1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lí hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện trần văn thời, tỉnh cà mau 1

124 233 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lí Hoạt Động Giáo Dục An Toàn Giao Thông Cho Học Sinh Ở Các Trường Trung Học Phổ Thông Trên Địa Bàn Huyện Trần Văn Thời, Tỉnh Cà Mau
Tác giả Tống Tường Tri
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Đức Danh
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 8,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những vấn đề thực tiễn trên cho thấy, Giáo dục an toàn giao thông và quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông trong nhà trường là một công việc hết sức quan trọng, hết sức thiết

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TỐNG TƯỜNG TRI

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

AN TOÀN GIAO THÔNG CHO HỌC SINH Ở

CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Đà Nẵng – Năm 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TỐNG TƯỜNG TRI

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

AN TOÀN GIAO THÔNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin nghiên cứu là hoàn toàn đúng sự thật

Cà Mau, ngày tháng 6 năm 2021

Tác giả

Tống Tường Tri

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

TÓM TẮT ii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC SƠ ĐỒ ix

DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Giả thuyết khoa học 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC AN TOÀN GIAO THÔNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Ở nước ngoài 6

1.1.2 Ở Việt Nam 7

1.2 Các khái niệm cơ bản 13

1.2.1 Quản lý 13

1.2.2 Quản lý giáo dục 15

1.2.3 An toàn giao thông 16

1.2.4 Giáo dục an toàn giao thông 17

1.2.5 Quản lý giáo dục an toàn giao thông 17

1.3 Hoạt động giáo dục an toàn giao thông trong nhà trường THPT 18

1.3.1 Đặc điểm của học sinh THPT 18

1.3.2 Mục đích, ý nghĩa của giáo dục an toàn giao thông cho học sinh THPT 23

1.3.3 Nội dung giáo dục an toàn giao thông trong trường THPT 23

1.3.4 Các phương pháp, hình thức giáo dục an toàn giao thông trong trường THPT 24

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông trong nhà trường THPT 25

Trang 7

1.4.1 Tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông trong

nhà trường THPT 25

1.4.2 Chức năng quản lý giáo dục an toàn giao thông trong trường THPT 26

1.4.3 Nội dung quản lý giáo dục an toàn giao thông trong trường THPT 26

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục an toàn giao thông 28

1.5.1 Các nhân tố chủ quan 28

1.5.2 Các nhân tố khách quan 29

Tiểu kết chương 1 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC AN TOÀN GIAO THÔNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU 31

2.1 Tổ chức khảo sát thực trạng 31

2.1.1 Mục đích khảo sát: 31

2.1.2 Khách thể khảo sát 31

2.1.3 Nội dung khảo sát 31

2.1.4 Phương pháp khảo sát 32

2.1.5 Xử lý số liệu khảo sát 32

2.2 Khái quát cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ và tình hình chấp hành luật giao thông tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau 32

2.2.1 Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau 32 2.2.2 Tình hình chấp hành Luật giao thông đường bộ tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau 33

2.3 Khái quát các trường THPT được lựa chọn khảo sát 35

2.3.1 Giới thiệu chung các trường THPT tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau 35

2.3.2 Giới thiệu 05 trường được lựa chọn khảo sát 35

2.3.3 Đặc điểm giao thông quanh 05 trường khảo sát 36

2.4 Thực trạng giáo dục an toàn giao thông ở các trường THPT trên địa bàn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau 38

2.4.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lí - giáo viên chủ nhiệm và học sinh về giáo dục an toàn giao thông trong nhà trường 38

2.4.2 Thực trạng nội dung chương trình giáo dục an toàn giao thông trong nhà trường 41

2.4.3 Thực trạng phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục an toàn giao thông 43

2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục an toàn giao thông cho học sinh THPT tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau 45

Trang 8

2.6 Đánh giá thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho học sinh THPT tại

huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau 48

2.6.1 Điểm mạnh 48

2.6.2 Điểm hạn chế 48

2.6.3 Nguyên nhân của thực trạng 49

Tiểu kết chương 2 51

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC AN TOÀN GIAO THÔNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU 52

3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 52

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 52

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính pháp lý 52

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 52

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát huy 52

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và khả thi 53

3.2 Các biện pháp quản lí hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau 53

3.2.1 Nâng cao nhận thức về an toàn giao thông, giáo dục an toàn giao thông cho cán bộ quản lý nhà trường, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh 53

3.2.2 Chú trọng việc lập kế hoạch giáo dục an toàn giao thông trong kế hoạch giáo dục tổng thể, kế hoạch hoạt động tích hợp và toàn diện của nhà trường 58

3.2.3 Tăng cường chỉ đạo giáo dục tích hợp an toàn giao thông qua các môn học chính khóa và hoạt động ngoài giờ lên lớp 63

3.2.4 Tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả công tác giáo dục an toàn giao thông cho học sinh THPT 66

3.2.5 Tăng cường phối kết hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong giáo dục và quản lý giáo dục an toàn giao thông cho học sinh THPT: 70

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 74

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 74

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 74

3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 75

3.4.3 Phân tích kết quả khảo nghiệm 75

Tiểu kết chương 3 79

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Trang 9

DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ATGT An toàn giao thông CMHS Cha mẹ học sinh CSGT Cảnh sát gia thông

GD ATGT Giáo dục an toàn giao thông GDNGLL Giáo dục ngoài giờ lên lớp QLGD Quản lí giáo dục

QLGD ATGT Quản lí giáo dục an toàn giao thông

TTATGT Trật tự an toàn giao thông

Trang 10

Tổng hợp số liệu cán bộ phụ trách giao thông, số lớp, số học

sinh và số lượng giáo viên các trường THPT trên địa bàn huyện

Trần Văn Thời

35

2.3 Thực trạng nhận thức cán bộ quản lí - giáo viên chủ nhiệm và

học sinh về sự cần thiết của việc giáo dục an toàn giao thông 38 2.4 Thực trạng nhận thức về ý nghĩa của việc giáo dục an toàn giao

2.5 Thực trạng nội dung giáo dục tích hợp an toàn giao thông trong

2.6 Thực trạng các hình thức tổ chức giáo dục an toàn giao thông

2.7 Thực trạng nhu cầu của học sinh đối với hoạt động giáo dục an

2.8 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục an toàn

2.9 Nguyên nhân và thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông

cho học sinh THPT tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau 49

3.2 Đánh giá kết quả đánh giá sự cần thiết, tính khả thi của các biện

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trên thế giới, tai nạn giao thông là một trong những nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất cho con người Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), hàng năm, cuộc sống của hơn 1,25 triệu người bị rút ngắn do tai nạn giao thông đường bộ Trong số 20 đến

50 triệu người bị chấn thương, có nhiều người bị khuyết tật do hậu quả của nó để lại Thương tích giao thông đường bộ gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho các cá nhân, gia đình và các quốc gia nói chung Những tổn thất này phát sinh từ chi phí điều trị cũng như năng suất lao động bị mất đối với những người bị thương, bị tàn tật và đối với các thành viên trong gia đình cần phải nghỉ việc hoặc nghỉ học để chăm sóc người bị thương Tai nạn giao thông đường bộ khiến hầu hết các quốc gia mất đi 3% tổng sản phẩm quốc nội của họ Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ở các quốc gia đang phát triển, tình trạng an toàn giao thông ngày càng trở nên tồi tệ hơn do đô thị hóa diễn ra nhanh chóng và không có kế hoạch Cơ sở hạ tầng yếu kém, hệ thống quy phạm pháp luật còn nhiều thiếu sót khiến các vụ tai nạn giao thông tăng lên theo cấp số nhân Cùng với đó là những thiệt hại khổng lồ về kinh tế, bao gồm: chi phí giải quyết hậu quả cho người mất, chi phí y tế cho người bị thương, thiệt hại về phương tiện giao thông, về hạ tầng, chi phí khắc phục, điều tra vụ tai nạn giao thông đó cùng với thiệt hại do hao phí thời gian lao động của chính người bị tai nạn và cả của những người chăm sóc người bị nạn Mặt khác tai nạn giao thông gây nên những tác động tâm lý cả trước mắt cũng như về lâu dài đối với mọi người, nó để lại những di chứng về tâm lý

hết sức nặng nề cho người bị tai nạn cũng như những người thân của họ [16]

Đối với nước ta, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2919 cả nước có 9820

vụ tai nạn giao thông, làm bị thương 7470 người và chết 4467 người; năm 2020 (tính đến 7 tháng đầu năm) cả nước xảy ra 7996 vụ tai nạn giao thông, làm bị thương 5850 người và chết 3791 người Trung bình 7 tháng đầu năm 2020 mỗi ngày có 38 vụ tai nạn giao thông, làm 18 người chết và 27 người bị thương Theo thống kê, trung bình mỗi năm có tới 2.000 trẻ em thiệt mạng vì tai nạn giao thông trên cả nước Số liệu của

Ủy ban an toàn giao thông Quốc gia năm 2017 cho biết: Học sinh cấp 3 có liên quan tới 90% tổng số vụ tai nạn giao thông của trẻ em và tỷ lệ tử vong do tai nạn giao thông của nhóm này có xu hướng gia tăng, cụ thể tỷ lệ tử vong là 7,39/100.000 học sinh Những tháng đầu năm 2020, cả nước cũng ghi nhận nhiều vụ tai nạn thương tâm, mà nạn nhân là những em học sinh vẫn còn đang ngồi trên ghế nhà trường

Trước tình hình thực tế tai nạn giao thông ngày cà ng gia tăng, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo như Quyết định số 22/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng

Trang 13

Nguyễn Xuân Phúc ban hành ngày 22/06/2017 về tổ chức và hoạt động của Ủy ban an toàn giao thông quốc gia và Ban an toàn giao thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương [14]; Nghi quyết số 12/NQ-CP, ngày 19/02/2019 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông và chống ùn tắc giao thông giao đoạn 2019-2021 [16]; Nghị định số: 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ

về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt [10]; Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 16/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực hiện Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia [2]; Thông báo số 315/TB-VPCP, ngày 03/09/2020 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Phó Thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình tại cuộc họp thường trực Ủy ban an toàn giao thông quốc gia nhằm đánh giá chung tám tháng đầu năm 2020 và những nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới để kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, đề ra nhiều việc làm thiết thực nhằm hạn chế tối đa hoặc có thể giảm đi những đau thương và mất mát thiệt hại về người cũng như tài sản làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung của đất nước [18]

Tuy nhiên, việc thực hiện an toàn giao thông hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn và thách thức như: kết cấu hạ tầng giao thông và công tác đảm báo an toàn giao thông vẫn là điểm nghẽn trong phát triển khinh tế xã hội, đặc biệt nhu cầu đầu tư lớn trong khi quy động nguồn lực khó khăn, đầu tư chưa cân đối giữa các lĩnh vực, chi phí xây dựng lớn, công nghệ mới áp dụng chưa nhiều, một số công trình chất lượng chưa cao, nhu cầu đi lại lớn hơn năng lực hạ tầng giao thông, do đó tạo ra những ùn tắc giao thông mới và tiềm ẩn mất

an toàn giao thông… và tỉnh Cà Mau nói chung, huyện Trần Văn Thời nói riêng vấn đề

giao thông trong học sinh cũng còn nhiều bất cập [1]

