1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện đầm dơi tỉnh cà mau 1

122 43 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Phòng Ngừa Bạo Lực Học Đường Ở Trường Trung Học Cơ Sở Huyện Đầm Dơi Tỉnh Cà Mau
Tác giả Tạ Thanh Bự
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Xuân Bách
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 7,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi - Mục đích: + Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường của đội ngũ giáo viên và CBQL và học sinh trường

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -

TẠ THANH BỰ

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC

CƠ SỞ HUYỆN ĐẦM DƠI TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Đà Nẵng – Năm 2021

Trang 2

CƠ SỞ HUYỆN ĐẦM DƠI TỈNH CÀ MAU

Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi được sự hướng dẫn của PGS, TS Trần Xuân Bách

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này không trùng lập với bất kỳ đề tài luận văn nào khác đã được công bố tại Việt Nam Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu vi phạm Tôi xin chịu mọi trách nhiệm

Tác giả luận văn

Tạ Thanh Bự

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

TRANG THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC SĨ ii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ xi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Phạm vi nghiên cứu 2

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Cấu trúc của luận văn 4

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 5

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường 5

1.1.1 Những nghiên cứu ở ngoài nước 5

1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 6

1.2 Các khái niệm cơ bản 8

1.2.1 Khái niệm quản lý 8

1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục 10

1.2.3 Khái niệm quản lý nhà trường 12

1.2.4 Khái niệm về bạo lực học đường 13

1.3 Lý luận về hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho học sinh trung học cơ sở 18

1.3.1 Nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường cho học sinh trung học cơ sở 18

1.3.2 Mục tiêu giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho học sinh trung học cơ sở 21

1.3.3 Nội dung giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho học sinh trung học cơ sở 22

Trang 7

1.3.4 Phương pháp giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho học sinh trung

học cơ sở 22

1.3.5 Hình thức giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho học sinh trung học cơ sở 23

1.3.6 Các lực lượng tham gia công tác giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường 24 1.4 Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở 25

1.4.1 Quản lý mục tiêu giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở 25

1.4.2 Quản lý nội dung giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở 25

1.4.3 Quản lý hình thức giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở 26

1.4.4 Quản lý phương pháp giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở 26

1.4.5 Quản lý công tác phối hợp các lực lượng giáo dục trong phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường trung học cơ sở 26

1.4.6 Quản lý công tác kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở 27

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở 27

1.5.1 Những yếu tố khách quan 27

1.5.2 Những yếu tố chủ quan 28

Tiểu kết chương 1 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN ĐẦM DƠI TỈNH CÀ MAU 32

2.1 Khái quát tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội và giáo dục trung học cơ sở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau 32

2.1.1 Khái quát về huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau 32

2.1.2 Tình hình giáo dục và đào huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau 33

2.2 Mô tả quá trình khảo sát 34

2.2.1 Mục tiêu khảo sát 34

2.2.2 Đối tượng khảo sát 34

2.2.3 Nội dung khảo sát 34

2.2.4 Phương pháp khảo sát 35

Trang 8

2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu 35

2.3 Thực trạng hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau 35

2.3.1 Thực trạng xếp loại đạo đức của học sinh trường trung học cơ sở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau 35

2.3.2 Thực trạng về nội dung giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau 36

2.3.3 Thực trạng về phương pháp giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau 40

2.3.4 Thực trạng về các hình thức giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau 44

2.4 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau 47

2.4.1 Thực trạng quản lý mục tiêu giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà mau 47

2.4.2 Thực trạng quản lý nội dung giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau 49

2.4.3 Thực trạng quản lý hình thức giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau 51

2.4.4 Thực trạng quản lý phương pháp giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau 52

2.4.5 Thực trạng quản lý công tác phối hợp các lực lượng giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường trung học cơ sở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau 54

2.4.6 Thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau 56

2.4.7 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau 58

2.5 Đánh giá chung về thực trạng 60

2.5.1 Những kết quả đạt được 60

2.5.2 Một số hạn chế, tồn tại 60

2.5.3 Nguyên nhân của tồn tại 62

Tiểu kết chương 2 63

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN ĐẦM DƠI TỈNH CÀ MAU 64

3.1 Những nguyên tắc đề xuất các biện pháp quản lý 64

Trang 9

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 64

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 64

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 64

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 65

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo sự đa dạng hoá phương pháp và hình thức quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường 65

3.2 Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau 66

3.2.1 Biện pháp 1: Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh về công tác giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường 66

3.2.2 Biện pháp 2 Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường trong các trường học 67

3.2.3 Biện pháp 3: Chú trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho đội ngũ giáo viên 68

3.2.4 Biện pháp 4: Kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình, các tổ chức chính trị - đoàn thể trong tuyên truyền, giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường tại các trường 70

3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường tổ chức sinh hoạt tập thể có nội dung giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho học sinh 73

3.2.6 Biện pháp 6: Tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh 74

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 75

3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tình khả thi của các biện pháp 76

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 76

3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 76

3.4.3 Đối tượng khảo nghiệm 76

3.4.4 Đánh giá kết quả khảo nghiệm 77

Tiểu kết chương 3 81

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Trang 10

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GVCN Giáo viên chủ nhiệm

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

2.2 Kết quả xếp loại hạnh kiểm của HS các trường THCS huyện

2.3

Đánh giá của giáo viên, cán bộ quản lý, Tổng phụ trách Đội các

trường THCS huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau về mức độ thực hiện

nội dung giáo dục phòng, chống bạo lực học đường

37

2.4

Đánh giá của học sinh các trường THCS huyện Đầm Dơi về

mức độ thực hiện nội dung giáo dục phòng, ngừa bạo lực học

đường

38

2.5 Đánh giá của GV về thực trạng mức độ sử dụng phương pháp

giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho học sinh 40

2.6 Đánh giá của HS về thực trạng mức độ sử dụng phương pháp

giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường của GV 42

2.7 Tự đánh giá của GV về các hình thức giáo dục phòng ngừa bạo

2.8 Đánh giá của HS về các hình thức giáo dục phòng ngừa bạo lực

2.9 Đánh giá của đội ngũ GV, CBQL và TPT Đội về quản lý mục

tiêu giáo dục phòng ngừa BLHĐ 47

2.10 Đánh giá của đội ngũ GV, CBQL và TPT Đội về quản lý nội

dung giáo dục phòng ngừa BLHĐ 49

2.11 Đánh giá của đội ngũ GV, CBQL và TPT Đội về quản lý hình

thức giáo dục phòng ngừa BLHĐ 51

2.12 Đánh giá của đội ngũ CBQL, TPT Đội và GV về quản lý

phương pháp giáo dục phòng ngừa BLHĐ 53

2.13 Đánh giá của đội ngũ GV, CBQL và TPT Đội về quản lý công

tác phối hợp các lực lượng giáo dục phòng ngừa BLHĐ 54

2.14 Đánh giá của đội ngũ CBQL, TPT Đội và GV về quản lý kiểm

tra, đánh giá hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ 57 2.15 Đ ánh giá của đội ngũ CBQL, TPT Đội và GV về các yếu tố ảnh

hưởng đến hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ 58

Trang 12

Số hiệu

3.1 Khảo nghiệm tính cấp thiết của các biện pháp đề xuất 77 3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất 78

Trang 14

Trước tình hình trên, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1501/QĐ-TTg

ngày 28 tháng 8 năm 2015 về Đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo

đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2015-2020”; Thông tư

liên tịch số 06/2015/TTLT/BCA-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2015 của Bộ Công an -

Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường công tác đảm bảo an ninh trật tự, phòng chống bạo lực học đường và tệ nạn xã hội trong các trường học; Quyết định 5886/QĐ-BGDĐT ngày 28 tháng 12 năm 2017 của Bộ Giáo dục - Đào tạo về việc Ban hành chương trình hành động phòng, chống bạo lực học đường trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên giai đoạn 2017-2021

Theo nguồn cung cấp của Phòng GDĐT Đầm Dơi trong những năm qua huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau đã xảy ra gần 100 vụ bạo lực học đường ở trường THCS trên địa bàn huyện Tuy nhiên, đây là số vụ được ghi nhận, còn trong thực tế con số này còn cao hơn nhưng không được tổng hợp báo cáo do nhiều nguyên nhân: Do thành tích sợ ảnh hưởng uy tín của nhà trường; do học sinh, những người biết sự việc nhưng không báo…Chính những nguyên nhân đó đã và đang làm khuất đi phần nào bức tranh toàn cục về tình hình bạo lực học đường ở các trường THCS huyện Đầm Dơi, khiến cho việc đánh giá chưa đầy đủ về thực trạng này, làm ảnh hưởng đến lòng tin của gia đình, xã hội đối với sự giáo dục của các nhà trường Bạo lực học đường ở trường THCS huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau thường xuất phát từ những nguyên nhân lệch lạc về đạo đức lối sống

do thường xuyên tiếp xúc với nguồn văn hóa không lành mạnh trên mạng xã hội như phim ảnh bạo lực, game bạo lực, các trang mạng có tính bạo lực…

Trong quá trình công tác và khảo sát về hoạt động quản lý tại trường THCS huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau cho thấy hoạt động phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường THCS đã có nhiều cố gắng và đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, vẫn còn một số trường, một số cán bộ giáo viên vẫn chưa làm tốt công tác này như: Chưa thường xuyên quan tâm, theo dõi và nắm bắt tình hình của các em học sinh trong lớp mình chủ nhiệm hoặc tham gia giảng dạy đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm và giáo viên chưa dạy kỹ năng sống; chưa có biện pháp can ngăn giáo dục kịp thời đối với

Trang 15

hiện tượng có nguy cơ dẫn đến bạo lực đối với học sinh trong lớp chủ nhiệm hoặc tham gia giảng dạy; việc phối hợp giữa chính quyền, các tổ chức đoàn thể, giữa nhà trường, gia đình và xã hội còn có những hạn chế nhất định nên tình trạng bạo lực học đường vẫn còn xảy ra

Từ tình hình trên để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường THCS huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau tôi đã lựa chọn đề

tài: “Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường THCS huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau” làm luận văn tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường THCS huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quản lý động này trong thời gian tới

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường THCS

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý công tác giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường THCS huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

4 Giả thuyết khoa học

Hiện nay công tác giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường các trường THCS ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau còn nhiều khó khăn Nguyên nhân do công tác quản lý giáo dục bạo lực học đường bất cập Nếu thiết lập và áp dụng các biện pháp giáo dục hoạt động phòng ngừa bạo lực học đường khoa học và phù hợp với thực tiễn thì góp phần phòng ngừa bạo lực học đường ở trường THCS

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường THCS

- Khảo sát thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường THCS huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

- Nhận xét, đánh giá những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại về quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường THCS huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả về quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường THCS huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau trong thời gian tới

Trang 16

1 Trường THCS Dương Thị Cẩm Vân;

2 Trường THCS Tân Thuận;

3 Trường THCS Phan Ngọc Hiển;

4 Trường THCS Quách Văn Phẩm;

5 Trường THCS Thành Vọng;

6 Trường THCS Tân Duyệt

- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2016 đến năm 2020;

- Phạm vi về địa bàn: Huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Mục đích: Nhằm xây dựng đề cương nghiên cứu và những vấn đề lý luận để

làm cơ sở cho việc đề xuất biện pháp quản lý hiệu quả biện pháp phòng ngừa bạo lực học đường

- Nội dung: Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan và xây dựng khái niệm

công cụ của đề tài, từ đó xác định phương pháp nghiên cứu và công cụ nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu: sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ

thống hóa lý thuyết trong các văn bản, nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước; các quy chế, quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

- Mục đích:

+ Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường của đội ngũ giáo viên và CBQL và học sinh trường THCS ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

+ Khảo sát sự đánh giá của CBQL, GV về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp tác động

Phiếu điều tra số 2: Dành cho học sinh đánh giá thực trạng giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường THCS huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

Phiếu điều tra số 3: Dành cho CBQL và giáo viên đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp tác động

Cách tiến hành: Mỗi khách thể trả lời độc lập một phiếu điều tra, trước khi trả lời, các khách thể được hướng dẫn để hiểu mục đích và yêu cầu trả lời ở các nội dung của phiếu

