh viễn tồn tại gắn liền với vật phẩm

đó, nó là một điều kiện không thể thiếu trong bất kỳ hình thái kinh tế – xã hội nào

Các hình thức phong phú và đa dạng của lao động cụ thể phụ thuộc vào trình độ phát triển và sự áp dụng khoa học công nghệ vào nền sản xuất, đồng thời cũng là tấm gương phản chiếu trình độ phát triển kinh tế, khoa học ở mỗi một thời đại

Lao động cụ thể không phải là nguồn gốc duy nhất của giá trị sử dụng do nó sản xuất

ra, giá trị sử dụng của các vật thể hàng hóa bao giờ cũng có hai nhân tố hợp thành đó là vật chất và lao động Lao động cụ thể của con người chỉ thay đổi hình thức tồn tại của các vật chất làm nó thích ứng với nhu cầu của con người

1.3.2 Lao động trừu tượng

Lao động trừu tượng là sự tiêu hao sức lao động (tiêu hao sức óc, sức bắp thịt và sức

thần kinh) của người sản xuất hàng hoá nói chung Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hoá, làm cơ sở cho sự ngang bằng trong trao đổi Có thể nói giá trị hàng hoá là lao động trừu tượng của người sản xuất kết tinh trong hàng hoá

Giá trị của hàng hoá là một phạm trù lịch sử, do đó lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hóa cũng là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong nền sản xuất hàng hóa Nếu lao động cụ thể chỉ là một trong hai nhân tố tạo thành giá trị sử dụng, thì lao động trừu tượng

là nhân tố duy nhất tạo ra giá trị của hàng hóa Giá trị của mọi hàng hóa chỉ là sự kết tinh của lao động trừu tượng

Việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động của sản xuất hàng hóa có ý nghĩa rất lớn về mặt lý luận; nó đem đến cho lý luận lao động sản xuất một cơ sở khoa học thực sự; giúp ta giải thích được hiện tượng phức tạp diễn ra trong thực tế, như sự vận động trái

Ngày đăng: 01/06/2022, 18:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w