Từ những vấn đề thực tiễn trên cho thấy, Giáo dục an toàn giao thông và quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông trong nhà trường là một công việc hết sức quan trọng, hết sức thiết thực và lâu dài, nhằm giáo dục liên tục cho các em ý thức chấp hành nghiêm túc Luật giao thông Bản thân là một giáo viên và là cán bộ quản lý nhà trường trung học phổ thông, cảm thấy cần phải chuyên tâm tích cực nghiên cứu để tìm

ra những biện pháp quản lý cụ thể nhằm góp phần thực hiện giáo dục an toàn giao thông và quản lý giáo dục an toàn giao thông sao cho đạt hiệu quả cao nhất Mong muốn của bản thân là các em học sinh trung học phổ thông được giáo dục triệt để về an toàn giao thông, luôn ý thức sâu sắc được sự cần thiết phải thực hiện nghiêm túc Luật giao thông, từ đó bản thân các em luôn thực hiện tốt các quy định về an toàn giao thông, trở thành những người tham gia giao thông văn minh, góp phần bảo vệ sức khỏe, tính mạng của mình và người khác…

Từ những lý do trên tôi chọn đề tài: “Quản lí hoạt động giáo dục an toàn giao

Trang 14

thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau” làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lí giáo dục của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lí hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh phổ thông; đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Trần Văn thời, tỉnh Cà Mau và từ đó, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục

an toàn giao thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông

Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục an toàn giao thông và quản

lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao

thông cho học sinh trung học phổ thông

4.2 Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục

an toàn giao thông cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Trần Văn

- Chủ thể biện pháp quản lý: Hiệu trưởng Trường THPT trên địa bàn huyện Trần văn Thời tỉnh Cà Mau

- Thời gian nghiên cứu thực trạng: Năm 2019 đến 2020

6 Giả thuyết khoa học

Quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường THPT

Trang 15

là nhân tố quyết định chất lượng, hiệu quả đến hoạt động giáo dục cho học sinh các trường THPT trên địa bàn huyện Trần Văn Thời Nếu xác lập và thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục một cách khoa học phù hợp với đặc điểm của địa phương và cấp học thì có thể nâng cao được chất lượng hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh các trường THPT trên địa bàn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau trong giai đoạn hiện nay

7 Phương pháp nghiên cứu

Bao gồm các phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu lý luận, nghiên cứu thực tiễn (phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn), phương pháp xử lí số liệu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu các tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài, các văn bản quản lý giáo dục có liên quan, các văn bản hướng dẫn giáo dục an toàn giao thông, Nghị định của Chính phủ, Luật giao thông đường bộ

Tìm hiểu các tài liệu giáo dục an toàn giao thông và các giải pháp giáo dục an toàn giao thông của các nước phát triển có hình thái giao thông gần giống nước ta

Nghiên cứu tài liệu bao gồm nghiên cứu lý thuyết liên quan đến vấn đề quản lý giáo dục an toàn giao thông, cụ thể như: Khái niệm, vai trò, các thành phần và các bước giáo dục an toàn giao thông; Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề giáo dục giao thông

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được khảo sát thông qua việc sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn Trong đó, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp chính, các phương pháp phỏng vấn là phương pháp hỗ trợ

7.2.1 Phương pháp điều tra bảng hỏi

+ M c đ ch: Mô tả và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục an toàn

giao thông cho học sinh ở các trường THPT tỉnh Cà Mau thông qua việc sử dụng bảng hỏi

+ N i dung: Tìm hiểu nhận thức của CBQL, giáo viên và học sinh các trường

THPT về quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

+ i tư ng: Điều tra 15 CBQL (là Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Bí thư Đoàn

Thanh niên, giám thị); 95 giáo viên chủ nhiệm và 50 học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

Trang 16

+ Công c : xây dựng bộ công cụ là phiếu khảo sát dùng cho các đối tượng điều

tra

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn

+ M c đ ch: Thu thập thông tin dựa trên cơ sở quá trình giao tiếp, hỏi và trả lời về

quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

+ N i dung: Tìm hiểu đánh giá chung về ý nghĩa, thực trạng, nguyên nhân, giải

pháp quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

+ i tư ng: 5 cán bộ quản lí của địa phương gồm Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch

UBND, Trưởng Công an xã thị trấn, Bí thư, Phó Bí thư đoàn

+ Công c : Biên bản phỏng vấn

7.3 Phương pháp xử lí số liệu

7.3.1 Xử lí số liệu bằng phiếu hỏi

Số liệu thu được sau khảo sát thực tiễn từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, chúng tôi sử dụng Excel để xử lí và phân tích thống kê nhằm đánh giá về mặt định lượng và định tính, đảm bảo độ tin cậy của các kết quả thu được Các thông số và phép toán thống kê được sử dụng trong nghiên cứu này là phân tích thống kê mô tả và phân

tích thống kê suy luận

7.3.2 Xử lí số liệu phỏng vấn

Dữ liệu phỏng vấn được chúng tôi ghi lại bằng văn bản, phân tích nội dung để phân loại ý, một số nội dung sẽ được trích dẫn nguyên văn trong những trường hợp cần thiết Thông tin phỏng vấn sẽ được dùng vào việc đối chiếu, so sánh để làm rõ kết quả điều tra

8 Cấu trúc luận văn

8.1 Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài; mục đích nghiên cứu; nhiệm vụ nghiên

cứu; khách thể, đối tường và phạm vi nghiên cứu; giả thuyết khoa học, phương pháp nghiên cứu

8.2 Phần nội dung: gồm 03 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho

học sinh trung học

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học

sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học

sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

Trang 17

tiếng ở trên các phương tiện giao thông công cộng như xe bus hay tàu điện ngầm [21]

Còn ở Nhật Bản, để có ngày hôm nay thì Nhật cũng đã từng có tình trạng giao thông rất lộn xộn Và một trong những giải pháp được Nhật Bản rất chú trọng đó là công tác giáo dục an toàn giao thông Chính quyền Nhật Bản xác định đây là nhiệm vụ của toàn xã hội, đòi hỏi người dân phải nghiêm túc tự giác thực hiện và liên tục duy trì Công tác giáo dục ATGT còn được Nhật Bản tập trung ngay từ nhỏ và áp dụng

Trang 18

song song với tình hình thực tế Chẳng hạn, tại thành phố Kyoto, nơi có mật độ sử dụng xe đạp trong giới học sinh tương đối cao, các em học sinh phải tham gia một khóa huấn luyện về ATGT mới được cấp chứng chỉ sử dụng xe đạp đến xe máy Các hoạt động tuyên truyền về giao thông ở Nhật Bản thu được hiệu quả một phần nhờ gắn liền với thực tiễn Giáo dục trong trường học, gia đình, các tổ chức xã hội, thông qua đài phát thanh, truyền hình, báo chí với nội dung phù hợp với từng lứa tuổi Nhờ vậy, tình trạng giao thông của Nhật Bản đã thay đổi theo hướng tích cực và trở thành một

trong những quốc gia có hệ thống ATGT nhất trên thế giới [22]

Đối với nước Mỹ, đây là một quốc gia phát triển, hiện đại bậc nhất thới giới, hệ thống giao thông ở Mỹ vô cùng đồ sộ và đa dạng các phương tiện Điều đó khiến việc

di chuyển của người dân trở nên thuận tiện hơn Hệ thống giao thông nước Mỹ phức tạp nhưng được vận hành có tổ chức, người tham gia giao thông chấp hành nghiêm các điều luật Tình trạng chen lấn không bao giờ xảy ra ở Mỹ nhờ vào cách tổ chức giao thông chặt chẽ tại các giao lộ, cùng với những biện pháp xử phạt cứng rắn Đặc biệt, đường xá tại đây không rác, vô cùng sạch sẽ Một điều thú vị nữa là, trên các cung đường Mỹ không hề có các chốt hay cảnh sát viên đứng canh giữ góc đường, cảnh sát giao thông Mỹ hay chạy trên đường cùng tham gia giao thông nhằm cảnh báo mọi người chấp hành đúng luật tham gia giao thông Nếu ai vi phạm giao thông, cảnh sát sẽ quay đèn báo hiệu người lái dừng phương tiện, họ sẽ không bao giờ chặn trước đầu xe

– hành động ấy không an toàn, dễ gây tai nạn cả hai phía [23]

1.1.2 Ở Việt Nam

Xét trên phương diện an toàn giao thông cả nước trong 10 năm trở lại đây, tai nạn giao thông nói chung và đường bộ nói riêng có tỉ lệ hàng năm giảm dần, nhưng con số giảm còn rất nhỏ so với số người chết và bị thương Sáng 9/12/2020, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình, Chủ tịch Ủy ban an toàn giao thông quốc gia chủ trì Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết 5 năm thực hiện phong trào thi đua bảo đảm trật tự, an toàn giao thông giai đoạn 2016-2020 và năm an toàn giao thông 2020 Trong 5 năm qua, được sự chỉ đạo của Ban Bí thư, sự giám sát thường xuyên của Quốc hội, các Ủy ban của Quốc hội, sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và nỗ lực của các bộ, ngành, các cấp chính quyền địa phương, sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể nhân dân trong việc thực hiện các giải pháp trọng tâm bảo đảm trật tự an toàn giao thông và chống ùn tắc giao thông, nên công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, ý thức tự giác chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông có nhiều chuyến biến tốt, trách nhiệm của lực lượng thực thi công vụ được nâng cao, bước đầu thiết lập lại trật tự, kỷ cương trong công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên

Trang 19

phạm vi cả nước và chống ùn tắc giao thông ở hai đô thị lớn là Hà Nội và thành phố

Hồ Chí Minh [24]

Tình hình trật tự ATGT đã được kiềm chế, tai nạn giao thông giảm sâu cả 3 tiêu chí số vụ, số người chết và số người bị thương Cụ thể, so với cùng kỳ 5 năm trước, giảm trên 42% về số vụ tai nạn, giảm 19% số người chết, giảm gần 54% về số người bị thương, trong khi điều kiện dân số, nhu cầu đi lại và phương tiện cơ giới gia tăng nhanh (so với giai đoạn 2011-2015, mô tô tăng khoảng 50% và ô tô tăng khoảng 58%) Đặc biệt, năm 2020 đã giảm trên 10% cả số vụ, số người chết, số người bị thương [25]

Theo Phó Chủ tịch chuyên trách Ủy ban ATGT quốc gia-Khuất Việt Hùng, hàng năm Ủy ban đã ban hành kế hoạch kiểm tra đôn đốc công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông tại một số địa phương trong các dịp cao điểm và các địa phương có tai nạn giao thông tăng cao

Bộ Công an đã chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương triển khai quyết liệt công tác tuần tra kiểm soát và xử lý vi phạm trên các tuyến giao thông, đặc biệt là các tuyến quốc lộ trọng điểm, địa bàn xảy ra nhiều tai nạn giao thông Từ năm 2016 đến nay, lực lượng Cảnh sát giao thông đã lập biên bản xử lý gần 21 triệu trường hợp vi phạm trật

tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa, phạt tiền hơn 14.000

tỷ đồng, tước gần 2 triệu giấy phép lái xe, bằng, chứng chỉ chuyên môn, tạm giữ trên 3 triệu phương tiện So với cùng kỳ 5 năm trước, xử lý giảm trên 8,5 triệu trường hợp