Trang 17

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Mục đích của phương pháp: Phương pháp này sẽ được đề tài sử dụng nhằm mục đích để phỏng vấn sâu, tìm hiểu những quan điểm của CBQL, GVTHCS về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cũng như các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này

Nội dung của phương pháp: Nội dung phương pháp phỏng vấn sâu giúp người nghiên cứu phân tích sâu hơn, chi tiết hơn các ý kiến và quan điểm của khách thể nghiên cứu nhằm lý giải rõ hơn kết quả nghiên cứu định lượng

Cách thức thực hiện: Tiến hành phỏng vấn sâu CBQL, TPTĐ, GV Thông qua lãnh đạo và chuyên viên Phòng GD&ĐT, Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy các trường, để có thêm thông tin đáng tin cậy đảm bảo tính khách quan cho các kết quả nghiên cứu

7.2.3 Phương pháp sử lý số liệu bằng thống kê toán học

- Mục đích: Nhằm xử lý các thông tin thu được từ các phương pháp nghiên cứu

trên, đồng thời kiểm định tính khách quan, độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu

- Công cụ sử dụng: Ở phương pháp này chúng tôi sử dụng phần mềm Excel để

xử lý số liệu

Sử dụng một số phép tính thống kê như: tần suất và tỷ lệ %, trung bình cộng (mean), độ lệch chuẩn (Std) để xử lý số liệu

7.2.4 Phương pháp chuyên gia

- Mục đích: Lấy ý kiến của CBQL, giáo viên THCS có kinh nghiệm để xác định

tính hiệu quả và tính khả thi của các biện pháp đề xuất

- Nội dung: Những vấn đề cơ sở lý luận của đề tài, phương pháp nghiên cứu, xây

dựng bảng hỏi, khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất

- Cách thực hiện: Xin ý kiến trực tiếp của các chuyên gia và ghi chép đầy đủ

8 Cấu trúc của luận văn

Trang 18

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC

CƠ SỞ

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường

1.1.1 Những nghiên cứu ở ngoài nước

Trong những năm qua bạo lực học đường diễn ra khá phức tạp, là một trong những vấn đề của tất cả các nước trên thế giới Theo số liệu năm 2017 của tổ chức UNESCO công cố hàng năm có đến 246 triệu trẻ em và vị thành niên là nạn nhân của BLHĐ Qua khảo sát 5 quốc gia Nepal, Việt Nam, Pakistan, Campuchia và Indonesia cho thấy số học sinh từng hứng chịu BLHĐ khá lớn, cứ 10 em học sinh thì có đến 7

em từng phải hứng chịu BLHĐ Qua khảo sát 5 quốc gia trên cho thấy số học sinh hứng chịu bạo lực học đường chiếm tỉ lệ cao nhất là Indonesia, chiếm tỉ lệ 84%; thấp nhất là Pakistan chỉ chiếm tỉ lệ 43% (Số liệu khảo sát của Plan International và Trung tâm nghiên cứu quốc tế về phụ nữ ICRW) [45]

Đối với nước Mỹ, một quốc gia được xem là phát triển và văn minh của thế giới, vấn BLHĐ diễn ra phức tạp và đáng lo ngại Theo báo cáo của Hiệp hội Giáo dục Mỹ, BLHĐ ảnh hưởng đến 1/3 HS từ lớp 6 đến lớp 10; 28% HS Mỹ từ lớp 6 - 9 từng chịu BLHĐ, 30% thanh thiếu niên thừa nhận từng bắt nạt người khác; gần 70% trong số HS

bị bạo hành đều nói rằng nhà trường đã không có biện pháp thiết thực đối với tình trạng này và chỉ có 20 - 30% HS bị bắt nạt thường thông báo cho người lớn về sự việc Những nghiên cứu gần đây về BLHĐ ở Mỹ cho thấy, có 5,9% học sinh từ lớp 9 đến lớp 12 khi đi học mang theo vũ khí; có 7,8% học sinh từng bị đe dọa hoặc đã bị thương trong trường học; có 40% học sinh là nạn nhân của những hành động dọa nạt qua điện thoại hoặc qua Internet Ngoài ra, qua khảo sát của Hiệp hội Giáo dục Mỹ đối với những trẻ có độ tuổi 12 - 17 cho kết quả các em đều thừa nhận bạo lực đang gia tăng ở trường học của mình Mỗi tháng có 282.000 học sinh ở các trường THCS Mỹ bị tấn công bằng nhiều hình thức [46]

Nghiên cứu về tình hình bạo lực học đường ở các nước Châu Âu cho thấy: Thường xuyên xảy ra ở trường tiểu học, số học sinh liên quan chiếm tới 15% tổng số học sinh Ở THCS, tỉ lệ học sinh bị bắt nạt là từ 3% - 10%; Ở trung học phổ thông, nạn bạo lực học đường bắt đầu có xu hướng giảm đi Đối với nước Pháp: Theo khảo sát

2000 HS từ 7 đến 12 tuổi ở 31 trường học ở Pháp được công bố năm 2009 của nhà xã hội học Cécile Carra cho thấy, có 40% HS khẳng định từng là nạn nhân của BLHĐ; có 28% HS thừa nhận từng là thủ phạm trong các vụ BLHĐ Đối với nước Anh: Theo thống kê trong năm 2007, đã xảy ra hơn 10.000 vụ BLHĐ; số học sinh dưới 16 tuổi bị đuổi học do có hành vi tấn công bạn tăng 2720 vụ trong một năm (theo Ong Thị Mai

Trang 19

Thương, 2012) Bạo lực học đường ở Anh không còn là vấn đề giải quyết cá nhân với

cá nhân mà nó là vấn đề quan tâm của chính phủ, nó đe dọa đến sự phát triển của quốc gia Anh sau này [46]

Qua khảo sát của Cao ủy Nhân quyền Nam Phi cho thấy: Có 40% trẻ em được khảo sát cho rằng chúng từng là các nạn nhân của tội phạm tại trường học Số học sinh cảm thấy an toàn khi tới lớp chỉ chiếm tỉ lệ 23% Trong đó có hơn 1/5 số vụ tấn công tình dục trẻ em Nam Phi được phát hiện diễn ra tại trường học [46]

Còn tại Châu Á, theo khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo Nhật Bản năm 2016 cho thấy: Số vụ BLHĐ ở cấp tiểu học và trung học lên mức rất cao 224.540 trường hợp, tăng 36.400 trường hợp so với năm 2015 [22]

Đối với Hàn Quốc, theo kết quả khảo sát của Quỹ phòng chống bạo lực thanh thiếu niên Hàn Quốc tháng 11 và 12 năm 2009, khảo sát học sinh của 64 trường tiểu học và THCS với số lượng là 4.073 học sinh, kết quả cho thấy 20% học sinh thừa nhận từng bị bắt nạt ở trường; trong đó có 63% nạn nhân bị BLHĐ ngay khi mới học tiểu học, con số này cao hơn 6 - 7% so với số liệu thống kê năm 2007 (56,1%) và năm

2008 (56,8%) Ngoài ra, quan khảo sát năm 2016, số lượng học sinh tiểu học bị BLHĐ chiếm 67% tổng số vụ BLHĐ Theo điều tra, số học sinh thường xuyên bắt nạt các bạn học khác thường hay xem phim bạo lực, hoặc do hoàn cảnh gia đình 51,5% người được hỏi thừa nhận, thường xuyên chơi và xem phim, game bạo lực [22]

Còn tại Trung Quốc, theo báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trung Quốc, trong năm 2016 có đến 2337 học sinh bị kết tội vì tấn công bạn cùng trường [22]

Như vậy, ở nước ngoài đã có nhiều công trình, nhiều khảo sát nghiên cứu về tình hình BLHĐ ở nhiều quốc gia, các công trình đã nêu lên được bản chất của BLHĐ là dựa trên cơ sở sinh học, xã hội học và tâm lí học Tuy nhiên, các công trình trên chưa đưa ra được một phương pháp tổng quát cho việc giảm thiểu, ngăn ngừa hành vi này một cách hiệu quả

1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

Theo một khảo sát từ năm 2011 đến hết tháng 3 năm 2018 của đoàn kiểm tra liên ngành của Bộ Giáo dục và Đào tạo với Bộ Công an cho kết quả, trên cả nước đã xảy ra 18.571 vụ vi phạm pháp luật, BLHĐ liên quan đến 32.418 đối tượng là cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên và 15.757 người là nạn nhân Trong đó, các vụ xâm hại tình dục trong trường học chiếm tỉ lệ 1,37%; các vụ uy hiếp đe dọa tinh thần chiếm tỉ lệ 4,92%; các vụ đánh nhau gây tổn thương chiếm tỉ lệ lớn là 64,01%; ngoài ra các hình thức khác chiếm tỉ lệ 26,9% Trong số này có tới 53% các vụ BLHĐ xảy ra trong các trường học; địa bàn xảy ra BLHĐ nhiều nhất là ở các khu vực nông thôn, chiếm tỉ lệ 51,8%; xảy ra ở khu vực thành thị chiếm tỉ lệ 30,1% và xảy ra ở khu vực trung du, miền núi chiếm tỉ lệ 18,1% [22]

Trong những năm qua, đã có nhiều cuộc hội thảo, các công trình khoa học tập trung nghiên cứu về BLHĐ như:

Trang 20

- Ngày 25 tháng 3 năm 2015 Viên Khoa học giáo dục Việt Nam đã tiến hành tổ

chức buổi tọa đàm với chủ đề "Bạo lực học đường – Nguyên nhân và giải pháp phòng

ngừa" Buổi tọa đàm đã thu hút rất nhiều chuyên gia về tâm lý học đường, các cán bộ

giáo viên, Công an và các đoàn thể tham gia Mục đích buổi tọa đàm bàn về bản chất của BLHĐ, những nguyên nhân dẫn đến BLHĐ và từ đó tìm ra giải pháp phòng ngừa hành vi BLHĐ [46]

- Năm 2015 Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo

khoa học: “Thực trạng và giải pháp ngăn chặn bạo lực học đường trong trường phổ

thông”, trong buổi Hội thảo có nhiều tham luận của các nhà giáo, nhà quản lý giáo dục

nêu lên những thực trạng bạo lực học đường trong các trường học hiện nay, đồng thời nêu lên những nguyên nhân và đưa ra các giải pháp để ngăn chặn tình trạng này

- Công trình nghiên cứu về bạo lực giới trong trường học, từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2014 với 3.000 học sinh của 30 trường THCS, THPT trên địa bàn Hà Nội của Viện nghiên cứu Y - Xã hội phối hợp với tổ chức từ thiện Plan Việt Nam Kết quả cho thấy, khoảng 80% học sinh cho biết từ trước đến nay đã bị bạo lực giới trong trường học ít nhất một lần, 71% bị bạo lực trong vòng 6 tháng qua Trong đó, bạo lực tinh thần (đe dọa, mắng chửi, sỉ nhục, đặt điều ) chiếm tỷ lệ cao nhất 73%, bạo lực thể chất (đánh đập, xô đẩy, kéo tóc, bạt tai ) là 41% và bạo lực tình dục chiếm 19% [1]

- Trần Thị Tú Anh (2012), "Hành vi bạo lực học đường của học sinh THCS

thành phố Huế" bài viết trong Kỷ yếu Hội thảo tâm lý học đường lần 3 "Phát triển mô

hình và kỹ năng hoạt động tâm lý học đường", Thành phố Hồ Chí Minh [2]

- Hoàng Gia Trang (2005), "Hành vi sai lệch chuẩn mực của học sinh tại một số

trường phổ thông ở Hà Nội", Tạp chí phát triển giáo dục, 11/2005

- Lê Đức Thọ (2018), "Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong giáo dục học sinh

có hành vi lệch chuẩn trong nhà trường phổ thông hiên nay", bài viết trong Kỷ yếu

Hội thảo Khoa học toàn quốc "Người giáo viên chủ nhiệm với chương trình giáo dục

phổ thông mới", tr501-505, Đại học Huế [43]

- Trần Thị Minh Đức (2010), với bài viết “Gây hấn học đường ở học sinh trung học phổ thông” đăng trên Tạp chí nghiên cứu con người, số 3/2010 và cuốn sách chuyên khảo “Hành vi gây hấn phân tích từ góc độ tâm lí học xã hội” đã đề cập đến những vấn đề tâm lý của những trẻ có hành vi gây hấn