(28,96%), tiền phạt tăng hơn 1,1 nghìn tỷ đồng (8,79%) [26]

Từ năm 2016 đến nay, lực lượng Thanh tra giao thông toàn quốc đã thực hiện gần 500.000 cuộc thanh tra, kiểm tra về hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải, hàng không; thanh tra công tác quản lý, bảo vệ bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông, đăng kiểm phương tiện; kiểm soát tải trọng phương tiện; đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe, bằng, chứng chỉ chuyên môn Xử phạt vi phạm hành chính trên 400.000 vụ với số tiền gần 2.000 tỷ đồng; tạm giữ trên 2.000 ô tô; đình chỉ hoạt động gần 3.000 bến thủy nội địa, trên 2.000 phương tiện thủy nội địa; giám sát gần 5.000 kỳ sát hạch lái xe ô tô và trên 4.000 kỳ sát hạch lái xe mô tô [27]

Phát biểu tại hội nghị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ - Trương Hòa Bình ghi nhận những kết quả đã đạt được trong 5 năm thực hiện công tác đảm bảo trật

tự an toàn giao thông trong cả nước Để tiếp tục phát huy hiệu quả đảm bảo ATGT trong thời gian tới, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ đề nghị các bộ, ngành, địa phương cần tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật về đảm bảo trật tự ATGT, xây dựng văn hóa và tăng ý thức của mỗi cá nhân, nhường nhịn nhau khi tham gia giao

Trang 20

thông; tăng cường xử lý các vi phạm về nồng độ cồn, sử dụng ma túy và vi phạm về tải trọng khi các cá nhân, phương tiện tham gia giao thông [28]

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ cũng giao các bộ, ban, ngành, Ủy ban ATGT các địa phương căn cứ chức năng, nhiệm vụ để xây dựng kế hoạch, nội dung triển khai công tác đảm bảo trật tự ATGT năm 2021 và giai đoạn 2021 - 2025, trong

đó, xác định ứng dụng khoa học công nghệ là giải pháp đột phá quan trọng để triển khai các nhóm nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới

Như vậy, vấn đề an toàn giao thông hiện nay theo mục tiêu đặt ra là vô cùng cấp thiết Các chiến lược giáo dục an toàn giao thông cần triển khai hàng loạt để giáo dục ý thức đến người tham gia giao thông, đặc biệt là trong công tác giáo dục ý thức cho thế

hệ học sinh trong các nhà trường

Có thể thấy, vấn đề Giáo dục và Đào tạo luôn được Đảng ta đánh giá cao, coi đó

là quốc sách hàng đầu để phát triển đất nước Trong văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng (Dự thảo) tiếp tục nhấn mạnh vai trò của giáo dục và đào tạo và nội dung này có

nhiều điểm mới phù hợp với xu thế phát triển của thời đại

Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII về lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo được trình bày cô đọng, thực chất, phản ánh khách quan cả thành tựu và hạn chế của công tác giáo dục, đào tạo trong nhiệm kỳ qua; đồng thời, có sự thống nhất về đánh giá trong các Dự thảo văn kiện Đặc biệt, đánh giá tổng quát hạn chế về công tác giáo dục và đào tạo đã được thẳng thắn chỉ ra: “Đổi mới giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển” Đây là điểm quan trọng để nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn

cả mặt ưu điểm và hạn chế, khuyết điểm của lĩnh vực giáo dục và đào tạo, làm cơ sở xác định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh đổi mới căn bản, toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước

Trong Dự thảo phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp về giáo dục và đào tạo được trình bày toàn diện, đồng bộ tại Mục V - Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển con người Từ tên tiêu đề đến nội dung đều có những điểm mới rất quan trọng Đáng chú ý là, lần đầu tiên trong Văn kiện, Đảng đồng thời đưa sứ mạng “phát triển con người” cùng với sứ mạng “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực” của giáo dục và đào tạo Đây là điểm mới so với Nghị quyết Đại hội XII: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực” Vấn đề này có nhiều ý kiến tranh luận, cho rằng không nhất thiết phải đưa vào tiêu đề cụm từ “phát triển con người” Song, cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định sự bổ sung này là cần thiết, phù hợp, khoa học; thể hiện sự nhất quán, kế thừa, phát triển quan điểm của nhiệm kỳ trước và đặc biệt là đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn Đại hội XII xác định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu Phát triển giáo dục và

Trang 21

đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Theo tinh thần

đó, một trong những sứ mạng của giáo dục và đào tạo là phát triển nguồn nhân lực và tinh thần đó tiếp tục được Dự thảo khẳng định Vấn đề con người luôn gắn với nhiều lĩnh vực Bởi suy cho cùng, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển Hơn thế, con người là vốn quý nhất và mục tiêu cao nhất của sự phát triển Có hai lĩnh vực then chốt để phát triển con người là giáo dục và văn hóa Vì vậy, sứ mạng trước hết, trên hết và cao quý nhất của giáo dục là phát triển con người Đây là sự nhất quán

về phát triển, hoàn thiện triết lý giáo dục “Dạy người, dạy chữ, dạy nghề”, quan điểm chỉ đạo về giáo dục và đào tạo đã khẳng định trong các văn kiện Đảng trước đây [3] Thực tiễn cho thấy, từ những hạn chế, yếu kém về phát triển con người dẫn đến các hạn chế, yếu kém trên nhiều lĩnh vực khác trong đó có vấn đề bạo lực học đường, đặc biệt là vấn đề an toàn giao thông trong học sinh tại các trường trung học phổ thông trên cả nước trong tình hình hiện nay Đây là điểm mới, thể hiện quyết tâm hiện thực hóa quan điểm về vị trí, vai trò của giáo dục và đào tạo trong thực tiễn, giải quyết

“điểm nghẽn” về giao thông nói riêng trong nhiều năm qua

Trong những năm gần đây, các Nghị định của Chính phủ, các công văn, văn bản,

kế hoạch của Bộ GD&ĐT, UBND tỉnh Cà Mau, Sở GD&ĐT Cà Mau và một số công trình nghiên cứu đã được phổ biến rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng nhằm góp phần nâng cao ý thức tham gia giao thông cho người dân và đặc biệt là thanh niên, học sinh, cụ thể là:

- Nghị định số 32/2007/NQ-CP của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông

- Chỉ thị số 52/2007/CT-BGDĐT ngày 31/8/2007 về tăng cường công tác giáo dục an toàn giao thông trong các cơ sở giáo dục và đào tạo

- Kế hoạch liên tịch số 9337/KHLT/BGDĐT-BCA- BGTVT-TWĐTN- ĐTHVN ngày 4/9/2007 giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công an, TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Đài Truyền hình Việt Nam về tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, xử lý các vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông trong học sinh, sinh viên

- Nghị quyết số 16/NQ-CP, ngày 31/7/2008 của Chính phủ về từng bước khắc phục ùn tắc giao thông

- Nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 24/8/2011 của Chính phủ về tăng cường các biện pháp cấp bách trong công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông

- Kế hoạch số 33/KH-BGDĐT ngày 16 tháng 1 năm 2012 của Bộ giáo dục và Đào tạo về việc thực hiện công tác giáo dục an toàn giao thông trong trường học hưởng ứng Năm an toàn giao thông 2012

Trang 22

- Thông tư số 23/2012/TT-BCA, ngày 27/4/2012 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về khu dân cư, xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường, đạt chuẩn, đạt tiêu chuẩn “An toàn về an ninh, trật tự”

- Thông từ 04/TT-BGDĐT, ngày 28/02/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa

- Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT/BGDĐT-BCA, ngày 28/8/2015 của Booh Giáo dục và Đào tạo và Bộ Công an về việc hướng dẫn phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh bảo vệ quốc gia và bảo đảm trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật khác trong nhành giáo dục

- Công văn số 4612/BGDĐT-GDTrH, ngày 03/10/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh từ năm học 2017-2018

- Công văn số 1570/CV-BGDĐT-GDCTHSSV, ngày 20/4/2018 của Bộ Giáo dục

và Đào tạo về tổ chức thực hiện phong trào thi đua bảo đảm trật tự, an toàn giao thông năm 2018

- Công văn số 936/SGDĐT-CTTT, ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Cà Mau về việc tổ chức thực hiện phong trào thi đua bảo đảm trật

tự, an toàn giao thông năm 2018

- Công điện số 434/CĐ-TTg, ngày 06 tháng 4 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông trong dịp Lễ 30/4 và 01/5/2018

- Kế hoạch số 118/KH/-UBATGTQG, ngày 5 tháng 4 năm 2018 của ủy ban An toàn giao thông Quốc gia về việc tuyên truyền và xử lý nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện cơ giới đường bộ năm 2018 và tết dương lịch, Tết nguyên đán và Lễ hội xuân 2019

- Thực hiện công văn số 1564/BGDĐT-GDCTHSSV, ngày 19 tháng 4 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tăng cường tuyên truyền, giáo dục ATGT cho HSSV trong dịp nghỉ Lễ 30/4-01/5/2018 và quy định nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện cơ giới đường bộ năm 2018

- Kế hoạch số 935/KH-SGDĐT-CTTT, ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Giám đốc

Sở Giáo dục và Đào tạo Cà Mau về việc tăng cường tuyên truyền, giáo dục ATGT cho HSSV trong dịp nghỉ Lễ 30/4-01/5/2018 và quy định nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện cơ giới đường bộ năm 2018

- Nghị quyết số 12/NQ-CP, ngày 19/02/2019 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông và chống ùn tắc giao thông giao đoạn 2019-

Trang 23

2021

- Kế hoạch số 417/KH-BGDĐT, ngày 17/5/2019 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tăng cường công tác giáo dục an toàn giao thông trường học giai đoạn 2019-2021 Công văn số 949/SGDĐT-GDPT, ngày 21/5/2019 của Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Cà Mau về việc triển khai Kế hoạch tăng cường giáo dục an toàn giao thông trong tường học giai đoàn 2019-2021

- Nghị định số: 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ về Quy định

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt

- Kế hoạch số 01/BATGT, ngày 01 tháng 02 năm 2019, của Ban an toàn giao thông tỉnh Cà Mau về việc thực hiện Kế hoạch hoạt động bảo đảm trật tự, an toàn giao thông năm 2019

- Kế hoạch số 201/KH-SGDĐT của Sở Giáo dục và Đào tạo Cà Mau ngày 14 tháng 02 năm 2019 về Hoạt động đảm bảo trật tự, an toàn giao thông năm 2019

- Công điện số 480/CĐ-TTg ngày 23 tháng 4 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong dịp lễ 30/4-01/5/2020

- Công văn số 2632/UBND-NC vê việc thực hiện Công điện số 480/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong dịp lễ 30/4-01/5/2020

- Công văn số 756/SGDĐT-MNPT, ngày 27 tháng 4 năm 2020 của Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Cà Mau về việc triển khai thực hiện Công điện số 480/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong dịp lễ 30/4-01/5/2020

- Kế hoạch số 223/KH-BGDĐT, ngày 07/4/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tổ chức phong trào thi đua đảm bảo trật tự, an toàn giao thông trong ngành giáo dục năm 2020

- Kế hoach số 634/KH-SGDĐT, ngày 13/4/2020 của Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo về việc thực hiện phong trào thi đua đảm bảo trật tự, an toàn giao thông trong các đơn vị trường học năm 2020

- Thông báo số 315/TB-VPCP, ngày 03/09/2020 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Phó Thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình tại cuộc họp thường trực

Ủy ban an toàn giao thông quốc gia nhằm đánh giá chung tám tháng đầu năm 2020 và những nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới để kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông

Hiện nay, trên các trang thông tin điện tử, các tờ báo viết, báo hình thường xuyên

đề cập rất nhiều thông tin đến vấn đề an toàn giao thông Trong đó, phải kể đến bài viết: “An toàn giao thông và bài toán ý thức, văn hóa” của tác giả An Nhi trên

Trang 24

VnEconomy [11]; bài “Nâng cao ý thức tham gia giao thông” của Xích Tùng trên báo

Nhân dân [19]; Nguyễn Thị Thanh Vân: Biện pháp quản lý giáo dục an toàn giao thông

của Hiệu trưởng các trường tiểu học quận Đống Đa thành phố Hà Nội, năm 2008 [20]

Từ những nghiên cứu trên, các tác giả đã nêu và phân tích tình trạng mất an toàn giao thông cũng như các biện pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức trong nhà trường nhưng chưa thực sự nhiều và đi vào chiều sâu nên chưa tác động mạnh mẽ đến học sinh, phụ huynh để giáo dục họ thay đổi nhận thức và hành vi Nên nghiên cứu này là rất cần thiết trong tình hình hiện nay, vì nếu quản lý tốt hoạt động giáo dục an toàn giao thông là góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đổi mới quản lý công

tác giáo dục an toàn giao thông ở các trường trung học một cách có hiệu quả nhất

1.2 Các khái niệm cơ bản

“Quản lí là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [4]

Thuật ngữ “quản lí” (Tiếng Việt gốc Hán) bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định” Quá trình “lí” bao gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ đưa hệ vào thế “phát triển”

Cũng theo Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn thì ít nhiều cùng đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khách quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” [6] Như vậy Mác đã lột tả được bản chất quản lí là một hoạt động lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của loài người Theo tác giả Lê Quang Sơn, Quản lý hoạt động giáo dục và dạy học trong nhà trường Tài liệu chuyên đề sau đại học (2017): “Quản lý là quá trình thực hiện các công việc xây dựng kế hoạch hành động (bao gồm cả xác định mục tiêu cụ thể, chế định kế hoạch, quy định tiêu chuẩn đánh giá và thể chế hóa), sắp xếp tổ chức (bố trí tổ chức, phối hợp nhân sự, phân công công việc, điều phối nguồn lực tài chính và kỹ thuật…), chỉ đạo điều hành, kiểm soát và đánh giá kết quả, sửa chữa sai sót( nếu có) để bảo đảm hoàn thành

mục tiêu của tổ chức đã đề ra Quản lý là sự tác đ ng liên t c có tổ chức, có định hướng

Trang 25

Kế hoạch

Thông tin

Chỉ đạo

của chủ thể quản lý-người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (người bị quản

lý và các yếu t chịu ảnh hưởng tác đ ng của chủ thể quản l ) về các mặt ch nh trị, kinh

tế, văn hóa, xã h i,… bằng m t hệ th ng các luật lệ, các ch nh sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp c thể nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới m c tiêu quản lý”, [13]

Về thuật ngữ “quản lí” có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng có chung các nội hàm chủ yếu sau: Quản lí luôn gắn liền với một tổ chức (hệ thống), trong đó chủ thể quản lí tác động đến khách thể quản lí nhằm đưa tổ chức đạt mục tiêu; Khách thể quản

lí (có thể là một nhóm người hay một người bị quản lí) tiếp nhận trực tiếp hoặc gián

tiếp các tác động của chủ thể quản lí; Phải có m c tiêu quản l và m c tiêu của hoạt

đ ng tổ chức mà người quản lí và mọi người bị quản lí hướng tới; Phải có phương tiện

thực hiện mục tiêu (pháp luật, chính sách và cơ chế; bộ máy tổ chức và nhân sự; cơ sở vật chất; môi trường và thông tin cần thiết, ); Đối tượng quản lí có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, hệ thống (tổ chức); có thể là một con người, sự vật

cụ thể, một hoạt động [13]

Tóm lại, các định nghĩa trên tuy khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ, tiếp cận nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản của khái niệm quản lý: Quản lý là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung Đó là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra Theo những quan điểm phổ biến hiện nay, quản lí là một quá trình với các chức năng sau

Sơ đồ 1.1 Quá trình quản lý

Như vậy, quản lý bao giờ cũng có tính định hướng, có mục tiêu, có tổ chức, có tác động tương ứng phù hợp nhằm hướng dẫn điều khiển đối tượng quản lý để đạt

Trang 26

Mục tiêu quản lý

Khách thể quản lý

Đối tượng

bị quản lý

Côngcụ quản lý

Phương pháp quản lý

và các lực lượng trong hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống vận hành đúng tính chất, nguyên lý và đường lối phát triển giáo dục, mà tiêu điểm hội tụ là thực hiện quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến

Như vậy, QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Tuy nhiên theo nghĩa rộng của giáo dục với việc thực hiện triết lý giáo dục thường xuyên và triết lý giáo

dục suốt đời thì ngoài tiêu điểm là giáo dục thế hệ trẻ còn phải chăm lo giáo d c cho mọi

người Cho nên: QLGD là quản lý hệ th ng giáo d c bằng sự tác đ ng có m c đ ch, có

kế hoạch, có ý thức và tuân thủ các quy luật khách quan của những chủ thể QLGD lên toàn b các mắt x ch của hệ th ng giáo d c nhằm đưa hoạt đ ng giáo d c của cả hệ

th ng đạt tới m c tiêu giáo d c (xây dựng và hoàn thiện nhân cách người lao đ ng phù

h p với yêu cầu phát triển KT-XH trong từng giai đoạn c thể”[13]

Theo tác giả Trần Kiểm, khái niệm quản lý giáo dục đối với cấp vĩ mô là:

"QLGD đư c hiểu là hệ th ng những tác đ ng tự giác, có ý thức, có m c đ ch, có kế

hoạch, có hệ th ng, h p quy luật của chủ quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, CMHS và các lực lư ng XH trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lư ng và hiệu quả m c tiêu GD của nhà trường" [5]

Các yếu tố này được thể hiện trong sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.2 Các yếu t quản lý giáo d c

QLGD chịu sự chi phối và tác động của các quy luật xã hội Bởi vì hệ thống giáo dục là một phân hệ trong toàn bộ hệ thống xã hội Chính vì thế mà QLGD cũng có các

Trang 27

chức năng như kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra Đặc điểm khác biệt của QLGD là quản lí con người với những đặc điểm tâm sinh lí, năng lực, phẩm chất, nhân cách đa dạng phức tạp Kết quả giáo dục không hoàn toàn phụ thuộc vào nhà giáo mà phục thuộc cả vào người học, vào nhận thức và thái độ học tập của họ Bởi người học vừa là đối tượng vừa là chủ thể của hoạt động giáo dục Sản phẩm của giáo dục là nhân cách con người, vì vậy không được phép tạo ra phế phẩm Ngoài ra QLGD phải phối kết hợp đồng bộ, chặt chẽ ba môi trường giáo dục: gia đình-nhà trường-cộng đồng xã hội Trong đó nhà trường giữ vai trò trung tâm và có tính quyết định tới chất lượng giáo dục

1.2.3 An toàn giao thông

Theo từ điển Tiếng Việt: “An toàn là đảm bảo t t, không gây thiệt hại dù lớn hay

nhỏ về vật chất và t nh mạng của con người” An toàn giao thông là khái niệm luôn

gắn liền với hoạt động của con người trong lĩnh vực giao thông [15] Theo tác giả Đỗ

Đình Hoà (Học viện cảnh sát nhân dân) thì: “An toàn giao thông là sự việc đảm bảo

không có những việc xảy ra ngoài ý mu n chủ quan của con người Khi các đ i tư ng tham gia giao thông, đang hoạt đ ng trên địa bàn giao thông công c ng tuân thủ các quy tắc an toàn giao thông, không có sự c gây thiệt hại về người và tài sản cho xã

h i” [7]

Đây là một khái niệm có tính chất khái quát cao và có ý nghĩa khoa học vì an toàn giao thông luôn gắn với hành vi của con người trong lĩnh vực giao thông song không nhất thiết phải có phương tiện giao thông (VD: Đi bộ trên vỉa hè) Quan niệm như vậy sẽ khái quát hơn so với việc coi an toàn giao thông là “bảo đảm an toàn khi đi trên các phương tiện giao thông” như một số tác giả khác

An toàn giao thông phải luôn gắn liền với mọi người không kể ở đâu, lúc nào khi tham gia giao thông An toàn giao thông gồm:

An toàn giao thông đường bộ

An toàn giao thông đường sắt

An toàn giao thông đường thuỷ (gồm nội thuỷ và hằng hải)

An toàn giao thông hàng không

Bên cạnh đó còn có những vấn đề an toàn giao thông hỗn hợp như đường sắt và đường bộ

Như vậy, an toàn giao thông là các hành vi văn hóa khi tham gia giao thông bao gồm việc chấp hành luật giao thông, có ý thức khi tham gia giao thông An toàn giao thông còn là sự an toàn đối với người tham gia lưu thông trên các phương tiện đường

bộ, hàng hải, hàng không, là cư xử phù hợp khi lưu thông trên các phương tiện giao thông

Trang 28

1.2.4 Giáo dục an toàn giao thông

Giáo dục là một quá trình dạy và học nhằm chuẩn bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết hoặc làm thay đổi hành vi có hại bằng hành vi có lợi Giáo dục cũng là quá trình giao tiếp hai chiều qua đó người dạy và người học cùng chia xẻ hiểu biết, kinh nghiệm và cùng học tập lẫn nhau Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày “Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người”

Có nhiều người đưa ra các khái niệm về giáo dục an toàn giao thông:

Giáo dục an toàn giao thông là quá trình giao tiếp giữa người dạy và người học

để chia xẻ những kiến thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực giao thông, nhằm định hướng, kêu gọi ý thức giao thông cao nhất cho mỗi cá nhân người học Ở điều kiện kinh tế xã hội và nhu cầu hiện nay, giáo dục an toàn giao thông cũng có thể xem là một tính cộng đồng khi tất cả các hoạt động xã hội đều có lồng ghép sự kêu gọi ý thức tham gia giao thông ở mỗi người

Giáo dục an toàn giao thông là quá trình hình thành và phát triển kĩ năng tham gia giao thông an toàn dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội Ví dụ: Ảnh hưởng của các hoạt động đa dạng nội khóa, ngoại khóa của nhà trường; ảnh hưởng của lối dạy bảo, nếp sống trong gia đình; ảnh hưởng của sách vở, tạp chí; ảnh hưởng của những tấm gương của người khác…