- Nguyễn Thị Phương (2006), Tìm hiểu những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội

của học sinh trường Phổ thông trung học dân lập Đinh Tiên Hoàng

- Phạm Thị Xoan (2015), "Bạo lực học đường trong học sinh trung học phổ thông

huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương", Luận văn thạc sĩ tâm lý học, Trường Đại học Khoa

học xã hội và nhân văn, Hà Nội [52]

- Đặng Doanh (2011), "Bạo lực học đường ở Hà Nội thực trạng và giải pháp",

Tạp chí Lao động và xã hội Số 412

Trang 21

- Hoàng Thị Hoài Thư (2011), "Nghiên cứu thực trạng bạo lực học đường ở các trường trung học phổ thông tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, Trường Đại học Thái Nguyên

- Đinh Thị Thùy Linh (2017), "Hoạt động công tác xã hội đối với nạn nhân bị

bạo lực học đường tại các trường trung học phổ thông huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh" Luận văn thạc sĩ công tác xã hội, Trường Đại học Lao động Xã hội

Như vậy, cho đến nay đã có nhiều bài viết, công trình khoa học nghiên cứu về BLHĐ và hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc về quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường THCS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau Do đó, tôi

lựa chọn đề tài: "Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường THCS huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau" để làm luận văn tốt nghiệp của mình,

mong góp phần làm giảm tình trạng BLHĐ, nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THCS huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái niệm quản lý

Có nhiều khái niệm và quan điểm tiếp cận khác nhau về khái niệm "Quản lý"

Thông thường, quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động

viên, kiểm tra, điều chỉnh… theo quan điểm lý thuyết hệ thống: “Quản lý là sự tác

động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống” [19] Còn theo quan điểm điều khiển học thì: Quản

lý là chức năng của những hệ có tổ chức, với những bản chất khác nhau nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động Quản lý là một động tác hợp quy luật khách quan Ngoài ra, khái niệm quản lý còn được nhiều học giả trong và ngoài nước tiếp cận theo những cách khác nhau như:

- Theo các nhà lý luận quản lí quốc tế như Frederick Winslow Taylor (Mỹ - 1856

- 1915), Henri Fayol (Pháp - 1841- 1925), đều đã khẳng định: "Quản lý là biết được

chính xác điều người khác muốn làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [20]

- Theo A.G.Afanaxev đưa ra khái niệm dưới góc độ quản lý con người: "Quản lý

con người có nghĩa là tác động đến anh ta, sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng những yêu cầu của xã hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể và cá nhân, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội lẫn cá nhân" [3]

Đối với học giả Việt Nam cũng đưa ra các khái niệm quản lý như:

- Theo tác giả Hà Thế Ngữ: "Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có

mục đích, quản lý cả hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn" [33]

Trang 22

- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại định nghĩa: “Quản lí là tác động có mục đích,

kế hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lí nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến”[36]

- Còn theo Từ điển Tiếng Việt của Viên ngôn ngữ học đưa ra khái niệm quản lý:

"Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Là tổ chức và điều hành các hoạt động theo yêu cầu nhất định" [51]

Như vậy, từ những khái niệm, quan điểm về quản lý nêu trên cho thấy, dù cách diễn đạt khác nhau nhưng nội hàm của khái niệm quản lý các vấn đề cụ thể:

- Về bản chất của hoạt động quản lý gồm hai bộ phận đó là chủ thể quản lý và khách thể quản lý

Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay nhóm người có chức năng quản lý, điều hành tổ chức, làm cho tổ chức thực hiện để đạt được mục tiêu đề ra Khách thể quản lý là những người thực hiện nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung Chủ thể quản lý làm nảy sinh tác động quản lý, còn khách thể quản lý sản sinh ra các sản phẩm vật chất hoặc tinh thần

có giá trị sử dụng, đáp ứng nhu cầu con người, đáp ứng mục đích chủ thể quản lý

- Về cơ bản quản lý là tác động lên con người để họ làm những vấn đề hay, vấn

đề tốt và có lợi cho tổ chức

- Thực chất quản lý là thực hiện những công việc định hướng, phối hợp với các hoạt động của thuộc cấp để các hoạt động chung được tiến hành nhanh và đạt hiệu quả cao

Từ những vấn đề trên tác giả có thể khái quát về quản lý: Quản lý đó là sự tác

động có định hượng, có mục đích của của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý, nhằm giữ cho sự hoạt động của tổ chức được ổn định và phát triển đạt được mục tiêu

đã đề ra

Từ khái niệm trên cho thấy quản lý có những đặc điểm sau:

Quản lý là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lí đối với đối tượng quản lí Ở đây chủ thể của quản lí là con người hay tổ chức của con người.Những cá nhân hay tổ chức của con người phải là những đại diện có quyền uy, có quyền hạn và trách nhiệm liên kết , phối hợp những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lý

Quản lý xuất hiện ở bất kì nơi nào, lúc nào nếu ở nơi đó và lúc đó có hoạt động chung của con người.Các Mác đã viết: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung…Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng Như vậy, ở đâu có sự hợp tác của nhiều người, ở đó cần

có quản lí, bởi vì hoạt động chung của nhiều người đòi hỏi phải được liên kết dưới nhiều hình thức

Trang 23

Mục đích và nhiệm vụ của quản lí là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành một hoạt động chung thống nhất của cả một tập thể và hướng hoạt động chung đó theo những phương hướng thống nhất nhằm đạt được mục tiêu đã định trước

Quản lí được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy Có tổ chức thì mới phân định

rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của những người tham gia hoạt đông chung Có quyền uy thì mới bảo đảm sự phục tùng của cá nhân với tổ chức Quyền uy là phương tiện quan trọng để chủ thể quản lí điều khiển chỉ đạo cũng như bắt buộc các đối tượng quản lí thực hiện các yêu cầu, mệnh lệnh của mình Quyền

uy được hình thành dựa trên uy tín, khả năng chuyên môn và các quan hệ xã hội khác

1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục

Để hiểu rõ hơn nội dung khái niệm quản lý giáo dục chúng ta phải hiểu thế nào là giáo dục?

Từ “giáo dục” dịch ra tiếng Anh “Education” Từ “giáo dục” trong tiếng Việt gồm từ “giáo” nghĩa là dạy dỗ, từ “dục” nghĩa là nuôi dưỡng Vậy từ “giáo dục” có nghĩa là dạy dỗ, nuôi dưỡng bao gồm trí – dục, thể - dục, đức – dục

Từ giáo dục xuất hiện trong xã hội loài người từ lâu, giúp loài người phát triển hơn so với các loài động vật khác Giáo dục giúp con người có trí tuệ cũng như giảm bớt được tính bản năng của loài nên tiến hóa hơn so với các loài động vật khác trên Trái đất Ngày này nhiều nước trên thế giới thừa nhận quyền được giáo dục của mỗi người Liên Hiệp Quốc ban hành Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, Xã hội và Văn hóa trong Điều 13 vào năm 1966 có nội dung công nhận quyền giáo dục cho tất cả mọi người

Trong thực tế hầu hết các quốc gia, trẻ trong độ tuổi nhất định thường bắt buộc phải tới trường Ngày nay, hình thức giáo dục có nhiều thay đổi so với trước, đặc biệt

ở các nước phát triển, cha mẹ có thể chọn cho con học ở nhà, học từ xa, học trực tuyến… đều được chấp nhận giá trị bằng cấp đạt được như nhau

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viên ngôn ngữ học đưa ra khái niệm giáo dục

“Hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra” [53]

Từ khái niệm trên có thể xem xét giáo dục theo các khía cạnh sau:

Về bản chất: Giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ Thế hệ trước truyền đạt các kinh nghiệm lịch sử - xã hội cho thế hệ sau và thế hệ sau lĩnh hội các kinh nghiệm đó để tham gia vào đời sống xã hội, lao động sản xuất và các hoạt động khác Sự truyền đạt và lĩnh hội các kinh nghiệm đã được tích luỹ trong quá trình lịch sử phát triển của xã hội loài người là nét đặc trưng cơ bản của giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội

Trang 24

Muốn duy trì xã hội tiến bộ, thế hệ sau phải lĩnh hội tất cả những kinh nghiệm lịch sử - xã hội mà thế hệ trước đã tích luỹ và truyền đạt đồng thời làm phong phú thêm các kinh nghiệm đó

Về hoạt động: Giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất và năng lực cần thiết

Về phạm vi: Giáo dục bao hàm nhiều cấp độ:

Ở cấp độ rộng nhất: Giáo dục là quá trình hình thành nhân cách dưới ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan, có ý thức và không ý thức Đó là quá trình xã hội hoá con người

Ở cấp độ thứ hai: Giáo dục là hoạt động có mục đích của xã hội với nhiều lực lượng giáo dục tác động có kế hoạch, có hệ thống tới con người nhằm hình thành nhân cách Đó là giáo dục xã hội

Ở cấp độ thứ ba: Giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có phương pháp của các nhà sư phạm trong nhà trường tới học sinh, sinh viên (HSSV) nhằm giúp họ nhận thức, phát triển trí tuệ và hình thành phẩm chất nhân cách Ở cấp độ này, giáo dục bao gồm quá trình dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp Ngày nay, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, người ta hiểu giáo dục là cho tất cả mọi người được thực hiện ở bất

cứ không gian và thời gian nào thích hợp với từng loại đối tượng, bằng các phương tiện dạy học khác nhau, với các kiểu học tập đa dạng và linh hoạt, thích ứng với mọi biến đổi

Về quản lý giáo dục cho đến nay có nhiều định nghĩa khác nhau của các tác giả trong và ngoài nước như:

- Nhà lý luận giáo dục người Nga P.V.KuĐôMinxky cho rằng: Quản lý giáo dục

là tác động hệ thống có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau để tất cả các khâu của hệ thống từ Bộ Giáo dục và Đào tạo đến nhà trường, nhằm đảm bảo giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ

- Nhà quản lý giáo dục người Anh M.M.Mechti thì cho rằng: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp, cán bộ giáo duc, kế hoạch hóa… nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục đảm bảo sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng và chất lượng

- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì cho rằng: “Quản lý giáo dục là hệ thống

những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái về chất”.[36]

- Còn theo Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý giáo dục là những tác động có hệ

thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lí ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành

Trang 25

nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực trẻ em”.[26]

- Từ những định nghĩa trên cho ta thấy: QLGD là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động GD nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục đề ra Trong đó:

+ Chủ thể QL: Đội ngũ CBQL của các cấp

+ Khách thể QL: Các trường học trong hệ thống giáo dục quốc dân

+ Quan hệ QL: Đó là những mối quan hệ giữa người học và người dạy, quan hệ giữa người quản lý và người dạy, người học; quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội + Các thành tố đó là: Mục tiêu giáo dục; nội dung giáo dục; phương pháp giáo dục; lực lượng giáo dục (người dạy); đối tượng giáo dục (người học), phương tiện giáo dục (điều kiện)

Như vậy, từ những phân tích trên có thể khái quát QLGD như sau: Quản lý giáo

dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ

sở giáo dục nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra

1.2.3 Khái niệm quản lý nhà trường

- Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý nhà trường phổ thông là quản lý dạy và

học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác, để dần tới mục tiêu giáo dục”.[7]

- Theo tác giả Lê Văn Giang cho rằng: "Quản lý nhà trường là hệ thống những

tác động có hướng đích của Hiệu trưởng đến con người như giáo viên, cán bộ, nhân viên và học sinh; đến nguồn lực như có sở vật chất, tài chính, thông tin , hợp quy luật: Quy luật quản lý, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý, quy luật kinh tế, xã hội nhằm đạt mục tiêu giáo dục" [21]

Như vậy, từ những quan điểm trên của các tác giả về quản lý nhà trường ta có thể

hiểu: Quản lý nhà trường là những hoạt động của chủ thể QL nhà trường (Hiệu

trưởng) đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường

Trường học với tư cách là một tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang tính giáo dục vừa mang tính xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, là tế bào quan trọng của bất kỳ hệ

thống giáo dục nào từ Trung ương đến địa phương Như vậy “Quản lý nhà trường”

chính là bộ phận của “Quản lý giáo dục” Có thể thấy công tác quản lý trường học bao gồm xử lý các tác động qua lại giữa trường học và xã hội đồng thời quản lý chính nhà trường Người ta có thể phân tích quá trình giáo dục của nhà trường như một hệ thống gồm 6 thành tố sau: 1 Mục đích yêu cầu, 2 Nội dung giáo dục, 3 Phương pháp giáo dục, 4 Thầy giáo, 5 Học sinh, 6 Cơ sở vật chất và các phương tiện, thiết bị phục vụ