Giáo dục an toàn giao thông còn được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích xác định được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) của nhà trường nhằm phát triển kĩ năng và ý thức tham gia giao thông cho học sinh

Ở lứa tuổi học sinh trung học phổ thông, giáo dục an toàn giao thông được hiểu là quá trình truyền đạt những kiến thức và kỹ năng cần thiết về giao thông để mỗi cá thể học sinh khi tham gia giao thông đều có sự định hướng, ý thức hình thành và sự chấp hành, tuân thủ các luật giao thông đường bộ do nhà nước quy định Đề từ đó làm căn cứ cho việc phát triển ý thức học tập hành vi giao thông tự chủ ở mỗi cá nhân các em học sinh về sau

1.2.5 Quản lý giáo dục an toàn giao thông

Cũng như quản lí giáo dục nói chung, quản lí giáo dục an toàn giao thông là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình Mục đích giáo dục giáo dục an toàn giao thông cho học sinh cũng chính là một trong những mục đích của quản lý, đây là mục đích có tính khách quan Nhà quản lý cùng với đội ngũ giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội… bằng hành động của mình hiện thực hóa

Trang 29

mục đích đó trong hiện thực

Như vậy, "Quản lý giáo d c an toàn giao thông đư c hiểu là hệ th ng những tác

đ ng tự giác, có ý thức, có m c đ ch, có kế hoạch, có hệ th ng, h p quy luật của chủ quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha me học sinh và các lực ư ng xã h i trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lư ng và hiệu quả

m c tiêu giáo d c an toàn giao thông cho học sinh của nhà trường"

Từ đây ta có thể khái quát Quản lý giáo dục an toàn giao thông là sự tác động chủ đích, có căn cứ khoa học, hợp quy luật và phù hợp các điều kiện khách quan… của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm phát huy sức mạnh các nguồn giáo dục, từ

đó đảm bảo các hoạt động của tổ chức hệ thống giáo dục đạt được mục tiêu giáo dục

an toàn giao thông cho học sinh với chất lượng, hiệu quả cao nhất

1.3 Hoạt động giáo dục an toàn giao thông trong nhà trường THPT

1.3.1 Đặc điểm của học sinh THPT

* Về vị tr , ý nghĩa của lứa tuổi học sinh THPT

Tuổi thanh niên cũng thể hiện tính chất phức tạp và nhiều mặt của hiện tượng, nó được giới hạn ở hai mặt: sinh lí và tâm lý Đây là vấn đề khó khăn và phức tạp vì không phải lúc nào nhịp điệu và các giai đoạn của sự phát triển tâm sinh lý cũng trùng hợp với các thời kỳ trưởng thành về mặt xã hội Có nghĩa là sự trưởng thành về mặt thể chất, nhân cách trí tuệ, năng lực lao động sẽ không trùng hợp với thời gian phát triển của lứa tuổi Chính vì vậy mà các nhà tâm lý học Macxit cho rằng: Khi nghiên cứu tuổi thanh nên thì cần phải kết hợp với quan điểm của tâm lý học xã hội và phải tính đến quy luật bên trong của sự phát triển lứa tuổi Do sự phát triển của xã hội nên

sự phát triển của trẻ em ngày càng có sự gia tốc, trẻ em lớn nhanh hơn và sự tăng trưởng đầy đủ diễn ra sớm hơn so với các thế hệ trước, nên tuổi dậy thì bắt đầu và kết thúc sớm hơn khoảng 2 năm Vì vậy, tuổi thanh niên cũng bắt đầu sớm hơn Nhưng việc phát triển tâm lý của tuổi thanh niên không chỉ phụ thuộc vào giới hạn lứa tuổi, mà trước hết là do điều kiện xã hội (vị trí của thanh niên trong xã hội; khối lượng tri thức,

kỹ năng kỹ xảo mà họ nắm được và một loạt nhân tố khác…) có ảnh hưởng đến sự phát triển lứa tuổi Trong thời đại ngày nay, hoạt động lao động và xã hội ngày càng phức tạp, thời gian học tập của các em kéo dài làm cho sự trưởng thành thực sự về mặt xã hội càng đến chậm Do đó có sự kéo dài của thời kì tuổi thanh niên và giới hạn lứa tuổi mang tính không xác định (ở mặt này các em được coi là người lớn, nhưng mặt khác thì lại không) Điều đó cho ta thấy rằng thanh niên là một hiện tượng tâm lý xã hội

* Yếu t ảnh hưởng đến sự phát triển học sinh THPT

- Đặc điểm về sự phát triển thể chất:

Tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Sự phát

Trang 30

triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cân đối Cơ thể của các em đã đạt tới mức phát triển của người trưởng thành, nhưng sự phát triển của các

em còn kém so với người lớn Các em có thể làm những công việc nặng của người lớn Hoạt động trí tuệ của các em có thể phát triển tới mức cao Khả năng hưng phấn và ức chế ở vỏ não tăng lên rõ rệt có thể hình thành mối liên hệ thần kinh tạm thời phức tạp hơn Tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí có điều kiện phát triển mạnh Ở tuổi này, các em dễ bị kích thích và sự biểu hiện của nó cũng giống như ở tuổi thiếu niên Tuy nhiên tính dễ bị kích thích này không phải chỉ do nguyên nhân sinh lý như ở tuổi thiếu niên mà nó còn do cách sống của cá nhân (như hút thuốc lá, không giữ điều độ trong học tập, lao động, vui chơi…)

Nhìn chung ở tuổi này các em có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổi thiếu niên Thể chất của các em đang ở độ tuổi phát triển mạnh mẽ rất sung sức, nên người

ta hay nói: “Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu” Sự phát triển thể chất ở lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và nhân cách đồng thời nó còn ảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của các em

- Về điều kiện sống và hoạt động:

Vị trí trong gia đình: Trong gia đình, các em đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm như người lớn, cha mẹ bắt đầu trao đổi với các em về một số vấn đề quan trọng trong gia đình Các em cũng thấy được quyền hạn và trách nhiệm của bản thân đối với gia đình Các em bắt đầu quan tâm chú ý đến nề nếp, lối sống sinh hoạt và điều kiện kinh tế chính trị của gia đình Có thể nói rằng cuộc sống của các em trong độ tuổi này

là vừa học tập vừa lao động

Vị trí trong nhà trường: Ở nhà trường, học tập vẫn là hoạt động chủ đạo nhưng tính chất và mức độ thì phức tạp và cao hơn hẳn so với tuổi thiếu niên Đòi hỏi các em

tự giác, tích cực độc lập hơn, phải biết cách vận dụng tri thức một cách sáng tạo Nhà trường lúc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nội dung học tập không chỉ nhằm trang bị tri thức và hoàn chỉnh tri thức mà còn có tác dụng hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cho các em Việc gia nhập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong nhà trường đòi hỏi các em phải tích cực độc lập, sáng tạo, phải có tính nguyên tắc, có tinh thần trách nhiệm, biết phê bình và tự phê bình

Vị trí ngoài xã hội: Xã hội đã giao cho lứa tuổi học sinh THPT quyền công dân, quyền tham gia mọi hoạt động bình đẳng như người lớn Tất cả các em đã có suy nghĩ

về việc chọn nghề Khi tham gia vào hoạt động xã hội các em được tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, quan hệ xã hội được mở rộng, các em có dịp hòa nhập và cuộc sống đa dạng phức tạp của xã hội giúp các em tích lũy vốn kinh nghiệm sống để chuẩn bị cho cuộc sống tự lập sau này

Trang 31

Tóm lại: Ở lứa tuổi học sinh THPT, các em có hình dáng người lớn, có những nét của người lớn nhưng chưa phải là người lớn, còn phụ thuộc vào người lớn Thái độ đối

xử của người lớn với các em thường thể hiện tính chất hai mặt đó là: Một mặt người lớn luôn nhắc nhở rằng các em đã lớn và đòi hỏi các em phải có tính độc lập, phải có ý thức trách nhiệm và thái độ hợp lý Nhưng mặt khác lại đòi hỏi các em phải thích ứng với những đòi hỏi của người lớn

* Về hoạt đ ng học tập và sự phát triển tr tuệ:

- Hoạt động học tập:

Hoạt động học tập vẫn là hoạt động chủ đạo đối với học sinh THPT nhưng yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và độc lập trí tuệ của các em Muốn lĩnh hội được sâu sắc các môn học, các em phải có một trình độ tư duy khái niệm, tư duy khái quát phát triển đủ cao Những khó khăn trở ngại mà các em gặp thường gắn với sự thiếu kĩ năng học tập trong những điều kiện mới chứ không phải với sự không muốn học như nhiều người nghĩ Hứng thú học tập của các em ở lứa tuổi này gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp nên hứng thú mang tính đa dạng, sâu sắc và bền vững hơn Thái độ của các em đối với việc học tập cũng có những chuyển biến rõ rệt Học sinh đã lớn, kinh nghiệm của các em đã được khái quát, các em ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời tự lập Thái độ có ý thức đối với việc học tập của các em được tăng lên mạnh mẽ Học tập mang ý nghĩa sống còn trực tiếp vì các em đã ý thức rõ ràng được rằng: cái vốn những tri thức, kĩ năng và kĩ xảo hiện có,

kĩ năng độc lập tiếp thu tri thức được hình thành trong nhà trường phổ thông là điều kiện cần thiết để tham gia có hiệu quả vào cuộc sống lao động của xã hội Điều này đã làm cho học sinh THPT bắt đầu đánh giá hoạt động chủ yếu theo quan điểm tương lai của mình Các em bắt đầu có thái độ lựa chọn đối với từng môn học Rất hiếm xảy ra trường hợp có thái độ như nhau với các môn học Do vậy, giáo viên phải làm cho các

em học sinh hiểu ý nghĩa và chức năng giáo dục phổ thông đối với giáo dục nghề nghiệp và đối với sự phát triển nhân cách toàn diện của học sinh

Mặt khác, ở lứa tuổi này các hứng thú và khuynh hướng học tập của các em đã trở nên xác định và được thể hiện rõ ràng hơn Các em thường bắt đầu có hứng thú ổn định đặc trưng đối với một khoa học, một lĩnh vực tri thức hay một hoạt động nào đó Điều này đã kích thích nguyện vọng muốn mở rộng và đào sâu các tri thúc trong các lĩnh vực tương ứng Đó là những khả năng rất thuận lợi cho sự phát triển năng lực của các em Nhà trường cần có những hình thức tổ chức đặc biệt đối với hoạt động của học sinh THPT nhất là học sinh cuối cấp để tạo ra sự thay đổi căn bản về hoạt động tư duy,

về tính chất lao động trí óc của các em

Trang 32

- Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ:

Lứa tuổi học sinh THPT là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển trí tuệ Do

cơ thể các em đã được hoàn thiện, đặc biệt là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ

Cảm giác và tri giác của các em đã đạt tới mức độ của người lớn Quá trình quan sát gắn liền với tư duy và ngôn ngữ Khả năng quan sát một phẩm chất cá nhân cũng bắt đầu phát triển ở các em Tuy nhiên, sự quan sát ở các em thường phân tán, chưa tập trung cao vào một nhiệm vụ nhất định, trong khi quan sát một đối tượng vẫn còn mang tính đại khái, phiến diện đưa ra kết luận vội vàng không có cơ sở thực tế

Trí nhớ của học sinh THPT cũng phát triển rõ rệt Trí nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Các em đã biết sắp xếp lại tài liệu học tập theo một trật

tự mới, có biện pháp ghi nhớ một cách khoa học Có nghĩa là khi học bài các em đã biết rút ra những ý chính, đánh dấu lại những đoạn quan trọng, những ý trọng tâm, lập dàn ý tóm tắt, lập bảng đối chiếu, so sánh Các em cũng hiểu được rất rõ trường hợp nào phải học thuộc trong từng câu, từng chữ, trường hợp nào càn diễn đạt bằng ngôn

từ của mình và cái gì chỉ cần hiểu thôi, không cần ghi nhớ Nhưng ở một số em còn ghi nhớ đại khái chung chung, cũng có những em có thái độ coi thường việc ghi nhớ máy móc và đánh giá thấp việc ôn lại bài

Hoạt động tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh Các em đã có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn Năng lực phân tích, tổng hợ, so sánh, trừu tượng hóa phát triển cao giúp cho các em có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng Các em thích khái quát, thích tìm hiểu những quy luật và nguyên tắc chung của các hiện tượng hàng ngày, của những tri thức phải tiếp thu… Năng lực tư duy phát triển đã góp phần nảy sinh hiện tượng tâm lý mới đó là tính hoài nghi khoa học Trước một vấn đề các em thường đặt những câu hỏi nghi vấn hay dùng lối phản đề để nhận thức chân lý một cách sâu sắc hơn Thanh niên cũng thích những vấn đề có tính triết lí vì thế các em rất thích nghe và thích ghi chép những câu triết lý

* ặc điểm nhân cách chủ yếu của học sinh THPT:

- Sự phát triển của tự ý thức: Sự tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát

triển nhân cách của học sinh THPT, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này Biểu hiện của sự tự ý thức là nhu cầu tìm hiểu và tự đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo chuẩn mực đạo đức của xã hội, theo quan điểm về mục đích cuộc sống… Điều đó khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, những phẩm chất nhân cách và năng lực riêng Các em không chỉ nhận thức về cái tôi hiện tại của mình mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội tương lai Các em không

Trang 33

chỉ chú ý đến vẻ bên ngoài mà còn đặc biệt chú trọng tới phẩm chất bên trong Các em

có khuynh hướng phân tích và đánh giá bản thân mình một cách độc lập dù có thể có sai lầm khi đánh giá Ý thức làm người lớn khiến các em có nhu cầu khẳng định mình, muốn thể hiện cá tính của mình một cách độc đáo, muốn người khác quan tâm, chú ý đến mình Nhìn chung thanh niên mới lớn có thể tự đánh giá bản thân một cách sâu sắc nhưng đôi khi vẫn chưa đúng đắn nên các em vẫn cần sự giúp đỡ của người lớn

- Sự hình thành thế giới quan: Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong tâm lý thanh niên vì các em sắp bước vào cuộc sống xã hội, các em có nhu cầu tìm hiểu khám phá để có quan điểm về tự nhiên, xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc ứng

xử, những định hướng giá trị về con người Các em quan tâm đến nhiều vấn đề như: thói quen đạo đức, cái xấu cái đẹp, cái thiện cái ác, quan hệ giữa cá nhân với tập thể, giữa cống hiến với hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ trách nhiệm… Tuy nhiên vẫn có em chưa được giáo dục đầy đủ về thế giới quan, chịu ảnh hưởng của tư tưởng bảo thủ lạc hậu như: có thái độ coi thường phụ nữ, coi khinh lao động chân tay, ý thức

tổ chức kỉ luật kém, thích có cuộc sống xa hoa, hưởng thụ hoặc sống thụ động… Nhìn chung, ở tuổi này các em đã có ý thức xây dựng lý tưởng sống cho mình, biết xây dựng hình ảnh con người lý tưởng gần với thực tế sinh hoạt hàng ngày Các em có thể hiểu sâu sắc và tinh tế những khái niệm, biết xử sự một cách đúng đắn trong những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau nhưng có khi các em lại thiếu tin tưởng vào những hành vi đó

- Xu hướng nghề nghiệp: Thanh niên đã xuất hiện nhu cầu lựa chọn vị trí xã hội trong tương lai cho bản thân và các phương thức đạt tới vị trí xã hội ấy Xu hướng nghề nghiệp có tác dụng thúc đẩy các mặt hoạt động và điều chỉnh hoạt động của các

em Càng cuối cấp học thì xu hướng nghề nghiệp càng được thể hiện rõ rệt và mang tính ổn định hơn Nhiều em biết gắn những đặc điểm riêng về thể chất, về tâm lý và khả năng của mình với yêu cầu của nghề nghiệp Tuy vậy, sự hiểu biết về yêu cầu nghề nghiệp của các em còn phiến diện, chưa đầy đủ, vì cậy công tác hướng nghiệp cho học sinh có ý nghĩa quan trọng Qua đó giúp cho học sinh lựa chọn nghề nghiệp sao cho phù hợp với hứng thú, năng lực và phù hợp với yêu cầu của xã hội

- Hoạt động giao tiếp: Các em khao khát muốn có những quan hệ bình đẳng trong cuộc sống và có nhu cầu sống cuộc sống tự lập Tính tự lập của các em thể hiện ở ba mặt: tự lập về hành vi, tự lập về tình cảm và tự lập về đạo đức, giá trị; Nhu cầu giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi trong tập thể phát triển mạnh Trong tập thể, các em thấy được vị trí, trách nhiệm của mình và các em cũng cảm thấy mình cần cho tập thể Khi

giao tiếp trong nhóm bạn sẽ xảy ra hiện tượng phân cực – có những người được nhiều

người yêu mến và có những người ít được bạn bè yêu mến Điều đó làm cho các em

Trang 34

phải suy nghĩ về nhân cách của mình và tìm cách điều chỉnh bản thân; Tình bạn đối với các em ở tuổi này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Tình bạn thân thiết, chân thành sẽ cho phép các em đối chiếu được những thể nghiêm, ước mơ, lí tưởng, cho phép các em học được cách nhận xét, đánh giá về mình Nhưng tình bạn ở các em còn

mang màu sắc xúc cảm nhiều nên thường có biểu hiện lí tưởng hóa tình bạn

1.3.2 Mục đích, ý nghĩa của giáo dục an toàn giao thông cho học sinh THPT

Mục tiêu giáo dục an toàn giao thông ở trường THPT là một bộ phận quan trọng của quá trình giáo dục nói chung Giáo dục an toàn giao thông góp phần thực hiện, mục đích chung của quá trình giáo dục, hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu nhưng rất quan trọng của nhân cách người công dân để các em nghiêm túc tuân thủ luật pháp, hiểu được tầm quan trọng của vấn đề ATGT

Giáo dục an toàn giao thông ở bậc THPT nhằm đạt được mục đích sau:

- Giúp học sinh phát triển nhận thức an toàn giao thông và các kỹ năng thực tế để

áp dụng vào các hành vi hàng ngày khi các em đi trên đường Học sinh phải biết về luật và hệ thống phương tiện giao thông, VD: Tránh xe thì phải tránh về bên phải, vượt

xe là bên trái Khi sang đường phải đi đúng phần đường cho người đi bộ và tín hiệu đèn xanh mới được đi Phải bắt đầu từ những cái sơ khai nhất như đèn đỏ phải dừng lại, đèn xanh được đi

- Từng bước xây dựng thói quen ứng xử có văn hoá, đúng pháp luật, xoá bỏ những thói quen tùy tiện vi phạm quy tắc giao thông, hình thành ý thức tự giác tuân thủ pháp luật khi tham gia giao thông góp phần xây dựng môi trường giao thông trật

tự, an toàn, văn minh, thân thiện Có thái độ không đồng tình với những hành vi vi phạm luật giao thông

Hướng dẫn học sinh biết cách phòng tránh tai nạn giao thông khi đi trên đường phố có các tình huống phức tạp, biết lựa chọn đường đi bảo đảm an toàn và có thái độ ứng xử văn minh khi tham gia giao thông

1.3.3 Nội dung giáo dục an toàn giao thông trong trường THPT

Giáo dục an toàn giao thông cho các em học sinh THPT nhằm xây dựng ý thức giao thông cho các em, hình thành những thói quen tốt sau này Vì vậy, nội dung giáo dục pháp luật về an toàn giao thông cho học sinh tập trung nâng cao về nhận thức pháp luật và tâm lý pháp luật cho các em, cụ thể là:

- Bám sát nội dung của Luật giao thông đường bộ (Luật số: 23/2008/QH 12, ngày 13/11/2008), cùng những nghị định của Thủ tướng chính phủ, các văn bản dưới luật khác liên quan đến đảm bảo an toàn giao thông Truyền thụ cho học sinh những hiểu biết có tính phổ biến, cần thiết về luật giao thông đường bộ và những quy định về giao thông đường bộ một cách dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp với nhận thức của các em

Trang 35

- Lấy việc hình thành kỹ năng, hành vi đúng làm cơ bản Giúp cho học sinh có hành vi đúng và biết cách xử lý các tình huống giao thông theo quy định của Luật giao thông đường bộ, khi đi đường học sinh không cần thuộc câu chữ trong luật nhưng có hành vi đúng theo quy định của Luật giao thông đường bộ

Chủ đề giáo dục an toàn giao thông xoay quanh 8 nội dung sau:

Đi bộ và qua đường an toàn trên đường phố, trục lộ giao thông

An toàn khi ngồi trên xe máy, xe đạp

Cách đi xe đạp an toàn trên đường (kỹ năng đi xe an toàn)

An toàn khi đi trên các phương tiện giao thông công cộng

Hiểu biết các hiệu lệnh điều khiển và chỉ huy giao thông (Điều khiển giao thông của cảnh sát giao thông)

Đèn tín hiệu giao thông, biển báo hiệu giao thông, vạch kẻ trên đường

Những điều kiện an toàn, chưa an toàn của đường phố

Các loại đường giao thông và phương tiện giao thông

Tìm hiểu các nguyên nhân cơ bản gây tai nạn giao thông, cách phòng tránh tai nạn giao thông, trách nhiệm của học sinh trong việc đảm bảo an toàn giao thông

Hiệu lệnh của tín hiệu đèn giao thông, hiệu lệnh và chỉ dẫn của báo hiệu đường bộ, hiệu lệnh của CSGT; văn hóa khi tham gia giao thông

1.3.4 Các phương pháp, hình thức giáo dục an toàn giao thông trong trường THPT

1 Phối hợp với Công an địa phương phổ biến, giáo dục pháp luật về trật tự an

toàn giao thông cho học sinh là một trong những nhiệm vụ hàng đầu nhằm hiện thực hóa chủ trương xây dựng "Văn hóa giao thông"