Trang 26

cho giáo dục Các thành tố này được chia ra làm 3 loại: Thành tố con người, thành tố tinh thần và thành tố vật chất

1.2.4 Khái niệm về bạo lực học đường

1.2.4.1 Bạo lực

Có những cách hiểu khác nhau về bạo lực, dưới góc độ theo từ điển Tiếng Việt

của Viện Ngôn ngữ học thì hiểu: “Bạo lực là sức mạnh dùng để chỉ sự cưỡng bức, trấn

áp hoặc lật đổ”.[35] Theo từ điển Anh - Việt: “Violence” dịch sang tiếng Việt là “bạo

lực, sự cưỡng bức, sự dữ dội, sự mãnh liệt, tính hung dữ”

Từ hai khái niệm trên cho ta thấy bạo lực đó là những hành động mang tính chất chiếm đoạt làm tổn thương đến người khác và bị pháp luật trừng phạt Nói cách khác,

đó chỉ là khái niệm được hiểu theo nghĩa hẹp của bạo lực Ngày nay, quan điểm về bạo lực không chỉ giới hạn ở những hành động làm tổn thương đến thể chất mà còn xét cả

ở những hành động làm tổn thương đến tinh thần của người khác trong gia đình và

ngoài xã hội Từ đó, bạo lực chúng ta có thể hiểu như sau: Bạo lực là dùng sức mạnh,

quyền lực, lời nói hay các hành động để cưỡng bức, trấn áp, đe dọa, hành hung…làm tổn thương đến thể chất, tinh thần của người khác và không có sự chấp nhận của người đó

1.2.4.2 Bạo lực học đường

Bạo lực học đường đây là một vấn nạn của của mỗi quốc gia và được nhiều quốc gia quan tâm giải quyết Theo nghiên cứu về bạo lực học đường ở nhiều quốc gia, bên cạnh thuật ngữ bạo lực học đường, người ta thường nói đến thuật ngữ bắt nạt học đường Bắt nạt học đường cũng là một phần của bạo lực học đường và thậm chí nhiều lúc người ta còn đồng nhất giữa bắt nạt học đường và bạo lực học đường

Dan Olweus, trong cuốn sách “Bắt nạt trong trường học, chúng ta biết gì và

chúng ta có thể làm gì” đã đưa ra định nghĩa theo một cách chung nhất, bắt nạt trong trường học như một “hành vi tiêu cực được lặp đi lặp lại, có ý định xấu của một hoặc nhiều học sinh nhằm trực tiếp chống lại một học sinh, người có khó khăn trong việc tự bảo vệ bản thân” [23]

Theo tác giả Roberts Filman thì cho rằng: "Bạo lực học đường là hành vi lệch

chuẩn của học sinh, là hành vi đi ngược lại các quy tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội, nội quy của nhà trường mà các em là thành viên" [40]

Tác giải Đỗ Thị Nga thì cho rằng BLHĐ là những hành vi cố ý, sử dụng vũ lực, quyền uy của học sinh hoặc giáo viên đối với những học sinh, giáo viên hoặc những

người khác và ngược lại “Đó có thể là những hành vi bạo lực về thể xác, bạo lực về

tinh thần, bạo lực về tình dục, bạo lực ngôn ngữ, những bắt ép về tài chính hoặc những hành vi khác có thể gây ra những tổn thương về mặt tinh thần hoặc thể xác của người bị hại".[18]

Qua nghiên cứu những quan điểm trên về BLHĐ chúng ta thấy phạm vi của BLHĐ rất rộng, bao gồm cả phạm vi trong và ngoài trường; xảy ra giữa HS với HS,

Trang 27

HS với giáo viên,… Theo chúng tôi thì bạo lực học đường là hành vi xâm hại có chủ ý, dùng quyền y, vũ lực xâm phạm về phẩm chất và tinh thần đối với cán bộ, giáo viên, học sinh trong và ngoài nhà trường, thường gây ra những hậu quả nghiêm trọng Nếu nhìn từ góc độ lấy học sinh làm trung tâm thì bạo lực học đường là sự xâm hại của học sinh đối với học sinh, sự xâm hại của học sinh đối với người bên ngoài nhà trường và ngược lại, là sự xâm hại của giáo viên đối với học sinh và ngược lại

1.2.4.3 Các loại hành vi bạo lực học đường

và cả với những người ngoài trường học Các hành vi bạo lực thể xác không chỉ dừng lại ở mức độ đấm đá, cào cấu, ẩu đả mà có lúc đã tới mức dùng những vũ khí nguy hiểm như dao, kiếm, ống tuýp nước… để đánh đấm, chém giết nhau Chính vì thế, hậu quả của những hành vi bạo lực về thể xác ở học đường hiện nay không chỉ dừng lại ở thương tích mà còn cướp đi sinh mạng của những học sinh vô tội

- Bạo lực tinh thần

Bạo lực tinh thần có thể hiểu là những hành động như: cấm đoán, xua đuổi, cô lập không cho tiếp xúc với người khác; quấy rối và gây áp lực một cách thường xuyên

về tâm lý gây ra những hậu quả nghiêm trọng về mặt tinh thần [10]

Ở trường học, bạo lực tinh thần thể hiện ở những hình thức như: xa lánh và lôi kéo các bạn khác cùng xa lánh, không chơi với một bạn khác, nói xấu bạn để những người khác tẩy chay bạn, tạo cho người bạn đó cảm giác bị cô lập và lâu dài có thể dẫn đến tình trạng trầm cảm Hoặc cũng có thể là dùng lời lẽ đe dọa, chọc ghẹo hay những hành động quấy rối khác làm cho nạn nhân cảm thấy bất tiện, căng thẳng, lo lắng, sợ hãi

Còn một phương tiện nữa, mang tính chất bạo lực về tinh thần, đó là sử dụng điện thoại di động để ghi hình vụ hành hung, sau đó đưa lên mạng Internet Với cách làm này những nạn nhân bị bạo lực học đường sẽ cảm thấy xấu hổ khi có nhiều người biết đến với hình ảnh “thấp kém”, bị bạn bè bắt nạt Cảm giác “xấu hổ” đó có thể làm cho nạn nhân mất tự tin, cô lập mình và cũng có thể gây ra nhưng hành vi phản ứng với tính chất “trả thù” Thông qua số lượng các video clip xuất hiện trên mạng, chúng

ta có thể thấy cách thức này ngày càng được sử dụng phổ biến

Hiện nay các hành vi bạo lực tinh thần chưa được nhiều người quan tâm đúng mức cũng như chưa nhận thức được đó là một hình thức bạo lực cần lên án Đặc biệt đối với học sinh, đó có thể chỉ là cách cư xử được các em xem là “bình thường” để thể

Trang 28

hiện thái độ của mình đối với bạn và cũng có thể là để “tẩy chay” bạn nhưng các em cũng không nhận thức được đó là hành vi bạo lực có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng về mặt tinh thần

- Bạo lực ngôn ngữ

Theo định nghĩa của Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, hành vi ngôn ngữ là một đoạn lời nói có tính mục đích nhất định được thực hiện trong những điều kiện nhất định [12] Như vậy, hành vi bạo lực ngôn ngữ có thể được hiểu là hành vi sử dụng lời nói để lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc dùng để đe dọa, bắt ép người khác Đó là việc đặt cho bạn những tên gọi phản cảm hay những câu đùa thô bạo, loan truyền các câu chuyện chế nhạo, dùng lời lẽ đe dọa và xúc phạm bạn bè Không chỉ giữa những học sinh với nhau mà hành vi bạo lực ngôn ngữ ở các giáo viên sử sụng để “dạy” học sinh cũng không phải là ít Thực tế giáo dục hiện nay cho thấy hiện tượng GV chửi mắng, xúc phạm HS vẫn còn tồn tại ở những mức độ khác nhau và chưa được quan tâm đúng mức Dẫn lời một bài báo điện tử: Có giáo viên chỉ cần học sinh trái ý, sơ ý là mắng mỏ nặng nề Thậm chí có một số giáo viên mắc “bệnh thích chửi” HS nói chuyện bị mắng đã đành, HS ngồi yên lặng quá cũng bị mắng; chỉ cần HS có một lỗi nhỏ là GV “giảng” cả tiết dạy, đến lớp nào cũng to tiếng quát mắng học sinh Có GV bức xúc chuyện gia đình, xã hội, biến HS trở thành nơi để xả những bức xúc Có những GV làm HS nghe đến tên là sợ

Hậu quả của kiểu “bạo hành bằng ngôn ngữ” trong nhà trường hết sức nặng nề

Nó làm méo mó hình ảnh người GV, hạ thấp “tầm” của người GV trong mắt HS, đầu độc môi trường giáo dục, phá hoại mối quan hệ tốt đẹp trong nhà trường HS bị tổn thương nặng nề, dai dẳng, ức chế, nhiều em trở nên chai lì và có thể có những phản ứng tiêu cực

Bạo lực ngôn ngữ cũng chưa được nhiều người quan tâm, thậm chí vài người còn xem đây là một cách tránh rắc rối vì bạo lực bằng lời không để lại những vết thương bằng da bằng thịt Nhiều người đã không nhận thức được hậu quả mà những hành vi bạo lực ngôn ngữ có thể gây ra Đặc biệt nhất là hậu quả về mặt tinh thần, những hành

vi ngôn ngữ thô bạo có thể làm cho người khác luôn có cảm giác lo lắng, sợ hãi, căng thẳng, đặc biệt nếu bị xúc phạm quá mức, nó sẽ kéo theo hậu quả là những hành vi bạo lực về thể xác

- Bắt ép về tài chính

Bắt ép hay bạo lực về tài chính có thể hiểu là những hành vi nhằm mục đích ép buộc người khác phải lệ thuộc về tài chính hoặc điều khiển vấn đề tài chính của họ Ở các trường học, các hành vi bắt ép tài chính diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau như: trấn lột tiền của bạn, bắt ép bạn khác phải mua những đồ dùng học tập hoặc “cống nạp” những đồ dùng học tập họ có hoặc có thể là bắt ép bạn phải mua đồ ăn sáng, đồ ăn vặt… Ngoài ra, còn có hình thức bắt ép theo kiểu xã hội đen, để khỏi bị kẻ khác ăn hiếp, nhiều

Trang 29

em phải đưa tiền cho nhóm “cầm đầu” để được “bảo kê”, che chở Có em không có tiền phải đi vay tiền bạn bè để “chung” đúng hẹn

Ngoài ra còn có một số hình thức “trấn lột” gián tiếp như: lấy ba lô, sách vở của bạn rồi ép bạn đưa tiền đến chuộc hoặc vay mượn đồ dùng, tiền của bạn đến khi được yêu cầu hoàn trả thì giả vờ không biết, nếu chủ nhân lên tiếng thì các hình thức chơi ép phe bắt đầu xuất hiện Họ đi gieo rắc vào đầu những bạn ủng hộ mình những ý nghĩ xấu về nạn nhân, xuyên tạc sự thật, sau đó lại đòi giúp đỡ và nếu người nghe không biết làm gì để giúp thì “tẩy chay” đối tượng Nạn nhân sẽ rất khổ sở và cảm thấy đơn độc khi tất cả đều chống đối mình và không có ai bên cạnh Đó như là một kiểu vừa bạo hành tài chính vừa bạo hành tinh thần

Hiện tượng trấn lột, cưỡng đoạt tài sản có HS tham gia (chủ yếu HS cấp II, cấp III) đang là vấn đề nhức nhối hiện nay Nhiều HS bị các đối tượng xấu lôi kéo vào băng cướp giật Có em không trực tiếp tham gia nhưng làm “chỉ điểm” cho các đối tượng ngoài xã hội trấn lột, cướp tài sản của HS khác

Hậu quả của bạo lực tài chính là gây ra những tổn hại về mặt tài chính cho nạn nhân Không chỉ dừng lại ở mức độ đồ dùng học tập, tiền ăn sáng không đáng kể mà

đã có nhiều vụ bắt ép tài chính làm thiệt hại lên đến hàng chục, hàng trăm triệu đồng Gần đây, một học sinh tại TPHCM đã bị một nhóm học sinh bắt ép, trấn lột khoản tiền lên đến 104 triệu đồng Không những thế, hành vi bạo lực tài chính còn để lại những hậu quả về mặt tinh thần Các nạn nhân bị bạo lực tài chính sẽ sống trong cảm giác lo lắng, sợ hãi Lo lắng sẽ bị bắt ép nhiều lần, lo lắng nếu không đáp ứng yêu cầu của những kẻ bắt ép sẽ phải chịu những hậu quả khác, lo lắng vì sợ gia đình biết… Cũng

có thể nạn nhân sẽ nảy sinh cảm giác thù hận và đưa tới những hành vi bạo lực khác

- Bạo lực về tình dục

Người ta gọi những hành vi quấy rối tình dục là hành vi thỏa mãn tình dục mà không được sự đồng ý của đối phương, biểu hiện bằng những lời nói bóng gió, bình luận có liên quan đến tình dục; lời đánh giá về khả năng tình dục của ai đó; trưng bày, gửi ảnh, liếc mắt đưa tình hay nhìn chằm chằm vào vùng nhạy cảm của phụ nữ; động chạm, sờ mó, véo trên cơ thể người khác mà không được sự đồng ý của nạn nhân Hành vi tình dục ở đây có thể hiểu rộng hơn là lời nói, là sự đụng chạm vào thân thể người khác Những hành vi như vậy cũng có thể được coi là bạo lực về tình dục Hoặc

có thể hiểu bạo lực tình dục là những hành vi bắt ép người khác phải thỏa mãn nhu cầu tình dục của mình Ở chốn học đường người ta thường nhắc tới nhiều hơn đến việc các thầy giáo bắt ép học sinh phải có quan hệ tình dục để đổi lấy những điểm số ưng ý Ngoài ra cũng có những hành vi hiếp dâm của một số thầy giáo suy đồi về mặt đạo đức đối với học sinh Gần đây báo chí đã nói tới không ít những vụ hiếp dâm của những thầy giáo dạy tiểu học đối với những học sinh mới chỉ học lớp 2, lớp 3, gây bức xúc trong dư luận

Trang 30

Ở Trung Quốc một cuộc điều tra vào năm 2002 của Đoàn thanh niên cộng sản ở Thượng Hải đối với 466 học sinh nam và 545 học sinh nữ thì 10,3% trong số đó phải chịu sự quấy rối tình dục từ giáo viên, với 43% không chắc chắn liệu một số tiếp xúc

cơ thể và những lời nói khiêu khích của giáo viên có được coi là quấy rối hay không Còn tại Việt Nam, những con số về bạo lực tình dục cũng không phải là ít "Gần 16% các thiếu nữ bị quấy rối tình dục ngay tại học đường; 4,3% số em đã bị ép quan

hệ tình dục trong vòng 12 tháng trở lại đây, nhưng chỉ 10% chia sẻ điều đó với bố mẹ, thầy cô, 70% thì giấu kín" - là công bố mới nhất của Trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng khoa học về giới - gia đình - phụ nữ - vị thành niên

Tại các trường THPT Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang; THPT Hồng Đức, thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh và THPT Trần Hưng Đạo, Quận Gò Vấp, TP.HCM - nơi tiến hành nghiên cứu, gần 50% số HS được khảo sát cho biết, đã bị ép buộc từ một - ba lần và 18,2% số em bị cưỡng ép đến 10 lần Nạn nhân đa phần là nữ - chiếm 79,2%, nam chiếm 20,8% Các em bị quấy rối tình dục từ rất sớm, nhiều nhất là

từ 14-16 tuổi (69,2%), có những em là nạn nhân của những hành vi sàm sỡ từ bảy - chín tuổi

Theo nhóm nghiên cứu, những hành vi như dùng từ ngữ tán tỉnh, mang tính gợi dục; gửi thư với ngôn từ sex; đưa cho xem những hình ảnh khiêu dâm; chạm vào những bộ phận cơ thể; đeo bám theo khi đi học và gợi ý quan hệ tình dục đã được chính các em HS coi là hành vi quấy rối tình dục mà các em từng vấp phải Thủ phạm được các em nhắc tới có đến 46% là người quen biết (thầy giáo, bạn bè, hàng xóm, họ hàng, khách của gia đình) và 54% là người các em không hề quen biết

Những con số nêu trên cho ta thấy được một thực trạng đáng báo động về bạo lực tình dục đối với học sinh hiện nay Hậu quả của những hành vi quấy rối, bạo lực tình dục thường là những hậu quả nặng nề về mặt tinh thần Một khi các em chưa có tâm lý sẵn sàng cho những hành vi tình dục hay bị người khác ép buộc, các em sẽ bị hoảng sợ,

lo lắng Khi hành vi đã xảy ra, thường các em không dám thổ lộ với người khác, điều

đó lại làm cho cảm giác lo lắng, sợ hãi tăng lên, nhiều em có thể hoảng loạn về mặt tâm lý, trầm uất hoặc có xu hướng muốn tự tử hay tự hủy hoại mình, lệch lạc về giới tính, ác cảm về vấn đề tình bạn – tình yêu hay nhận thức sai lầm về cuộc sống, hoặc đi tìm sự quên lãng trong những tệ nạn khác Đặc biệt khi quan niệm đạo đức vẫn còn nặng nề về “trinh tiết” người phụ nữ thì hậu quả tinh thần của những hành vi bạo lực tình dục tại học đường càng nặng nề hơn Bởi vì nỗi lo lắng về sự kì thị của xã hội, lo lắng về tương lai, sự xấu hổ trước chuẩn mực đạo đức xã hội… làm cho nạn nhân chịu một áp lực tinh thần rất lớn Đó là chưa kể tới những tổn thương về mặt thể xác nếu bị bạo lực tình dục nặng nề Chính vì thế, việc trang bị cho học sinh những kỹ năng tự bảo vệ mình là hết sức quan trọng Phụ huynh và nhà trường là hai kênh thông tin quan trọng nhất về giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản, nhưng hiện hai kênh này chưa phát huy được vai trò của mình Do đó, nên có nhiều chương trình ngoại khóa về kỹ

Trang 31

năng sống, sức khỏe sinh sản cho HS và cả giáo viên, phụ huynh Người lớn cần gần gũi, chia sẻ và nhạy cảm nhận biết những biểu hiện khác lạ của trẻ vị thành niên trước khi quá muộn

- Một số loại hành vi bạo lực khác

Ngoài những hành vi bạo lực trên còn có một số hành vi khác cũng có thể được xem như là hành vi bạo lực học đường như: hành vi bạo lực bằng hình ảnh: Bắt chước những cử chỉ điệu bộ, giao tiếp bằng vẻ mặt không thân thiện, châm chọc qua các hình ảnh, tranh, hình vẽ…

Một “trò chơi” thiếu lành mạnh được một số học sinh thực hiện như: Bốc thăm tụt quần cũng có thể được xem là hành vi bạo lực tinh thần Để “tiêu khiển”, một nhóm

nữ sinh của một trường thuộc quận nội thành TPHCM đã có “sáng kiến” bốc thăm hễ nam sinh nào có mã số trên bảng tên trùng với lá thăm thì tụt quần ngay giữa trường học Hậu quả là nạn nhân của trò chơi này sẽ cảm thấy xấu hổ và có cảm giác bị xúc phạm Nhiều học sinh vì sự xấu hổ đó mà sống thiếu tự tin, tự cô lập bản thân, nếu tình trạng đó kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng trầm uất, khủng hoảng về tâm lý

Tóm lại, bạo lực học đường đang thể hiện với nhiều hình thức khác nhau Nhưng

dù ở hình thức nào thì nó cũng để lại những hậu quả cho học sinh cả về mặt thể chất, tinh thần lẫn cảm xúc và tâm lý xã hội

1.3 Lý luận về hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho học sinh trung học cơ sở

1.3.1 Nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường cho học sinh trung học cơ sở

- Do các vấn đề tâm lý lứa tuổi đặc biệt đối với học sinh mới lớn, tuổi vị thành niên, đặc điểm tâm sinh lý thay đổi

Phần lớn học sinh Trung học phổ thông đều mong muốn được khẳng định cái “ Tôi” của mình trong quan hệ với bố mẹ và những người thân trong gia đình Ở lứa tuổi này tự ý thức và nhu cầu độc lập phát triển mạnh mẽ do đó các em bắt đầu nhận thức được quyền của mình trong việc sử dụng thời gian, cách thức học tập, tự mình chăm sóc cuộc sống của bản thân, trong việc chọn bạn và thể hiện quan điểm riêng của mình

về tình bạn, tình yêu…Có thể nói, tự khẳng định bản thân trong quan hệ gia đình là một nhu cầu tích cực của học sinh trung học phổ thông, thể hiện mong muốn khẳng định cái” Tôi” của bản thân theo hướng thay đổi vai trò và mối quan hệ trong gia đình, các em mong muốn được tự khẳng định bản thân mình theo hướng tự chịu trách nhiệm, tự quyết định cho những việc làm của mình do đó cha mẹ và những người lớn trong gia đình nên hiểu được đặc điểm tâm lý đặc trưng của lứa tuổi này Sự quan tâm của cha mẹ như động viên, khích lệ, khuyến khích con cái, quan tâm tới đời sống tâm

lý và đời sống tinh thần của con cái giữ vai trò rất quan trọng đối với các em Nếu định hướng tốt các em sẽ phát triển theo hướng tích cực, phát huy được những mặt tốt, hạn chế những mặt chưa tốt

Trang 32

- Sự giáo dục chưa đúng đắn, thiếu sự quan tâm của gia đình

Hiện nay, do ảnh hưởng của văn hóa, giáo dục kiểu cũ về sự phát triển cơ chế thị trường mà nhiều bậc cha mẹ mải mê làm ăn, chạy theo kinh tế, ít để ý quan tâm và giành thời gian cho con em, giao phó con cái cho nhà trường Tình trạng bạo lực trong gia đình cũng là một phần nhân tố ảnh huởng không tốt và một khi bạo lực gia đình vẫn còn tồn tại thì bạo lực học đường sẽ vẫn còn nguy cơ gia tăng

Gia đình là môi trường, yếu tố có mức độ ảnh hưởng và tác động mạnh nhất đến định hướng giá trị nhân cách của học sinh trung học phổ thông Gia đình là nơi diễn ra những mối quan hệ xã hội hàng ngày của con người, những mối quan hệ trực tiếp giữa đứa trẻ và cha mẹ là những tác động qua lại, đầu tiên trong đời sống xã hội của đứa trẻ Trong gia đình, các em nhận được những kinh nghiệm và kỹ năng sống ban đầu, gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên và là môi trường giáo dục ban đầu, thân thiết của con người Theo các nhà nghiên cứu, có tới 86% số học sinh cho rằng các em học hỏi

và tiếp nhận những kỹ năng sống, cách giao tiếp, cách ứng xử xã hội từ bố mẹ và các thành viên trong gia đình Tuy nhiên, hiện nay nhiều bậc cha mẹ và những người lớn trong gia đình thường ít dành thời gian dạy và trang bị cho các em những kỹ năng sống cần thiết, ngay cả những kỹ năng tự chăm sóc và tự phục vụ bản thân mình Nhiều gia đình còn bao bọc, chăm lo quá mức làm cho học sinh bị động, thụ động trong cuộc sống xã hội

Các hình thức giáo dục con cái trong gia đình có ảnh hưởng trực tiếp đến định hướng giá trị nhân cách của học sinh trung học phổ thông Các hình thức như động viên, khen thưởng, nhắc nhở, phê bình, cho con tự quyết định một số công việc rất có hiệu quả và tác dụng tích cực đối với các em nhưng nhiều bậc cha mẹ lại dùng các hình thức như mắng mỏ, roi vọt, nhiếc móc…và ít dành thời gian quan tâm tới con cái Nếu các em sống trong gia đình mà cha mẹ có những biện pháp giáo dục thiếu khoa học thường bạo lực, độc đoán, lạnh lùng, thiếu sâu sát, quan tâm…; gia đình mà cha

mẹ có những hành vi lệch chuẩn, thường xuyên mắng chửi, đánh đập con cái và người khác thì nhân cách của các em cũng thiên lệch về sự phát triển lệch lạc v.v

- Do ảnh hưởng từ môi trường như do phim ảnh, sách báo, đồ chơi và những trò chơi mang tính bạo lực

Trong quá trình hội nhập, bên cạnh những tác động tích cực của kinh tế, văn hóa,

xã hội cũng không tránh khỏi những tác động tiêu cực sự độc hại tràn vào làm vẩn đục làm cho môi trường văn hóa xã hội bị tác động

Bên cạnh đó công tác định hướng, triển khai, tổ chức thực hiện giáo dục chưa tốt

và các văn bản pháp quy, các quy định về hành vi ứng xử chưa chặt chẽ cũng làm trầm trọng thêm vấn nạn bạo lực học đường Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, thế

hệ trẻ đang bị đầu độc bởi ma lực của những trò chơi chém giết trong game online, đồng thời cũng bị “nhiễm khuẩn” từ những cảnh bạo hành trong gia đình và xã hội Chính người lớn góp phần không nhỏ làm tăng thêm tính hung hãn, côn đồ của trẻ

Trang 33

Thời gian qua, nạn bạo lực học đường mà điển hình là một số học sinh đánh nhau gây xôn xao dư luận có việc bắt chước các hình mẫu Trong khi đó, qua nghiên cứu cho thấy hình mẫu của các em hầu hết là ở trong các trò chơi game Theo kết quả kiểm tra của Bộ văn hóa thông tin và du lịch cho thấy: 77% trò chơi game hiện nay là đánh nhau, giết người; 9% là cờ bạc; chỉ có 14% là có yếu tố tích cực Tỷ lệ chơi game của các cấp học là: Tiểu học có 2/3 số học sinh chơi game; THCS là 81%; Đại học 75% Đây là yếu tố tạo nên xu hướng bạo lực Nhiều người cho rằng bạo lực học đường xuất phát từ game online Học sinh ngày nay tiếp cận những phương tiện giải trí như game online không xa lạ gì những cảnh bạo lực từ trò chơi này, toàn những cảnh đấm đá man rợ mà các em là người nhập vai Khi đối diện với những cảnh rùng rợn khuôn mặt các em tỏ hân hoan, thỏa mãn Các game bạo lực này đang dần phá hủy tâm hồn và nhân cách các em, biến các em thành những con người dữ tợn

- Giáo dục trong nhà trường nặng về dạy kiến thức văn hóa, chưa chú trọng nhiệm vụ giáo dục đạo đức, hành vi cho người học

Xu hướng trong các nhà trường hiện nay vẫn còn coi trọng dạy chữ hơn dạy người, các em gần như phải học cả ngày, dưới áp lực của thi cử và các chỉ tiêu nhà trường đặt ra mà thường là chỉ tiêu về chất lượng học lực đã làm cho giáo viên phải đầu tư nhiều vào việc truyền thụ kiến thức văn hóa nên còn rất ít thời gian cho giáo dục đạo đức, giáo dục hành vi cho học sinh, học sinh thường căng thẳng, mệt mỏi chán chường, sợ học và giảm hứng thú khi đến trường nên hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng sống cho các em còn nhiều hạn chế

- Một số công tác giáo dục của thầy cô chưa đáp ứng được yêu cầu đạo đức nhà giáo

Tuy không nhiều nhưng trong đội ngũ giáo viên, tình trạng ngược đãi học sinh đã xảy ra, có những thầy cô dùng roi vọt, bạo hành bằng lời nói và hành động với quan niệm “ Thương cho roi cho vọt” khiến học sinh sợ hãi, bức xúc Chuyện giáo viên xúc phạm, lăng mạ, thậm chí đánh trượt học sinh không phải là hiếm cho thấy những biểu hiện của sự xuống cấp đạo đức nghề nghiệp của một số giáo viên Những vụ việc đó mang tính chất vô nhân tính, gây sự hoang mang phẫn nộ và bất bình trong dư luận xã hội Năm 2010 dư luận xôn xao và bất bình trước trường hợp ở một trường Trung học phổ thông ở Hải Phòng, một giáo viên đã dọa nạt, mắng học sinh trong vòng 18 phút với những ngôn từ khiếm nhã, thiếu văn hóa, xúc phạm học sinh khi học sinh phản hồi

về việc cô phát âm chưa chuẩn trong giờ tiếng anh Cũng không ít những giáo viên thường áp đặt học sinh, buộc học sinh phải tuân thủ tuyệt đối ý kiến của mình làm cho các em thụ động trong nhận thức, không có thiện cảm với giáo viên từ đó nảy sinh tâm

lý không muốn học quay ra quậy phá … Và gần đây nhất là vụ cô giáo trường tiểu học Quán Toan, quận Hồng Bàng, thành phố Hồng Bàng đã có hành vi bạo lực đối với hàng loạt các em học sinh trong giờ kiểm tra học kì II Điều đó chứng tỏ đạo đức của một số nhà giáo đang dần bị xuống cấp

Trang 34

Thực tế cho thấy có nhiều bất cập trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về pháp luật cho đối tượng học sinh Trong nhà trường, hiện chưa có một chương trình giáo dục pháp luật như một môn học Kiến thức giáo dục pháp luật được lồng ghép trong các môn học hoặc các hoạt động ngoại khóa của học sinh Công tác tuyên truyền hời hợt, chưa có chiều sâu nên hiệu quả và sức tác động tới học sinh bị hạn chế Nhận thức của nhiều học sinh về các vấn đề pháp luật vì thế còn khá mơ hồ, xem nhẹ

- Học sinh hiểu biết về pháp luật còn mơ hồ

Lứa tuổi học sinh THCS do thiếu hiểu biết về pháp luật nên các em không nhận thức được những hành vi sai trái dẫn đến việc xuống cấp đạo đức của một bộ phận học sinh hiện nay Một số xu hướng bạo lực từ gia đình và thầy cô đã ảnh hưởng tới cách hành xử của học sinh với bạn bè và những người xung quanh

1.3.2 Mục tiêu giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho học sinh trung học cơ sở

Giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường THCS nhằm mục đích ngăn chặn GV và HS có những thái độ, hành vi sai lệch với chuẩn mực xã hội, giữ cho môi trường giáo dục lành mạnh, nhằm thực hiện phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" đạt hiệu quả, góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước Giáo dục phòng ngừa giáo bạo lực học đường ở các trường THCS nhằm góp phần cho học sinh thấy được tác hại của việc gây lộn đánh nhau, có thái độ bất bình với hành động trên, đồng thời có ý thức đấu tranh với những hành vi sai trái, tích cực phát hiện những biểu hiện mất đoàn kết, thông tin kịp thời đến thầy cô, cha mẹ học sinh để ngăn ngừa không để tình trạng đánh nhau, mất đoàn kết xảy ra

Giáo dục phòng ngừa giáo bạo lực học đường ở các trường THCS góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong trường học, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, xây dựng mối quan hệ thầy - trò, trò với trò ngày càng gắn bó, thân thiết, trường học thật sự là "Trường học thân thiện, học sinh tích cực" để nhà trường hoàn thành mục tiêu giáo dục đề ra

Giáo dục phòng ngừa, bạo lực học đường cho học sinh ở các trường THCS sẽ giúp những học sinh có hành vi lệch chuẩn nhận thức được hành vi sai trái của mình,

tự giác sữa chữa lỗi lầm, hình thành những thái độ, hành vi hợp chuẩn Điều này mang lại lợi ích cho gia đình, nhà trường và xã hội bớt đi những bất ổn tiềm ẩn sau này Góp phần xây dựng niềm tin của phụ huynh học sinh, gia đình học sinh vào nhà trường Đồng thời phòng ngừa bạo lực học đường góp phần tạo niềm tin trong xã hội, bởi trật

tự, an toàn trong xã hội được bảo đảm, giảm đi nỗi bức xúc của dư luận, nhân dân tin tưởng ở môi trường giáo dục thân thiện, con người thực sự được rèn luyện trở thành người có tài, có đức, có nhân cách

Trang 35

1.3.3 Nội dung giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho học sinh trung học cơ sở

Nội dung giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường phải mang những kiến thức nhằm giúp cho học sinh tăng cường nhận biết các biểu hiện và nguyên nhân của bạo lực học đường nhất là trong giai đoạn tiền bạo lực phải chuẩn bị cho học sinh sẵn sàng

về tâm lý để đấu tranh chống lại bạo lực để có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu Nếu nhận thức đúng nó là cơ sở cho hành động đúng

Một số nội dung chính về công tác giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường:

- Nhận diện các hành vi bạo lực học đường dưới mọi hình thức

- Ý thức chấp hành pháp luật, nội quy

- Phối hợp với bạn bè, thầy cô giải quyết các mâu thuẫn có thể dẫn đến bạo lực học đường

- Xây dựng trường học thân thiện, đoàn kết giúp đỡ nhau

- Xây dưng mô hình đôi bạn cùng tiến

Hiện nay sự gia tăng về bạo lực học đường làm suy thoái nhân cách của một bộ phận giúp trẻ là thế hệ tương lai của đất nước Chính vì thế chúng ta phải có cách nhìn nhận toàn diện trong phòng chống bạo lực học đường để không ai đứng ngoài cuộc Công tác tuyên truyền về nguy cơ bạo lực học đường là rất cần thiết; nhà trường và các phương tiện truyền thông đóng vai trò đặc biệt quan trọng

1.3.4 Phương pháp giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho học sinh trung học cơ sở

Việc áp dụng các phương pháp giáo dục phòng ngừa BLHD cho học sinh ở trường THCS được thực hiện thông qua nhiều con đường, trong đó dạy học môn GDCD là một con đường quan trọng cụ thể như sau:

- Tranh luận trong quá trình dạy học: Trong quá trình dạy học pháp luật, có thể tổ chức cho HS được bày tỏ thái độ đồng tình hoặc phản đối đối với một số ý kiến, quan điểm, hành vi, việc làm có liên quan đến các quy định của pháp luật hoặc việc thực hiện pháp luật; sau đó tổ chức cho 2 nhóm tranh luận với nhau để bảo vệ hay bác bỏ các ý kiến, quan điểm, hành vi, việc làm đó Quá trình tranh luận về các vấn đề có liên quan đến bài học pháp luật như vậy sẽ giúp HS củng cố vững chắc hơn các kiến thức pháp luật đã học; đồng thời còn giúp các em phát triển tư duy phê phán, khả năng trình bày, lập luận logic và kĩ năng giao tiếp

- Phân tích các trường hợp điển hình: Đây là hình thức GV đưa ra (hoặc yêu cầu

HS nêu) các trường hợp điển hình, các hiện tượng, sự kiện trong đời sống thực tiễn của nhà trường, địa phương, đất nước có liên quan đến nội dung bài pháp luật và tổ chức cho HS cùng nghiên cứu, xem xét, phân tích, đánh giá dựa trên các câu hỏi gợi ý, hướng dẫn của GV Hình thức hoạt động này có ưu thế trong việc gắn bài học với thực tiễn cuộc sống của HS; giúp các em hiểu sâu sắc hơn, cụ thể hơn về các quy định của

Trang 36

pháp luật; đồng thời giúp các em phát triển tư duy phân tích, phê phán, óc sáng tạo, lòng tự tin và sự hứng thú trong học tập

- Tổ chức ngoại khóa để xử lí tình huống dẫn đến bạo lực: Đây là hình thức hoạt động GV đưa ra những tình huống dẫn đến mâu thuẫn cụ thể thường gặp phải trong đời sống hàng ngày và yêu cầu HS xác định cách giải quyết, xử lí tình huống đó

- Tư vấn pháp luật cho học sinh: GV có thể phân công một số HS (hoặc HS tự xung phong) nghiên cứu kĩ một nội dung của bài pháp luật, sau đó các em này sẽ đóng vai các “luật sư” để tuyên truyền, phổ biến và tư vấn, giải đáp các câu hỏi của các bạn

HS trong lớp đặt ra về nội dung pháp luật đó

Như vậy, phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường THCS phải được các CBQL trường học, các thầy cô giáo và học sinh chủ động tham gia tích cực và thường xuyên, được thực hiện mọi nơi, mọi lúc, đồng thời được các cấp, các ngành, các bậc phụ huynh học sinh phối hợp thực hiện Tập trung ở một số các phương pháp sau:

- Giảng giải cho học sinh nhận thức những hành vi xử sự đúng sai khi xảy ra va chạm, mâu thuẫn

- Đàm thoại trực tiếp giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với học sinh khi xảy ra mâu thuẫn

- Kể những câu chuyện về các tình huống có mâu thuẫn trong cuộc sống để học sinh tự rút ra bài học cho mình

- Nêu những gương tốt về hành vi phòng ngừa bạo lực học đường

- Khen thưởng những tập thể, cá nhân có việc làm tốt về phòng ngừa BLHĐ

- Có những kỷ luật nghiêm khắc đối với những HS có các HS BLHĐ, đồng thời cũng tạo điều kiện cho các em có cơ hội để sửa chữa khuyết điểm của mình

1.3.5 Hình thức giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho học sinh trung học cơ sở

- Thông qua việc dạy học các bộ môn khoa học cơ bản làm cho người được giáo dục tự giác chiếm lĩnh một cách có hệ thống những khái niệm đạo đức, nhân cách Các môn khoa học xã hội và nhân văn như: Văn học, Lịch sử, Giáo dục công dân,… có tiềm năng to lớn trong việc giáo dục nhân cách cho người học Những kiến thức các bộ môn khoa học này có liên quan đến nhận thức những chuẩn mực giá trị đạo đức và liên quan đến thái độ và cách ứng xử, hành vi trong phòng ngừa BLHĐ Các môn khoa học

tự nhiên cũng góp phần giáo dục nhân cách HS Nó có tác dụng giúp người học hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, những phẩm chất xã hội như: Con đường tư duy hợp lý, tác phong làm việc, coi trọng nhân cách và ý thức nâng cao kiến thức xã hội… Các môn khoa học khác như: Giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng… tạo cơ hội để người học phát triển những xúc cảm, rèn luyện ý chí kiên cường, lòng dũng cảm, những bổn phận và nghĩa vụ của người công dân, giảm thiểu các hành vi không đúng chuẩn mực xã hội

Trang 37

- Thông qua tiết dạy, giờ lên lớp, giáo dục công dân

- Thông qua giờ sinh hoạt tập thể, lao động tập thể Giáo dục tinh thần tập thể để học sinh với học sinh, học sinh với thầy cô hiểu nhau và thông cảm, chia sẻ cho nhau

- Thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp như các hoạt động đoàn thể và hoạt động xã hội Dựa vào đặc điểm tâm lý của học sinh là rất thích hoạt động, năng động

và hứng thú với các hoạt động phong trào, vì vậy cần phải tổ chức các hoạt động theo từng chủ đề, mang nội dung giáo dục và phù hợp với đặc điểm tâm lý của học sinh để lôi cuốn họ tham gia, thông qua đó giáo dục phòng ngừa BLHĐ cho học sinh Các hoạt động này được tổ chức bởi các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, bao gồm: Chính quyền, Đoàn thể, các câu lạc bộ,… Mỗi tổ chức đều có vai trò quan trọng trong việc giáo dục phòng ngừa BLHĐ cho học sinh

- Giáo dục phòng ngừa BLHĐ cho học sinh thông qua con đường tự rèn luyện, tự tu dưỡng, tự giáo dục của bản thân mỗi học sinh Mỗi học sinh từ chỗ là đối tượng của quá trình giáo dục phòng ngừa BLHĐ sẽ trở thành chủ thể của quá trình giáo dục phòng ngừa BLHĐ Đặc biệt đối với học sinh THCS, ở các em đã có những hiểu biết nhất định về những kiến thức tự nhiên, xã hội, về mối quan hệ giữa con người với con người thì nhà giáo dục cần khơi dậy và kích thích họ tự giác, tự giáo dục bản thân là chính

- Giáo dục phòng ngừa BLHĐ cho học sinh thông qua sự gương mẫu của người thầy Hình ảnh của những người thầy, cô trên bục giảng, trong những buổi sinh hoạt mang tính tập thể của nhà trường hoặc ngay trong đời sống hàng ngày và những ứng

xử trong các tình huống sư phạm có ý nghĩa giáo dục cho học sinh thiết thực nhất Chính vì vậy, mỗi thầy cô giáo phải thực sự là một tấm gương sáng về đạo đức cho học sinh noi theo

Các hình thức tổ chức giáo dục phòng ngừa BLHĐ nói trên muốn đạt kết quả phải được thực hiện với sự phối hợp hài hoà Các lực lượng giáo dục phải thực sự quan tâm và thực hiện theo đúng chức năng và nhiệm vụ của mình Trong đó, giáo dục cho học sinh tự giác thực hiện việc tự giáo dục là hình thức cơ bản Có như vậy những mục tiêu của giáo dục phòng ngừa BLHĐ mới đạt kết quả cao

1.3.6 Các lực lượng tham gia công tác giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường

Công tác giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường có liên quan đến nhiều cá nhân, tổ chức trong và ngoài nhà trường Mỗi tố chức, cá nhân có ảnh hưởng đến hoạt động này Chính vì vậy để nâng cao công tác giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường đạt hiệu quả cao càn có sự phối hợp chặt chẽ và sự tham gia tích cực của các lực lượng trong và ngoài nhà trường Theo thực tế cho thấy giáo dục nhà trường nói chung không thể tách khỏi xã hội và hoạt động phòng chống bạo lực học đường cũng không ngoại

lệ Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng: Chính quyền địa phương, lực lượng Công an, các tổ chức, đoàn thể (đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, Mặt trận Tổ quốc các cơ quan báo chí, tuyên truyền khi có sự phối hợp tốt này

Trang 38

thì nhà trường kịp thời nắm bắt thông tin, mặt khác tác động tích cực đến học sinh nhằm giúp cho các em có một môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn

Các lực lượng chủ chốt trong nhà trường là mỗi cá nhân thầy, cô giáo, nhân viên, chi bộ, công đoàn, đoàn thanh niên, đội thiếu niên, các tổ chuyên môn với những những thế mạnh và đặc trưng riêng của các cá nhân và tổ chức đóng vai trò hỗ trợ tích cực và phát huy tối đa thế mạnh của mình cho công tác phòng chống bạo lực học đường Do đó hiệu trưởng cần xây dựng một cơ chế phối hợp chặt chẽ, thường xuyên, thống nhất về mục tiêu, nội dung, phương pháp của mỗi cá nhân, tổ chức trong nhà trường từ đó tạo sự thống nhất trong chỉ đạo và hoạt động của trường

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở

1.4.1 Quản lý mục tiêu giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở

- Nhằm nâng cao trách nhiệm của Ban giám hiệu trong việc chỉ đạo, điều hành phối hợp hoạt động tuyên truyền giáo dục pháp luật nhằm xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, góp phần giữ gìn an ninh trật tự trường học Góp phần giáo dục thế hệ trẻ sống, lao động, học tập, làm việc theo pháp luật

- Đảm bảo an ninh trật tự trường học và phòng chống hiện tượng kì thị, vi phạm giới, bạo lực học đường

- Nhằm kiềm chế việc vi phạm pháp luật, không có tệ nạn ma tuý trong cán bộ, giáo viên và học sinh Phòng ngừa hiệu quả hành vi bạo lực trong nhà trường và các hành động tự phát của học sinh làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội

1.4.2 Quản lý nội dung giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở

Nội dung giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở trường THCS cho học sinh THCS là những nội dung cốt lõi cần hình thành và phát triển cho các em Nội dung của giáo dục giáo dục phòng ngừa BLHĐ rất đa dạng và phong phú, nhưng trong giới hạn nghiên cứu có thể đề xuất một số nội dung giáo dục, như sau:

- Nhận diện được các biểu hiện và nguyên nhân của hành vi BLHĐ;

- Chuẩn bị cho HS sự sẵn sàng về tâm lí đấu tranh chống lại bạo lực và các biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn;

- Nâng cao nhận thức cho HS về nguy cơ và hậu quả của BLHĐ;

- Nhà trường giáo dục ý thức chấp hành nội quy trường, lớp;

- Nhà trường giáo dục ý thức chấp hành pháp luật;

- Việc đấu tranh với các biểu hiện có hành vi bạo lực trong và ngoài nhà trường;

- Nhắc nhở việc không mang hung khí, đồ chơi có tính kích động bạo lực, các chất gây nghiện đến trường, lớp;

- Các mâu thuẫn giữa các HS lẫn nhau không giải quyết được phải nhờ bạn bè, thầy cô giải quyết;

Trang 39

- Tuyên truyền xây dựng trường học thân thiện, HS tương thân tương ái

1.4.3 Quản lý hình thức giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở

- Hiệu trưởng thành lập Ban chỉ đạo hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở trường THCS, bao gồm: Hiệu trưởng, các Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn, TPT Đội, đại diện GVCN, đứng đầu các tổ chức đoàn thể

- Thành lập tổ tư vấn giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở trường THCS;

- Hiệu trưởng phải sắp xếp, phân phối nguồn nhân lực, tổ chức lao động khoa học, hợp lý để thực hiện giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở trường THCS;

- Xác định cơ chế hoạt động và phối hợp các lực lượng liên quan thực hiện quản

lý giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở trường THCS

- Huy động vật lực, tài lực phục vụ cho hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở trường THCS

1.4.4 Quản lý phương pháp giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở

Có nhiều phương pháp để giáo dục phòng ngừa BLHĐ cho học sinh THCS trong giới hạn của đề tài nêu một số phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu tình huống: Là tổ chức cho người học một mẫu chuyện, mô tả một tình huống có thật trong cuộc sống hằng ngày

- Phương pháp thảo luận nhóm: Là tổ chức cho học sinh tham gia thảo luận, bàn bạc trong từng nhóm

- Phương pháp trò chơi: Là cách thức tổ chức cho người học tiến hành một trò chơi nào đó để tìm hiểu một vấn đề nào đó hoặc bày tỏ thái độ hay hành vi, việc làm phù hợp trong một tình huống cụ thể

- Phương pháp đóng vai: Là phương pháp tổ chức cho người học thực hành, làm thử một tình huống giả định nào đó Đây là phương pháp nhằm giúp người học có được suy nghĩ kỹ về một vấn đề bằng cách tập trung vào một cách ứng xử cụ thể mà học sinh quan sát được

1.4.5 Quản lý công tác phối hợp các lực lượng giáo dục trong phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường trung học cơ sở

Công tác phối hợp các lực lượng giáo dục trong phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường THCS, nhằm bồi dưỡng, huy động đội ngũ CBQL, GV trong trường phố hợp cùng với các tổ chức chính trị-xã hội thực hiện mục tiêu giáo dục phòng ngừa BLHĐ, gồm các nội dung quản lý sau:

- Quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ GV

- Quản lý việc xây dựng chương trình, kế hoạch, thiết kế nội dung, cách thức thực hiện các hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở trường THCS

- Quản lý việc tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ qui

mô nhà trường, lớp theo các chủ điểm, kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm

Trang 40

- Quản lý công tác phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở trường THCS

- Quản lý công tác chỉ đạo xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa trò và trò, thầy và trò, thầy với thầy ; đồng thời quản lý quá trình xây dựng và phát triển môi trường sư phạm thân thiện từ lớp học thân thiện - trường học thân thiện và công đồng thân thiện

1.4.6 Quản lý công tác kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở

Công tác kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường THCS, đóng vai trò rất quan trọng nhằm, bổ sung rà soát kết hoạch, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục và kể cả các hoạt động phối hợp từ đó điều chỉnh bổ sung hoàn chỉnh cho hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHD ở trường THCS, công tác quản lý này bao gồm:

- Hiệu trưởng phải thường xuyên kiểm tra việc thực hiện giáo dục phòng ngừa BLHĐ về xây dựng và thực hiện các loại kế hoạch và các nhiệm vụ được giao của lực lượng dưới quyền

- Kiểm tra đánh giá hiệu quả của từng hoạt động cụ thể hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ để rút kinh nghiệm

- Kiểm tra, đánh giá hiệu quả của quản lý giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở trường THCS từ đó tổ chức tổng kết, rút ra bài học kinh nghiệm

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở

1.5.1 Những yếu tố khách quan

- Môi trường giáo dục mà học sinh bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan là: Môi trường gia đình là nơi con người sinh ra và trưởng thành Gia đình có ảnh hưởng lớn đến quá trình trưởng thành của một cá nhân Bởi vậy, bạo lực học đường và những ảnh hưởng gia đình có quan hệ mật thiết với nhau, những ảnh hưởng từ phía gia đình góp phần hình thành hành vi bạo lực học đường được thể hiện ở một số yếu tố sau: + Sự buông lỏng trong quản lý và giáo dục con cái của gia đình