2 Tổ chức giảng dạy thông qua hoạt động GDNGLL:

- Tổ chức hội thi tuyên truyền, vẽ tranh thể hiện những hiểu biết về ATGT

- Tổ chức sân chơi về ATGT nhằm thực hành kỹ năng ATGT đường bộ

- Sân khấu hóa: tổ chức luyện tập và diễn những tiểu phẩm vui, hội thi rung chuông vàng

- Hướng dẫn các nội dung về kỹ năng nhân diện và đối phó với các tình huống nguy hiểm khi tham gia giao thông

3 Dạy lồng ghép, tích hợp vào các môn học như môn Giáo dục công dân, Lịch sử, Địa lý…

4 Tham gia cuộc thi “ATGT cho nụ cười ngày mai”, thi tìm hiểu về ATGT trên

Internet do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động

5 Tổ chức ký cam kết thực hiện ATGT giữa trường, học sinh, gia đình

6 Lồng ghép vào việc giáo dục an toàn giao thông trong các buổi sinh hoạt cuối

Trang 36

tuần

7 Xây dựng Kế hoạch thi đua nói không với vi phạm an toàn giao thông giữa các đơn vị lớp

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông trong nhà trường THPT

1.4.1 Tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông trong nhà trường THPT

Đề làm tốt nhiệm vụ, quyền hạn của người Hiệu trưởng cần phải thực hiện tốt vai trò chủ yếu của nhà quản lý, nhà giáo dục, nhà sư phạm, nhà hoạt động chính trị - văn hóa – xã hội, nhà ngoại giao và quan trọng hơn là nhà tổ chức trong các hoạt động thực tiễn Như vậy, luật giáo dục quy định và ban hành điều lệ nhà trường, điều lệ trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng như sau [17]:

Tổ chức bộ máy nhà trường

- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học

- Quản lý giáo viên, nhân viên, học sinh; quản lý chuyên môn; công công tác, kiểm tra đánh giá viêc thực hiện nhiệm vụ của giáo viên, nhân viên

- Quản lý tổ chức giáo dục học sinh

- Quản lý hành chính, tài chính, tài sản

- Thực hiện tốt chế độ chính sách của nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường

- Được học các lớp chuyên môn, nghiệp vụ, hưởng các chế độ hiện hành

Với những nhiệm vụ và quyền hạn to lớn nêu trên, người Hiệu trưởng phải thường xuyên rèn luyện, phấn đấu thực hiện tốt các vai trò sau đây:

- Hiệu trưởng là người quản lý, là người đại diện nhà trường về mặt hành chính, thực thi các hoạt động quản lý trường học dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật

- Hiệu trưởng là người tổ chức trong các hoạt động thực tiễn, luôn tìm tòi, đổi mới hoạt động quản lý, đổi mới các hoạt động sư phạm của nhà trường

- Hiệu trưởng là nhà sư phạm, nhà giáo dục có tâm hồn, thường xuyên chăm lo việc nâng cao năng lực sư phạm và bồi dưỡng tâm hồn nhà giáo cho đội ngũ, kèm theo

đó là sự nhạy cảm là đối xử khéo léo và có khả năng cảm hóa con người

- Hiệu trưởng là nhà hoạt động chính trị xã hội, còn là nhà văn hóa, là người đi đầu trong công tác xã hội hóa giáo dục, là người duy trì, phát huy và sáng tạo các định hướng của nhà trường

- Hiệu trưởng còn là nhà ngoại giao Trong công cuộc đổi mới hiện nay, người Hiệu trưởng cần phải linh hoạt, vận dụng ch phù hợp với tình hình, nhất là nguồn kinh phí khi được cấp thì có hạn, nên Hiệu trưởng phải biết tận dụng các cơ hội để khai thác

Trang 37

nguồn kinh phí to lớn ngoài xã hội Trong thực tiễn hiện nay Hiệu trưởng cần tranh thủ thời gian, sức lực cho công tác đối ngoại, tìm kiếm nhiều nguồn lực hỗ trợ cho hoạt động của nhà trường

1.4.2 Chức năng quản lý giáo dục an toàn giao thông trong trường THPT

Công tác quản lý nói chung có 4 chức năng cơ bản: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra Trong thực tiễn, các nhà quản lý dù ở bất kì cấp độ nào cũng đều rất quan trọng vấn đề kích thích, động viên, tạo động lực Do vậy, hoạt động quản lý của người Hiệu trưởng cần lưu ý 5 vấn đề cơ bản đó là: kích thích động viên tạo động lực, kế hoạch hóa, tổ chức hoạt động chỉ đạo, chỉ đạo hoạt động và kiểm tra đánh giá

Lập kế hoạch là khâu đầu tiên và rất quan trọng của nhà quản lý, từ kế hoạch sẽ giúp cho việc định hình các nội dung công việc và thời gian cần thực hiện trong quá trình hoạt động

Tổ chức thực hiện là cụ thể hóa các nội dung công việc của kế hoạch đã đề ra Trong quá trình thực hiện có thể sẽ phát sinh những vấn đề mới cần điều chỉnh, bổ sung, do đó nhà quản lý cần bám sát, theo dõi thường xuyên để có những định hướng phù hợp

Chỉ đạo hoạt động là quán trình tác động của Hiệu trưởng tới mọi thành viên của nhà trường, nhằm biến những yêu cầu chung về công tác giáo dục an toàn giao thông của nhà trường thành nhu cầu hoạt động của từng người, trên cơ sở đó mọi người tích cực tự giác tham gia và đem hết khả năng của mình để hoàn thành tốt công tác này

Do vậy, chức năng chỉ đạo về công tác giáo dục an toàn giao thông là cơ sở để phát huy các động lực cho việc thực hieenjc ác mục tiêu giáo dục an toàn giao thông trong nhà trường THPT hiện nay

Kiểm tra công tác giáo dục an toàn giao thông là quá trình xem xét thực tiễn, đánh giá thực trạng về công tác giáo dục an toàn giao thông Khuyến khích những nhân tố tích cực, phát huy những sai lệch và đưa cấc quyết định điều chỉnh kịp thời nhằm giúp các bộ phận và các cá nhân đạt được các mục tiêu về công tác giáo dục an toàn giao thông đề ra

Ngoài các chức năng cơ bản thì kích thích, động viên có vai trò vô cùng quan trọng đối với nhà quản lý hiện nay, nên Hiệu trưởng có thể linh hoạt và sử dụng một cách kịp thời sẽ tạo động lực vô cùng to lớn cho việc hoàn thành các nhiệm vụ đề ra

1.4.3 Nội dung quản lý giáo dục an toàn giao thông trong trường THPT

Hiệu trưởng là người được xã hội giao trọng trách và quyền hành nhất định, là người nắm vững các chủ trương, đường lối của Đảng, nhà nước, là người trực tiếp quản lý và điều hành một đội ngũ nhân lực, được cung cấp về tài lực, vật lực, thông tin… đó chính là những yếu tố mà người Hiệu trưởng cần lựa chọn và sử dụng trong

Trang 38

hoạt động quản lý của mình một cách có hiệu quả Nội dung quản lý hoạt động chủ yếu của Hiệu trưởng bao gồm:

- Quản lí việc xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình giáo dục ATGT trong

kế hoạch giáo dục tổng thể, kế hoạch hoạt động tích hợp và toàn diện của nhà trường Hiệu trưởng cần phổ biến và tác động trực tiếp đến từng GV về những vấn đề cơ bản nhất để giáo viên và các cán bộ phụ trách thực hiện Ngoài ra, hiệu trưởng phải hướng dẫn GV quy trình xây dựng kế hoạch, giúp họ biết cách xác định mục tiêu đúng đắn và biết tìm ra các biện pháp để đạt các mục tiêu đã đề ra

- Quản lí việc soạn bài giáo dục tích hợp ATGT qua các môn học chính khóa và chuẩn bị giờ lên lớp: Soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp là lao động sáng tạo của người

GV nhằm tìm tòi, suy nghĩ, lựa chọn, quyết đinh mục tiêu, nội dung, phương tiện, phương pháp hình thức lên lớp phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường, của địa phương

- Quán lý các hoạt động ngoài giờ như: chào cờ, sinh hoạt chuyên đề ATGT, các hoạt động phới hợp với công an địa phương Hiệu trưởng theo dõi tình hình, chất lượng các buổi sinh hoạt qua đó để nắm tình hình và có những chỉ đạo điều chỉnh sao cho phù hợp nhất với tình hình thực tiễn của nhà trường

- Quản lí các hoạt động dã ngoại, các hoạt động thực tế trãi nghiệm, quan sát các loại hình giao thông

- Quản lí việc GV kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và các buổi sinh hoạt của

giáo viên cũng như học sinh Các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh dựa trên các báo cáo tổng hợp của các bộ phận và tình hình thực tế tham gia giao thông của học sinh, qua đó rút ra kinh nghiệm trong công tác quản lí của hiệu trưởng cũng như để điều chỉnh kịp thời

- Quản lý hệ thống thông tin và môi trường dạy học có thể trở thành sức mạnh của người quản lý, nếu Hiệu trưởng biết định hướng đúng và biết vận động thuyết phục mọi người xây dựng một môi trường sư phạm lành mạnh Vì thế, hệ thống thông tin và môi trường dạy học vừa là điều kiện vừa là phương tiện cần thiết để thực hiện

mục đích giáo dục an toàn giao thông

Ngoài ra, quản lý các chủ trương, Chỉ thị, Nghị quyết của cấp trên về hoạt động giáo dục an toàn giao thông chỉ có thể đi vào thực tiễn nhà trường phù hợp với khả năng và điều kiện làm việc cụ thể của thầy và trò, với sự đồng thuận của cha mẹ học sinh trong môi trường xã hội địa phương cụ thể Các quy định nội bộ chính là linh hồn của công tác quản lý nhà trường nói chung và quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông nói riêng Bộ máy tổ chức nhân lực dạy học đó là cơ cấu về bộ máy quản lý các

bộ phận chuyên môn và nghiệp vụ của nhà trường, đó là đội ngũ cán bộ quản lý, giáo

Trang 39

viên, học sinh, nhân viên phục vụ dạy học và các lực lượng khác tham gia giáo dục Hiệu trưởng khi giao nhiệm vụ và quyền hạn cho từng người, từng bộ phận phải r ỏ ràng, hợp lý, không có sự chồng chéo, quyền hạn phải tương xứng với trách nhiệm Việc giáo dục an toàn giao thông đòi hỏi học sinh phải tăng cường thực hành nhiều hơn, tự lực hoạt động khám phá nhiều hơn, không thể thực hiện giáo dục an toàn giao thông nếu không có đủ điều kiện thiết yếu về cơ sở vật chất và điều kiện dạy học Vì vậy, nguồn tài lực, vật lực dạy học là phương tiện tất yếu để thực hiện giáo dục an toàn

1.5.1.2 Giáo viên

Giáo viên là yếu tố quan trọng nhất cho chất lượng giảng dạy bởi vì giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, dẫn dắt người học tiếp cận các tri thức, kiến thức theo mục đích của chương trình giáo dục an toàn giao thông Do đó giáo viên phải trang bị chuẩn về chuyên môn, kỹ năng cũng như những kinh nghiệm hiểu biết trong thực tiễn Giàu kiến thức thực tiễn giúp giáo viên làm sinh động bài giảng, cũng như làm sinh động, phong phú các hình thức tổ chức hoạt động an toàn giao thông, ví dụ từ thực tiễn