Có những gia đình bố mẹ do quá bận nên đã thả lỏng con cái, không hỏi han và quan tâm đến con hay thỏa mãn tất cả mọi yêu cầu của con, nuông chiều con, con muốn làm gì thì làm Bố mẹ không hiểu được con cần gì hay làm gì, không kịp thời phát hiện, giáo dục cũng như sửa những lỗi sai cho con Về phía con cái, do không kịp thời nhận được sự quan tâm, chăm sóc và giáo dục hay nhận được sự chiều chuộng quá mức của gia đình, con kết thân với những bạn bè xấu, bị ảnh hưởng xấu từ bạn bè,

đi từ sai lầm nhỏ đến sai lầm lớn, và có những hành vi không tốt

+ Môi trường gia đình

Môi trường gia đình có ảnh hưởng tốt hay xấu đến nhân cách của mỗi cá nhân con người Thông thường, môi trường gia đình tốt tỷ lệ thuận với những nhân cách mà

Ngày đăng: 01/06/2022, 16:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Thành An (2014), “Nam sinh đánh bạn gái giữa lớp: Báo động bạo lực học đường”, Báo Pháp luật và đời sống online Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam sinh đánh bạn gái giữa lớp: Báo động bạo lực học đường”
Tác giả: Thành An
Năm: 2014
[2] Trần Thị Tú Anh (2012), "Hành vi bạo lực học đường của học sinh THCS thành phố Huế" bài viết trong Kỷ yếu Hội thảo tâm lý học đường lần 3 "Phát triển mô hình và kỹ năng hoạt động tâm lý học đường", TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi bạo lực học đường của học sinh THCS thành phố Huế" bài viết trong Kỷ yếu Hội thảo tâm lý học đường lần 3 "Phát triển mô hình và kỹ năng hoạt động tâm lý học đường
Tác giả: Trần Thị Tú Anh
Năm: 2012
[3] Hà Anh (2014), Từ bạo lực gia đình đến bạo lực học đường, Báo Tiền Phong Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ bạo lực gia đình đến bạo lực học đường
Tác giả: Hà Anh
Năm: 2014
[4] Hồ Sỹ Anh (2014), "Giáo dục gia đình Việt Nam trước bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục", Tạp chí Dạy và Học ngày nay, tháng 3/2014, tr.61 - tr.64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục gia đình Việt Nam trước bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục
Tác giả: Hồ Sỹ Anh
Năm: 2014
[7] Đặng Quốc Bảo (2012), Một số vấn đề về quản lý giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quản lý giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2012
[9] Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Thị Mai Lan (2013), Bạo lực đường Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ tâm lý học. NXB. Từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạo lực đường Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ tâm lý học
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Thị Mai Lan
Nhà XB: NXB. Từ điển bách khoa
Năm: 2013
[10] Bộ Giáo dục & Đào tạo (1998), Đạo đức học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: Bộ Giáo dục & Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
[11] Bộ Giáo dục & Đào tạo, Thông tư số 12/2011-BGD&ĐT Ban hành điều lệ trường THCS, trường THPT và trường THPT có nhiều cấp học, Hà Nội ngày 28/3/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 12/2011-BGD&ĐT Ban hành điều lệ trường THCS, trường THPT và trường THPT có nhiều cấp học
[12] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư số 08/TT Hướng dẫn về việc khen thưởng và kỷ luật học sinh các trường phổ thông, Hà Nội ngày 21/3/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 08/TT Hướng dẫn về việc khen thưởng và kỷ luật học sinh các trường phổ thông
[14] Lê Thị Bừng (1998), Gia đình - Trường học đầu tiên của lòng nhân ái, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình - Trường học đầu tiên của lòng nhân ái
Tác giả: Lê Thị Bừng
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
[15] Nguyễn Thị Cẩm (2012), Bạo lực học đường và những hậu quả, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Trường Đại học Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạo lực học đường và những hậu quả
Tác giả: Nguyễn Thị Cẩm
Năm: 2012
[16] Lê Văn Cương, Trương Như Vương, Trương Đức Thành, Kim Khuê (1999), Tâm lý tội phạm và vấn đề ngừa tội phạm, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý tội phạm và vấn đề ngừa tội phạm
Tác giả: Lê Văn Cương, Trương Như Vương, Trương Đức Thành, Kim Khuê
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 1999
[17] Quang Cường (2014), Hà Nội: Học sinh được học cách phòng chống, ứng phó với bạo lực học đường, Diễn đàn Dân trí Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội: Học sinh được học cách phòng chống, ứng phó với bạo lực học đường
Tác giả: Quang Cường
Năm: 2014
[18] Nguyễn Minh Đức (chủ biên), Trần Cảnh Hưng, Nguyễn Trường Giang (2011), Phòng, ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm trong học đường, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng, ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm trong học đường
Tác giả: Nguyễn Minh Đức (chủ biên), Trần Cảnh Hưng, Nguyễn Trường Giang
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2011
[19] Giáo trình (2008), Quản lý nhà nước về kinh tế, NXB, Khoa học Kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về kinh tế
Tác giả: Giáo trình
Năm: 2008
[20] Giáo trình (2002), Những nguyên lý quản lý theo khoa học, Trường Quản lý cán bộ giáo dục TW2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lý quản lý theo khoa học
Tác giả: Giáo trình
Năm: 2002
[21] Lê Văn Giang (2001), Những vấn đề lý luận cơ bản của khoa học giáo dục, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận cơ bản của khoa học giáo dục
Tác giả: Lê Văn Giang
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
[23] Nguyễn Hữu Huân (1999), Bản dịch Quản lý và kỹ thuật quản lý của Wayned Morrison và Thomas.J.Robins, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và kỹ thuật quản lý của Wayned Morrison và Thomas.J.Robins
Tác giả: Nguyễn Hữu Huân
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 1999
[24] Đỗ Thị Ngọc Khanh, "Một số yếu tố chi phối bạo lực học đường nhìn từ góc độ hành vi", Tạp chí Tâm Lý Học, số 11-11/2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố chi phối bạo lực học đường nhìn từ góc độ hành vi
[25] Hoàng Mai Khanh (2011), Bài giảng về giáo dục gia đình, Khoa Giáo dục - Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng về giáo dục gia đình
Tác giả: Hoàng Mai Khanh
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC CÁC BẢNG - Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện đầm dơi tỉnh cà mau  1
DANH MỤC CÁC BẢNG (Trang 11)
bảng Tên bảng Trang - Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện đầm dơi tỉnh cà mau  1
b ảng Tên bảng Trang (Trang 13)
- Tạo thư mục lop3b trên màn hình nền. - Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện đầm dơi tỉnh cà mau  1
o thư mục lop3b trên màn hình nền (Trang 19)
Bảng 2.3. Đánh giá của giáo viên, cán bộ quản lý, Tổng phụ trách Đội các trường THCS huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau về mức độ thực hiện nội dung giáo dục phòng, - Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện đầm dơi tỉnh cà mau  1
Bảng 2.3. Đánh giá của giáo viên, cán bộ quản lý, Tổng phụ trách Đội các trường THCS huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau về mức độ thực hiện nội dung giáo dục phòng, (Trang 50)
Bảng 2.4. Đánh giá của học sinh các trường THCS huyện Đầm Dơi về mức độ thực hiện nội dung giáo dục phòng, ngừa bạo lực học đường - Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện đầm dơi tỉnh cà mau  1
Bảng 2.4. Đánh giá của học sinh các trường THCS huyện Đầm Dơi về mức độ thực hiện nội dung giáo dục phòng, ngừa bạo lực học đường (Trang 51)
Bảng 2.5. Đánh giá của GV về thực trạng mức độ sử dụng phương pháp giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho học sinh - Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện đầm dơi tỉnh cà mau  1
Bảng 2.5. Đánh giá của GV về thực trạng mức độ sử dụng phương pháp giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho học sinh (Trang 53)
Qua bảng 2.5 khảo sát thực trạng mức độ sử dụng phương pháp giáo dục phòng ngừa BLHĐ của GV cho ta thấy, tất cả GV đã có ý thức sử dụng các phương pháp cần  thiết để phòng, ngừa BLHĐ qua 7 tiêu chí khảo sát với điểm trung bình từ 3.54 đến 4.0  đạt  mức  đ - Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện đầm dơi tỉnh cà mau  1
ua bảng 2.5 khảo sát thực trạng mức độ sử dụng phương pháp giáo dục phòng ngừa BLHĐ của GV cho ta thấy, tất cả GV đã có ý thức sử dụng các phương pháp cần thiết để phòng, ngừa BLHĐ qua 7 tiêu chí khảo sát với điểm trung bình từ 3.54 đến 4.0 đạt mức đ (Trang 54)
Bảng 2.6. Đánh giá của HS về thực trạng mức độ sử dụng phương pháp giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường của GV - Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện đầm dơi tỉnh cà mau  1
Bảng 2.6. Đánh giá của HS về thực trạng mức độ sử dụng phương pháp giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường của GV (Trang 55)
Qua bảng 2.6 kết quả khảo sát HS về thực trạng mức độ sử dụng phương pháp giáo  dục  phòng  ngừa  BLHĐ  của  GV  cho  thấy,  có  những  phương  pháp  phòng  ngừa  BLHĐ lại ngược  với  kết quả  khảo sát  ởGV  về  thực  trạng  mức  độ  sử  dụng  phương  phá - Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện đầm dơi tỉnh cà mau  1
ua bảng 2.6 kết quả khảo sát HS về thực trạng mức độ sử dụng phương pháp giáo dục phòng ngừa BLHĐ của GV cho thấy, có những phương pháp phòng ngừa BLHĐ lại ngược với kết quả khảo sát ởGV về thực trạng mức độ sử dụng phương phá (Trang 56)
2.3.4. Thực trạng về các hình thức giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau - Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện đầm dơi tỉnh cà mau  1
2.3.4. Thực trạng về các hình thức giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau (Trang 57)
Các hình thức giáo dục phòng ngừa bạo - Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện đầm dơi tỉnh cà mau  1
c hình thức giáo dục phòng ngừa bạo (Trang 59)
Bảng 2.9. Đánh giá của đội ngũ GV, CBQL và TPT Đội về quản lý mục tiêu giáo dục phòng ngừa BLHĐ - Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện đầm dơi tỉnh cà mau  1
Bảng 2.9. Đánh giá của đội ngũ GV, CBQL và TPT Đội về quản lý mục tiêu giáo dục phòng ngừa BLHĐ (Trang 60)
Kết quả khảo sát bảng 2.9 đánh giá của đội ngũ GV, CBQL và TPT Đội về quản lý  mục  tiêu  giáo  dục  phòng  ngừa  BLHĐ  ở  trường  THCS  ở  huyện  Đầm  Dơi  tỉnh  Cà  Mau có điểm trung bình từ 2.63 đến 3.21 đạt mức độ trung bình, trong đó: - Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện đầm dơi tỉnh cà mau  1
t quả khảo sát bảng 2.9 đánh giá của đội ngũ GV, CBQL và TPT Đội về quản lý mục tiêu giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở trường THCS ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau có điểm trung bình từ 2.63 đến 3.21 đạt mức độ trung bình, trong đó: (Trang 61)
Bảng 2.10. Đánh giá của đội ngũ GV, CBQL và TPT Đội về quản lý nội dung giáo dục phòng ngừa BLHĐ - Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện đầm dơi tỉnh cà mau  1
Bảng 2.10. Đánh giá của đội ngũ GV, CBQL và TPT Đội về quản lý nội dung giáo dục phòng ngừa BLHĐ (Trang 62)
Từ kết quả khảo sát bảng 2.10 đánh giá của đội ngũ GV, CBQL và TPT Đội về quản  lý  nội  dung  giáo  dục  phòng  ngừa  BLHĐ  cho  thấy  điểm  trung  bình  đạt  từ  2.61  đến 3.22 đạt mức độ trung bình, trong đó: - Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường trung học cơ sở huyện đầm dơi tỉnh cà mau  1
k ết quả khảo sát bảng 2.10 đánh giá của đội ngũ GV, CBQL và TPT Đội về quản lý nội dung giáo dục phòng ngừa BLHĐ cho thấy điểm trung bình đạt từ 2.61 đến 3.22 đạt mức độ trung bình, trong đó: (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w