Cùng với đó, năng lực tổ chức hoạt động giáo dục an toàn giao thông cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả giáo dục Biểu hiện cụ thể của năng lực này là thầy giáo biết giao việc cho học sinh, biết hướng dẫn các em làm việc, theo dõi và giúp đỡ kịp thời những em gặp khó khăn để em nào cũng làm việc có hiệu quả Trong quá trình đó, thầy giáo còn cần gây được hứng thú trong mọi hoạt động giáo dục, kích thích sự suy nghĩ độc lập, sáng tạo của các em trong tổ chức các hoạt động vui chơi gắn liền với các

Trang 40

hoạt động an toàn giao thông trong học sinh

1.5.1.3 Học sinh

Dạy học cũng như tổ chức các hoạt động giáo dục khác là quá trình tác động biện chứng giữa người dạy, người tổ chức các hoạt động và người học, người học là đối tượng tiếp nhận thông tin mà người dạy hướng đến, do đó, người học có tác động đến chất lượng hoạt động của người dạy Do đó việc tổ chức các hoạt động giáo dục an toàn giao thông phải phù hợp với điều kiện thực tế, phải thực hiện theo sự hướng dẫn, chỉ đạo của cấp trên đặc biệt phải tạo được sự hứng thú trong học sinh để các em tham gia nhiệt tình và có những suy nghỉ tích cực, hành động phù hợp khi tham gia giao thông

1.5.1.4 Gia đình

Gia đình, người thân có ảnh hưởng rất lớn tới các em khi giáo dục ý thức tham gia giao thông cho học sinh Việc gia đình chấp hành luật giao thông như thế nào, ý thức tuân thủ khi tham gia giao thông ra sao, đều có ảnh hưởng trực tiếp tới việc xây dựng và hình thành văn hóa giao thông cho học sinh

1.5.2 Các nhân tố khách quan

1.5.2.1 Môi trường: Các phương tiện giao thông đa dạng, hình thức tham gia

giao thông cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới việc giáo dục thực tế cho học sinh Môi trường thực tiễn tác động tới nhận thức và hành vi của các Nếu những gì các em nhìn nhận từ môi trường là phù hợp tiêu chuẩn của xã hội thì các em sẽ có điều kiện thực hành những điều các em đã được học trong nhà trường, từ đó góp phần hình thành ý thức và kĩ năng tham gia giao thông Nếu không, những bài học từ nhà trường sẽ không đạt được hiệu quả giáo dục

1.5.2.2 Giáo d c giao thông ngoài nhà trường: So với việc giảng dạy trong nhà

trường với các giáo trình giáo dục an toàn giao thông trên lớp, các hình thức ngoại khóa an toàn giao thông, các môn dạy lồng ghép cho đến các hình thức giáo dục, hoạt động giáo dục xã hội an toàn giao thông…thì tình hình tuyên truyền giáo dục thực tiễn

về giao thông đường bộ cũng có tác động đến nhận thức của các tầng lớp nhân dân, trong đó có cả học sinh

1.5.2.3 Cơ sở hạ tầng giao thông đường b : Việc quy hoạch tổ chức giao thông

theo các tuyến, việc quy hoạch lòng đường hè phố văn minh, sạch đẹp giúp cho học sinh dễ dàng vận dụng những bài học từ trường lớp, từ đó hình thành ý thức tham gia giao thông trong học sinh

Ngày đăng: 01/06/2022, 15:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[4]. Trần Kiểm (1997), Quản l giáo d c và trường học (Giáo trình dùng cho học viên cao học Giáo dục học), Viện Khoa học Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản l giáo d c và trường học
Tác giả: Trần Kiểm
Năm: 1997
[5]. Trần Kiểm (2014), Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo d c, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo d c
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2014
[11]. An Nhi trên VnEconomy: “An toàn giao thông và bài toán ý thức, văn hóa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: An toàn giao thông và bài toán ý thức, văn hóa
[12]. Nguyễn Ngọc Quang (1989), Những khái niệm cơ bản về l luận quản l giáo d c, Trường cán bộ quản lí TW1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khái niệm cơ bản về l luận quản l giáo d c
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Năm: 1989
[13]. Lê Quang Sơn (2017), Quản lý hoạt đ ng giáo d c và dạy học trong nhà trường. Tài liệu chuyên đề sau đại học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt đ ng giáo d c và dạy học trong nhà trường
Tác giả: Lê Quang Sơn
Năm: 2017
[19]. Xích Tùng trên báo Nhân dân: “Nâng cao ý thức tham gia giao thông” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao ý thức tham gia giao thông
[20]. Nguyễn Thị Thanh Vân (2008), Biện pháp quản lý giáo d c an toàn giao thông của Hiệu trưởng các trường tiểu học quận ng a thành ph Hà N i.Trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp quản lý giáo d c an toàn giao thông của Hiệu trưởng các trường tiểu học quận ng a thành ph Hà N i
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Vân
Năm: 2008
[30]. Website của Mạng Việt Nam dành cho học sinh tham gia thi online Giao thông thông minh: http://gttm.go.vn Link
[1]. Bài Giao thông ở huyện Trần Văn Thời – còn đó nhiều nỗi lo-Báo Cà Mau số ra ngày 11 tháng 3 năm 2019 Khác
[2]. Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 16/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực hiện Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia Khác
[6]. Harold Kontz (1993), Những vấn đề cốt yếu của quản lý, NXB KHKT, Hà Nội Khác
[7]. Đỗ Đình Hòa (2006), Điều tra tai nạn giao thông, NXB Công an Nhân dân Khác
[8]. Kế hoạch số 223/KH-BGDĐT, ngày 07/4/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tổ chức phong trào thi đua đảm bảo trật tự, an toàn giao thông trong ngành giáo dục năm 2020 Khác
[9] Nghị quyết số 12/NQ-CP, ngày 19/02/2019 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông và chống ùn tắc giao thông giao đoạn 2019-2021 Khác
[10]. Nghị định số: 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt Khác
[14] Quyết định số 22/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ban hành ngày 22/06/2017 về tổ chức và hoạt động của Ủy ban an toàn giao thông quốc gia và Ban an toàn giao thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Khác
[15]. Từ điển Tiếng Việt – NXB Từ điển Bách Khoa, tái bản năm 2010 Khác
[16]. Tai nạn giao thông dưới góc nhìn của WHO, số ra ngày 12 tháng 3 năm 2020- binhphuoc.gov.vn Khác
[17]. Thông tư 32/2020/TT-BGDĐT Ban hành Điều lệ trường THCS, THPT và PT có nhiều cấp học Khác
[18] Thông báo số 315/TB-VPCP, ngày 03/09/2020 của Văn phòng Chính phủ về kết Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC CÁC BẢNG - Quản lí hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện trần văn thời, tỉnh cà mau  1
DANH MỤC CÁC BẢNG (Trang 10)
Bảng 2.1. S lư ng, thành phần khách thể khảo sát - Quản lí hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện trần văn thời, tỉnh cà mau  1
Bảng 2.1. S lư ng, thành phần khách thể khảo sát (Trang 42)
Xử lý số liệu bảng khảo sát bằng thống kê toán học với 4 cấp độ - Quản lí hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện trần văn thời, tỉnh cà mau  1
l ý số liệu bảng khảo sát bằng thống kê toán học với 4 cấp độ (Trang 43)
Bảng 2.2. Tổng h ps liệu cá nb ph trách giao thông, s lớp, s học sinh và s lư ng giáo viên các trường THPT trên địa bàn huyện Trần Văn Thời - Quản lí hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện trần văn thời, tỉnh cà mau  1
Bảng 2.2. Tổng h ps liệu cá nb ph trách giao thông, s lớp, s học sinh và s lư ng giáo viên các trường THPT trên địa bàn huyện Trần Văn Thời (Trang 46)
2.4. Thực trạng giáo dục an toàn giao thông ở các trƣờng THPT trên địa bàn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. - Quản lí hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện trần văn thời, tỉnh cà mau  1
2.4. Thực trạng giáo dục an toàn giao thông ở các trƣờng THPT trên địa bàn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (Trang 49)
Bảng 2.3. Thực trạng nhận thức cá nb quản lí-giáo viên chủ nhiệm và học sinh về sự cần thiết của việc giáo d c an toàn giao thông - Quản lí hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện trần văn thời, tỉnh cà mau  1
Bảng 2.3. Thực trạng nhận thức cá nb quản lí-giáo viên chủ nhiệm và học sinh về sự cần thiết của việc giáo d c an toàn giao thông (Trang 49)
Bảng 2.4. Thực trạng nhận thức về ý nghĩa của việc giá od can toàn giao thông cho học sinh - Quản lí hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện trần văn thời, tỉnh cà mau  1
Bảng 2.4. Thực trạng nhận thức về ý nghĩa của việc giá od can toàn giao thông cho học sinh (Trang 50)
Bảng 2.5. Thực trạng ni dung giáo dc tích hp an toàn giao thông trong nhà trường - Quản lí hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện trần văn thời, tỉnh cà mau  1
Bảng 2.5. Thực trạng ni dung giáo dc tích hp an toàn giao thông trong nhà trường (Trang 52)
2.4.3. Thực trạng phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục an toàn giao thông - Quản lí hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện trần văn thời, tỉnh cà mau  1
2.4.3. Thực trạng phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục an toàn giao thông (Trang 54)
Ghi chú các hình thức: - Quản lí hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện trần văn thời, tỉnh cà mau  1
hi chú các hình thức: (Trang 55)
Bảng 2.8. Thực trạng các yếu t ảnh hưởng đến quản lý giá od can toàn giao thông -   i với cán b  quản l -Giáo viên chủ nhiệm: - Quản lí hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện trần văn thời, tỉnh cà mau  1
Bảng 2.8. Thực trạng các yếu t ảnh hưởng đến quản lý giá od can toàn giao thông - i với cán b quản l -Giáo viên chủ nhiệm: (Trang 56)
Việc triển khai các hình thức, phương pháp giáo dục an toàn giao thông trong các nhà trường được thực hiện tương đối đa dạng, song thực tế tính chuyên môn và tính sư  phạm chưa cao - Quản lí hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện trần văn thời, tỉnh cà mau  1
i ệc triển khai các hình thức, phương pháp giáo dục an toàn giao thông trong các nhà trường được thực hiện tương đối đa dạng, song thực tế tính chuyên môn và tính sư phạm chưa cao (Trang 60)
Các hình thức tổ chức giáo dục  an  toàn  giao  thông  chưa phù hợp - Quản lí hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện trần văn thời, tỉnh cà mau  1
c hình thức tổ chức giáo dục an toàn giao thông chưa phù hợp (Trang 61)
Bảng 3.1: Kế hoạch hoạt đ ng tháng - Quản lí hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện trần văn thời, tỉnh cà mau  1
Bảng 3.1 Kế hoạch hoạt đ ng tháng (Trang 72)
STT Hình thức tổ chức GD ATGT - Quản lí hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện trần văn thời, tỉnh cà mau  1
Hình th ức tổ chức GD ATGT (Trang 98)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm