Thực trạng chế độ chính sách và tạo động lực phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT trên địa bàn Thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.. Nâng cao nhận thức
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
CHÂU VĂN TUY
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Đà Nẵng - Năm 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
CHÂU VĂN TUY
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8140114
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS THÁI VĂN LONG
Đà Nẵng - Năm 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Với vai trò là tác giả luận văn “Phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung
học phổ thông trên địa bàn thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông”, tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những kết
quả nghiên cứu của luận văn này chưa được công bố ở bất kỳ công trình nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Tác giả
Châu Văn Tuy
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT x
DANH MỤC CÁC BẢNG xi
DANH MỤC CÁC HÌNH xii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 5
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Quản lý 9
1.2.2 Quản lý giáo dục 10
1.2.3 Phát triển và phát triển nguồn nhân lực 11
1.2.4 Phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông 12
1.2.5 Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục 12
1.3 Đổi mới giáo dục phổ thông và yêu cầu phát triển đội ngũ giáo viên THPT 13
1.3.1 Đổi mới giáo dục 13
1.3.2 Tầm quan trọng về phát triển đội ngũ giáo viên THPT 14
1.3.3 Những nội dung, yêu cầu đổi mới giáo dục 16
1.3.4 Những nội dung, yêu cầu phát triển đội ngũ giáo viên THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay 18
1.4 Phát triển đội ngũ giáo viên THPT theo yêu cầu đổi mới giáo dục 21
Trang 91.4.1 Xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT đáp
ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 22
1.4.2 Quy hoạch, sàng lọc, tuyển dụng, phát triển đội ngũ giáo viên THPT 22
1.4.3 Đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT 24
1.4.4 Thực hiện chế độ chính sách và tạo động lực cho phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông 27
1.4.5 Kiểm tra, đánh giá phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT 29
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông 31
1.5.1 Yếu tố khách quan 32
1.5.2 Yếu tố chủ quan 34
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 37
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CÀ MAU ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 38
2.1 Mục đích, nội dung và phương pháp khảo sát, xử lý, đánh giá thực trạng 38
2.1.1 Mục đích khảo sát 38
2.1.2 Nội dung khảo sát 38
2.1.3 Phương pháp khảo sát 38
2.1.4 Đối tượng, địa bàn và khách thể khảo sát 39
2.1.5 Phương pháp xử lý số liệu 39
2.2 Khái quát tình hình KT - XH và giáo dục THPT trên địa bàn TP Cà Mau 39
2.2.1 Khái quát về tình hình KT- XH 39
2.2.2 Khái quát về Giáo dục - Đào tạo thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau 40
2.2.3 Tình hình các trường trung học phổ thông thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau 42
2.3 Thực trạng tình hình trường, lớp, học sinh, giáo viên THPT ở 5 trường trên địa bàn thành phố Cà Mau 43
2.3.1 Tình hình trường, lớp, học sinh 43
2.3.2 Thực trạng về số lượng giáo viên 44
2.3.3 Thực trạng về cơ cấu giáo viên 44
2.3.4 Thực trạng đánh giá của giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp 47
2.4 Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 48
Trang 102.4.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lí, giáo viên về tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông trên địa bàn
thành phố Cà Mau 48
2.4.2 Thực trạng xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT trên địa bàn Thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 49
2.4.3 Thực trạng qui hoạch, sàng lọc, tuyển dụng phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT trên địa bàn Thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 50
2.4.4 Thực trạng đào tạo bồi dưỡng triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT trên địa bàn Thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 53
2.4.5 Thực trạng chế độ chính sách và tạo động lực phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT trên địa bàn Thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 54
2.4.6 Thực trạng kiểm tra và đánh giá phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Cà Mau để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 56
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 57
2.5.1 Khách quan 57
2.5.2 Chủ quan 59
2.6 Đánh giá chung thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 60
2.6.1 Ưu điểm 60
2.6.2 Hạn chế 61
2.6.3 Nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế 62
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 63
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CÀ MAU ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 65
3.1 Định hướng phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 65
3.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước 65
3.1.2 Định hướng phát triển KT-XH và GD&ĐT tỉnh Cà Mau 66
Trang 113.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 67
3.2.1 Tính cần thiết 67
3.2.2 Tính khả thi 67
3.2.3 Tính kế thừa 68
3.2.4 Tính hiệu quả 68
3.2.5 Tính đồng bộ 68
3.2.6 Đảm bảo sự lãnh đạo của chủ thể Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo và sự triển khai của Hiệu trưởng 69
3.3 Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 69
3.3.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lí và giáo viên về tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 69
3.3.2 Xây dựng kế hoạch hoạch phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cà Mau 72
3.3.3 Quy hoạch, sàng lọc, tuyển dụng, sử dụng đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 73
3.3.4 Đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 76
3.3.5 Xây dựng chế độ chính sách và tạo động lực cho phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 79
3.3.6 Kiểm tra, đánh giá đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 83
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 87
3.5 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 87
3.5.1 Mục đích, nội dung, phương pháp khảo sát 87
3.5.2 Kết quả khảo sát tính cấp thiết của các biện pháp đề xuất 88
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 92
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 132.7 Cơ cấu về giới tính của ĐNGV các trường 45 2.8 Cơ cấu theo môn giảng dạy của GV các trường 46
2.10 Thực trạng đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp 47 2.11 Đánh giá mức độ nhận thức về phát triển đội ngủ giáo viên 48 2.12 Đánh giá những nội dung cần thiết của công tác phát triển ĐNGV 48 2.13 Xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên 49 2.14 Độ lệch chuẩn ở các tiêu chí so với điểm kỳ vọng 50 2.15 Qui hoạch, sàng lọc, tuyển dụng phát triển đội ngũ giáo viên 50 2.16 Độ lệch chuẩn ở các tiêu chí so với điểm kỳ vọng 51 2.17 Độ lệch chuẩn ở các tiêu chí so với điểm kỳ vọng 51 2.18 Độ lệch chuẩn ở các tiêu chí so với điểm kỳ vọng 52 2.19 Đào tạo bồi dưỡng triển đội ngũ giáo viên 53 2.20 Độ lệch chuẩn ở các tiêu chí so với điểm kỳ vọng 53 2.21 Chế độ chính sách và tạo động lực phát triển đội ngũ giáo viên 54 2.22 Độ lệch chuẩn ở các tiêu chí so với điểm kỳ vọng 55 2.23 Kiểm tra và đánh giá phát triển đội ngũ giáo viên 56
Kết quả khảo sát về mức độ cấp thiết và khả thi của các biện pháp
đề xuất phát triển ĐNGV các trường THPT trên địa bàn thành
phố Cà Mau
90
Trang 14DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
1.1 5 phẩm chất và 10 năng lực cần phát triển cho học sinh ở
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo Chỉ thị 40/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý (CBQL) giáo dục” chỉ rõ, mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Bên cạnh đó Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020, đánh giá những bất cập và yếu kém của đội ngũ nhà giáo: “Một bộ phận nhà giáo và CBQL chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục trong thời kỳ mới Đội ngũ nhà giáo vừa thừa, vừa thiếu cục bộ, vừa không đồng bộ về cơ cấu chuyên môn… Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục” Chính vì thế Nghị quyết số 29-NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”đã được Hội nghị trung ương 8 (khóa XI) thông qua, đã nêu rõ “Đổi mới mạnh
mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của nhà giáo theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức và năng lực nghề nghiệp” và tại nhiệm vụ và giải pháp thứ 6 về: “Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo có nêu: “Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học
và trình độ đào tạo Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có trình độ từ đại học trở lên, có năng lực sư phạm” Theo đó Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT về Quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên phổ thông, Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông
và gần đây nhất vào ngày 26/12/2018 Bộ GD&ĐT ra Thông tư số BGDĐT Ban hành chương trình giáo dục phổ thông mới; Thông tư số: 32/2020/TT-BGDĐT ngày 15 tháng 9 năm 2020, Ban hành Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học Nhìn chung các văn bản
Trang 1632/2018-TT-trên đã xác định công tác bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo là một trong những yêu cầu cấp thiết nhằm xây dựng đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục nói chung; đặc biệt là chương trình giáo dục phổ thông mới
Đối với địa phương Thành phố Cà Mau, những năm gần đây, rất quan tâm đến công tác bồi dưỡng giáo viên nói chung, giáo viên trung học phổ thông nói riêng và đã đạt được một số kết quả khả quan Tuy nhiên, so với yêu cầu trên, thì trình độ đội ngũ giáo viên THPT vẫn còn khá nhiều bất cập Trong đó vẫn còn một số lượng không nhỏ giáo viên tuy đạt trình độ chuyên môn chuẩn, nhưng năng lực giảng dạy, kỹ năng nghề nghiệp chưa tốt, nhất là những giáo viên mới ra trường và số giáo viên lớn tuổi Do đó, việc nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên THPT là một vấn đề cần thiết, có ý nghĩa quyết định tạo ra sự chuyển biến chất lượng giáo dục THPT theo chương trình, sách giáo khoa phổ thông mới ở địa phương Đặc biệt là cho đến nay ở địa phương vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này Chính vì thế, với trách nhiệm và tâm huyết của người cán bộ quản lý trường THPT trên địa bàn,
tác giả chọn đề tài: “Phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường trung học phổ thông
trên địa bàn thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông” để
nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và khảo sát đánh giá thực trạng, đề tài sẽ đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đội ngũ giáo viên ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cà
Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Hệ thống hóa cơ sở lí luận về phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ
thông
4.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường trung
học phổ thông trên địa bàn thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ
thông
4.3 Đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường trung học
phổ thông trên địa bàn thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
Trang 175 Giả thuyết khoa học
Trong những năm qua đội ngũ giáo viên THPT ở thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã được quan tâm và thực hiện tương đối tốt nhưng còn nhiều bất cập, chưa thật
sự đồng bộ và hiệu quả Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và khảo sát thực trạng về phát triển đội ngũ giáo viên THPT trên địa bàn thành phố Cà Mau, nếu đề tài hệ thống hóa
được cơ sở lý luận, đánh giá đúng thực trạng của vấn đề thì sẽ đề xuất được các biện
pháp phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông mang tính sự cần thiết và khả thi, sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới
6 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác phát triển
đội ngũ giáo viên THPT tại 5 trường THPT ở thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau
Giới hạn thời gian nghiên cứu: Thực hiện việc nghiên cứu thực trạng trong 3
năm học từ năm 2017 đến 2020
Giới hạn đối tượng điều tra: Đề tài tiến hành việc tham khảo ý kiến từ 12 cán
bộ quản lý (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn); 338 giáo viên thuộc
5 trường THPT thành phố Cà Mau và ý kiến của một số cán bộ Sở Giáo dục và Đào tạo Cà Mau
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
Dự giờ của giáo viên và tham dự các hoạt động sư phạm khác để đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên THPT
7.2.2 Phương pháp điều tra giáo dục
Lấy ý kiến của các khách thể điều tra qua các phiếu câu hỏi nhằm đánh giá thực trạng và giải pháp quản lý bồi dưỡng đội ngũ giáo viên ở 5 trường THPT thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên của 5 trường trung học phổ thông để làm rõ hơn cơ sở lý luận
Trang 18và lý giải nguyên nhân thực trạng
7.3 Phương pháp thống kê: Sử dụng phần mềm SPSS xử lý số liệu các phiếu hỏi
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường trung học
phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường trung học phổ
thông trên địa bàn thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
Chương 3: Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường trung học phổ
thông trên địa bàn thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất đối với sự phát triển của một quốc gia Thực tiễn đã chứng minh phần lớn các nước có chỉ số HDI (chỉ số phát triển con người) cao là các nước có hệ thống giáo dục vào loại tốt nhất thế giới như các nước Phần Lan, Thụy Điển, Hoa Kỳ… hoặc các nước có trình độ phát triển nhanh ở khu vực Châu Á như Nhật bản, Hàn Quốc, Singapore
Các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến đều có những chính sách để đào tạo và thu hút được đội ngũ giáo viên giỏi nhất Tại Phần Lan, nghề giáo viên được xã hội tôn trọng và có tính chọn lọc cao, mọi GV đều phải có bằng thạc sỹ Hàn Quốc chỉ có vỏn v n 5% cử nhân giỏi nhất mới được giảng dạy ở bậc tiểu học Singapore chọn lọc kỹ các sinh viên thi vào ngành sư phạm trước khi đào tạo họ và chỉ tiêu tuyển sinh tương đương với lượng giáo viên thiếu trong ngành Ngay khi được tuyển chọn, sinh viên sẽ được Bộ Giáo dục thuê và gần như chắc chắn được bảo đảm có việc làm Nhờ
đó số người được tuyển chọn để đào tạo không nhiều nên chất lượng đào tạo tốt, sát với nhu cầu tuyển dụng khi tốt nghiệp
Nhật Bản, Luật Giáo dục cơ bản Quốc hội Nhật Bản ban hành và sửa đổi năm 2006) quy định: “1/ Giáo viên của các trường theo quy định của pháp luật phải tự giác ngộ sâu sắc về sứ mệnh cao cả của bản thân, tích cực tu dưỡng không ngừng để hoàn thành trách nhiệm nghề nghiệp 2/ Đối với các giáo viên nói trên, do tầm quan trọng của trách nhiệm nghề nghiệp và sứ mệnh mà bản thân họ phải được tôn trọng, được trả lương thích hợp đồng thời được bồi dưỡng và giáo dục nghề nghiệp” [12] Sau Chiến tranh thế giới thứ II (1945), c ng với quá trình hình thành hệ thống giáo dục mới theo
mô hình Mỹ, hệ thống đào tạo GV ở Nhật Bản có sự thay đổi về cơ bản Những thay đổi chính thể hiện ở hai điểm sau: 1/ Chương trình đào tạo GV được thiết kế gồm ba phần là giáo dục đại cương, giáo dục chuyên ngành và giáo dục nghề nghiệp GV nội dung chính để cấp chứng chỉ GV) 2/ Các trường sư phạm được tổ chức lại thành các trường đại học đào tạo GV trong bốn năm và đào tạo GV có thể được tiến hành ở các trường đại học khác Những ai muốn trở thành GV phải có được chứng chỉ GV sau khi tốt nghiệp một trường đại học hoặc cao đẳng Chứng chỉ GV được cấp bởi Hội đồng
Trang 20giáo dục tỉnh, thành, chứng chỉ GV được chia thành ba loại: Chứng chỉ hạng hai, Chứng chỉ hạng nhất, Chứng chỉ cao cấp căn cứ vào loại bằng cấp và số tín chỉ tối thiểu phải tích lũy của từng GV, điều này đã khuyến khích và tạo động lực cho người
GV không ngừng n lực phấn đấu, tự bồi dưỡng, tự đào tạo để nâng cao tay nghề GV [31]
Như vậy, các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới đều có những chính sách đãi ngộ, ưu tiên cho GV, đảm bảo cho GV ra trường đều có việc làm ổn định, lương cao; tạo mọi điều kiện thuận lợi để GV học tập bồi dưỡng, nâng cao tay nghề; đồng thời cung cấp đầy đủ các trang thiết bị nhằm giúp GV giảng dạy đạt kết quả tốt nhất; GV được tôn trọng, có vị thế trong xã hội, có như thế mới thu hút được nguồn
GV giỏi nhất tham gia công tác và cống hiến hết sức lực của họ cho nền giáo dục nước nhà
Bên cạnh những chính sách đãi ngộ tốt thì trên thế giới cũng có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục và phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục như: Tác giả Nadler Leonard trong cuốn “Developing Human Resource” do Hiệp hội Mỹ về Đào tạo và phát triển xuất bản năm 1980 đã nêu quan điểm phát triển nguồn nhân lực gồm 3 nhiệm vụ chính là: giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực; sử dụng nguồn nhân lực; tạo môi trường nguồn nhân lực [32]
V.A Xukhômlinxki là Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học GD Liên Xô cũ) đã từng khẳng định “Một trong những giải pháp hữu hiệu nhất để xây dựng và phát triển ĐNGV là phải bồi dưỡng ĐNGV, phát huy được tính sáng tạo trong lao động của họ
và tạo ra khả năng ngày càng hoàn thiện tay nghề sư phạm, phải biết lựa chọn GV bằng nhiều nguồn khác nhau và bồi dưỡng họ trở thành những GV tốt theo tiêu chuẩn nhất định, bằng những biện pháp khác nhau” [28]
Các nhà xã hội học, giáo dục học ở nước ngoài cũng có rất nhiều nghiên cứu đạt hiệu quả và tính khả thi cao để phát triển ĐNGV, phát triển giáo dục phù hợp với nhu cầu người học, với sự phát triển của các nước trên thế giới trong từng giai đoạn khác nhau
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Trong thư gửi các cán bộ, các thầy giáo, cô giáo, công nhân viên, học sinh, sinh viên nhân dịp bắt đầu năm học mới ngày 16 tháng 10 năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nêu: “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và Nhân dân, do đó các ngành các cấp Đảng, chính quyền địa phương phải thực sự quan tâm đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta những bước phát triển mới”
Trang 21Đảng và Chính phủ luôn xem GD là quốc sách hàng đầu, trong đó đặc biệt quan tâm, chỉ đạo phát triển ĐNGV và cán bộ quản lí để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa:
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định 3 khâu đột phá chiến lược, trong đó có vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay, với nội dung cụ thể là “phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” [9]
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ nhiệm vụ của ngành Giáo dục và Đào tạo Việt Nam trong những năm trước mắt: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền GD Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lí GD, phát triển ĐNGV và cán bộ quản lí (CBQL) GD là khâu then chốt” [9]
Trong mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước 5 năm 2016 – 2020 tại Đại hội Đại biểu toàn quốc là thứ XII Đảng đã tiếp tục xác định: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ; phát huy vài trò quốc sách hàng đầu của giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước”
GD Việt Nam đang tích cực đổi mới từ triết lí, mục tiêu giáo dục; nội dung, chương trình sách giáo khoa; đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV và cán bộ quản lí; công tác kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục; tăng cường đầu tư các trang thiết bị, cơ sở vật chất, xã hội hóa giáo dục… nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, phát triển đất nước
Từ trước đến nay đã có nhiều nhà khoa học, nhà quản lí GD nghiên cứu về khoa học giáo dục, khoa học quản lí giáo dục trong đó có nội dung phát triển ĐNGV nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới GD trong bối cảnh hiện nay:
- Tác giả Phạm Minh Hạc trong “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI” đã khẳng định: “ĐNGV là yếu tố quyết định sự phát triển sự nghiệp GD&ĐT”
và đưa ra những chuẩn quy định đào tạo GV [17]
- Tác giả Nguyễn Sỹ Thư, Đinh Thị Kim Thoa trong cuốn “Phát triển năng lực giáo dục học sinh” đã đề cập đến vai trò của GV và ĐNGV trong xã hội từ xưa đến nay, vai trò của GV trong nhà trường “Giáo viên là lực lượng nòng cốt, quan trọng nhất, là người quyết định đến chất lượng giáo dục trong nhà trường” Trong công cuộc đổi mới hiện nay, để nâng cao chất lượng giáo dục tác giả đã nêu r quan điểm: “Vấn
Trang 22đề chất lượng ĐNGV và nâng cao chất lượng ĐNGV nhằm tăng cường chất lượng giáo dục – đào tạo là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Khi bàn về chất lượng giáo dục yếu tố đầu tiên cần phải bàn tới là chất lượng ĐNGV cần đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và tay nghề ngày càng được nâng cao” [29]
- Tác giả Trần Kiểm trong cuốn “Khoa học quản lí giáo dục, một số vấn đề lí luận và thực tiễn” đã nêu: Xây dựng đội ngũ bao gồm việc tuyển lựa những người có năng lực, đào tạo bồi dưỡng các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công việc của họ, tạo cơ hội để họ phát triển chuyên môn [22]
- Tác giả Nguyễn Đức Trí (2002) cho rằng “nguồn nhân lực, theo quan niệm chung, mới chỉ bao hàm tiềm năng phát triển của con người Nguồn nhân lực chỉ trở thành động lực của sự phát triển đất nước khi nó được phát huy bằng cách phát triển
nó (nguồn nhân lực) thông qua đào tạo, sử dụng, bồi dưỡng, tạo hành lang pháp lý, chế
độ chính sách phù hợp cho nó Phát triển nguồn nhân lực bao gồm 3 mặt phải quản lý: Đào tạo, sử dụng và nuôi dưỡng môi trường nguồn nhân lực, chủ yếu là môi trường việc làm” [30]
- Trần Khánh Đức (2014) với bài báo khoa học “Cải cách sư phạm và đổi mới căn bản mô hình đào tạo giáo viên” với nội dung trọng tâm là đề cập đến nhân cách của người GV trong bối cảnh GD Việt Nam hiện nay và yêu cầu đặt ra với người GV
là ngoài những kiến thức và kĩ năng chuyên môn, nghiệp vụ mà còn phải có hiểu biết, năng lực sư phạm cùng với những hiểu biết về xã hội – văn hoá và vốn sống phong phú [13]
Trong thời gian qua, có nhiều tác giả nghiên cứu đề tài phát triển ĐNGV và CBQL ở các cấp học, họ đều có chung quan điểm phát triển ĐNGV đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, đồng bộ về cơ cấu như:
- Luận văn của tác giả Nguyễn Văn A (2013) “Một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai” [1]
- Luận văn của tác giả Trần Quang Bình (2014) “Một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông ở thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước” [2]
- Luận văn của tác giả Nguyễn Văn Ngoạn (2009) “Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông tỉnh Cà Mau” [25]
- Luận văn của tác giả Lê Quang Hảo (2014) “Dự báo quy mô phát triển đội ngũ giáo viên phổ thông tỉnh Cà Mau đến năm 2025” [18]
Tuy nhiên, các đề tài nói trên đều mang tính đặc thù của từng địa phương, từng điều kiện vùng miền Cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu đề tài
“Phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành
phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông”
Trang 231.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, con người muốn tồn tại và phát triển cần phải có sự phối hợp với nhau trong một nhóm, một tổ chức Để tổ chức, điều khiển tạo nên sự phối hợp của nhóm người hoạt động theo yêu cầu nhất định, một loại hình lao động mới xuất hiện Loại hình lao động đó gọi là hoạt động quản lí Cũng
từ lúc đó, mọi người đi tìm hiểu bản chất khái niệm quản lí và có rất nhiều quan niệm khác nhau Theo C.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn thì ít nhiều cùng đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khách quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” Như vậy Mác đã lột tả được bản chất QL là một hoạt động lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của loài người [4]
Theo quan điểm kinh tế học thì F.W Taylor cho rằng: “Quản lí là nghệ thuật biết
rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và
rẻ tiền nhất”; hoặc A Fayon lại cho rằng: “Quản lí là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng
sử dụng các nguồn lực (nhân, tài, vật, lực) của nó” Còn H.Koontz thì khẳng định:
“Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những n lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) với thời gian, tiền bạc, vật chất
và sự bất mãn ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lí là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lí là một khoa học” và “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó là hiểu được rằng học đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [19] Harold Koontz Vũ Thiếu biên dịch) (1992), Những vấn đề cốt yếu của quản lý tập 1, Nxb KHKT, Hà Nội
Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt nói: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt (1988), GD học tập 1và 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội] Theo “Từ điển Tiếng Việt” thì quản lý được định nghĩa là: tổ chức, điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.[Viện ngôn ngữ học Việt Nam (1998), Từ điển Tiếng Việt]; còn Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên) lại cho rằng “Hoạt động quản lí là một dạng hoạt động đặc biệt của người lãnh đạo mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết bộ máy quản lí, làm sao cho hoạt động nhịp nhàng, đưa đến hiệu quả” [Hoàng Phê chủ biên) (1998), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng]
Trang 24Với những định nghĩa trên, cho thấy Khái niệm quản lý bao gồm các yếu tố sau: Muốn quản lý thành công, trước tiên cần phải xác định rõ chủ thể, đối tượng và khách thể quản lý
- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người
- Quản lý là sự tác động, mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với qui luật khách quan
- Chủ thể quản lý có thể là một người, một nhóm người;
- Đối tượng có thể là con người hoặc nhiều người, giới vô sinh hoặc giới sinh vật
- Quản lý nhằm phối hợp n lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành thành tựu của xã hội Như vậy, từ các định nghĩa về quản lý nêu trên, thuật ngữ quản lý có thể hiểu một cách tổng quát là: Quản lí là một quá trình tác động
có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí lên khách thể quản lí đối tượng quản lí) nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra
Theo nhóm tác giả Bùi Minh Hiền- Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo cho rằng:
“QL là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL tới đối tượng QL nhằm đạt mục tiêu đề ra” [20]
Từ việc phân tích những định nghĩa trên, tác giả có thể hiểu một cách khái quát
về khái niệm QL như sau: QL là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể QL lên khách thể QL bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra
QL vừa là khoa học, vừa là một nghệ thuật, vì vậy người QL phải hết sức sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo để chỉ đạo hoạt động tổ chức đi tới đích
1.2.2 Quản lý giáo dục
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể
QL tới khách thể QL nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống GD đạt tới kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất” [26]
Tác giả Trần Kiểm cho rằng:
+ Đối với cấp vĩ mô: “QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở GD là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển GD&ĐT thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành Giáo dục” [23]
+ Đối với cấp vi mô: “QLGD thực chất là những tác động của chủ thể QL vào quá trình GD nhằm hình thành và phát triển nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” [23]
Trang 25Tóm lại, có nhiều khái niệm về QLGD, song có thể khái quát: QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhằm tổ chức, điều khiển hoạt động của khách thể QL thực hiện mục tiêu GD đã đề ra QLGD từ cấp
vi mô đến tầng vĩ mô đều hướng tới việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực (đầu vào) dành cho GD để đạt được những kết quả (đầu ra) có chất lượng cao
1.2.3 Phát triển và phát triển nguồn nhân lực
Theo Giáo trình triết học Mác - Lênin: “Phát triển là quá trình vận động tiến lên
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn” [4]
- Theo Đại từ điển Tiếng Việt (1998) của Bộ GD & ĐT, Trung tâm ngôn ngữ và
văn hóa Việt Nam: “Phát triển là vận động, tiến triển theo chiều hướng tăng lên” [8]
- Theo triết học Mac – Lênin: “Trong ph p biện chứng khái niệm phát triển d ng
để chỉ quá trình vận động của sự vật hiện tượng theo khuynh hướng đi lên: từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ k m hoàn thiện đến hoàn thiện hơn” Như vậy, khái niệm phát triển không đồng nhất với khái niệm “vận động” biến đổi) nói chung; đó không phải là sự biến đổi tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lượng hay sự biến đổi tuần hoàn lặp đi lặp lại ở chất cũ mà là sự biến đổi về chất theo hướng ngày càng hoàn thiện của
sự vật ở những trình độ ngày càng cao hơn [4]
Như vậy, phát triển là sự vận động, biến đổi theo chiều hướng đi lên của mọi sự vật, hiện tượng làm cho sự vật hiện tượng đó biến đổi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ k m hoàn thiện đến hoàn thiện hơn; trong đó thể hiện sự vận động của sự vật, hiện tượng theo hướng thay đổi về lượng để hoàn thiện hơn về chất
Về từ vựng thì phát triển là một động từ, chỉ quá trình biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao, từ h p đến rộng; là một quá trình tăng trưởng và lớn lên về số lượng, biến đổi về chất của một sự vật, hiện tượng; phát triển là biểu hiện hàng loạt sự biến đổi kế tiếp của sự vật, hiện tượng, làm biến đổi sự vật, hiện tượng theo hướng hoàn thiện hơn Hay nói cách khác, phát triển
sẽ làm cơ cấu tổ chức, phương thức vận động và chức năng hoạt động của sự vật, hiện tượng ngày càng hoàn thiện hơn
Nguồn nhân lực, còn được gọi là vốn con người, được hiểu là tổng thể các tiềm năng của con người trong độ tuổi lao động, có thể được huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Theo Phạm Minh Giản (2012), thuật ngữ “phát triển đội ngũ giáo viên” được hiểu là quá trình cung cấp nguồn nhân lực cần thiết cho
sự phát triển KT-XH, sự phát triển của một ngành sản xuất, kinh doanh, một tổ chức, một dân tộc, một đất nước” [15]
Mô hình phát triển nguồn nhân lực của Leonard Nadle Mĩ, 1980) (dẫn theo Phạm Minh Giản (2012) phát triển nguồn nhân lực bao gồm ba cấu phần: (1) Giáo dục
Trang 26– đào tạo nguồn nhân lực: đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng, (2) Sử dụng nguồn nhân lực: tuyển chọn, bố trí - sử dụng, đánh giá, đề bạt – thuyên chuyển, (3) Tạo môi trường thuận lợi cho nguồn nhân lực phát triển: môi trường làm việc, môi trường pháp lý, các chính sách đãi ngộ
1.2.4 Phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông
Phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông là phạm trù của phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo nhằm tạo ra một đội ngũ nhân lực sư phạm cho các trường trung học phổ thông đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu (tổ chức, độ tuổi, giới, dân tộc), đảm bảo về chất lượng (trình độ chuẩn, phẩm chất, năng lực) đảm bảo thực hiện tốt các yêu cầu phát triển giáo dục - đào tạo trong từng thời kỳ phát triển của đất nước Nói cách khác, phát triển đội ngũ GV làm cho đội ngũ GV đảm bảo yếu
tố về số lượng, đồng bộ về cơ cấu đội ngũ, đạt chuẩn về trình độ và chất lượng
Phát triển có nghĩa là làm cho đội ngũ giáo viên ngày càng đầy đủ về số lượng mạnh về chất lượng, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Việc phát triển đội ngũ giáo viên đặt ra yêu cầu phải thực hiện các nội dung như: Kế hoạch hóa đội ngũ giáo viên, tuyển dụng, lựa chọn giáo viên, định hướng đào tạo, bồi dưỡng,
bố trí, sắp xếp, đề bạt … sao cho đội ngũ đó ngày càng tiến bộ, phát huy được phẩm chất năng lực của mình, để giảng dạy, giáo dục đạt hiệu quả ngày càng cao
Như vậy có thể hiểu: Phát triển đội ngũ giáo viên THPT là phát triển nhân lực làm công tác sư phạm trong trường THPT đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng (đạt chuẩn về trình độ chuyên môn và chuẩn nghề nghiệp), đồng bộ về cơ cấu đáp ứng yêu cầu của các cấp học Đó là quá trình thực hiện các nội dung về tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chính sách đãi ngộ, tạo môi trường sư phạm thuận lợi và đánh giá ĐNGV nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học đáp ứng mục tiêu giáo dục của nhà trường
1.2.5 Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Đội ngũ giáo viên là tập hợp những giáo viên thành một lực lượng có tổ chức, có chung một lí tưởng, một mục đích, nhiệm vụ đó là thực hiện mục tiêu đã đề ra cho lực lượng, tổ chức mình Họ cùng làm theo một kế hoạch thống nhất và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ qui định của pháp luật, nội quy, quy định của đơn vị, của ngành Đội ngũ giáo viên là lực lượng quyết định nhất đối với chất lượng giáo dục theo yêu cầu đổi mới chương trình của m i nhà trường Quản lý phát triển đội ngũ là tạo ra hiệu quả của m i thành viên và hiệu quả chung của tổ chức đội ngũ theo mục tiêu yêu cầu đổi mới, gắn với việc không ngừng tăng lên về số lượng và chất lượng của đội ngũ Xây dựng đội ngũ giáo viên là góp phần tạo ra một đội ngũ có phẩm chất đạo đức tốt, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu
Trang 27để đảm nhận thực hiện các hoạt động giáo dục, giảng dạy trong các nhà trường THPT một cách toàn diện và có chất lượng đáp ứng với chương trình phổ thông mới
Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho đội ngũ đó nhằm đạt được mục đích đủ số lượng theo tỷ lệ quy định, phù hợp về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ đào tạo, có đủ phẩm chất về năng lực chuyên môn cũng như nghiệp vụ sư phạm
1.3 Đổi mới giáo dục phổ thông và yêu cầu phát triển đội ngũ giáo viên THPT
1.3.1 Đổi mới giáo dục
Đổi mới trong ý nghĩa hiện đại của nó là “một ý tưởng, suy nghĩ sáng tạo, trí tưởng tượng mới dưới dạng thiết bị hoặc phương pháp” Sự đổi mới thường được xem
là ứng dụng của các giải pháp tốt hơn, đáp ứng nhu cầu mới, nhu cầu không được chứng minh hoặc nhu cầu thị trường hiện có Sự đổi mới như vậy diễn ra thông qua việc cung cấp các sản phẩm, quy trình, dịch vụ, công nghệ hoặc mô hình kinh doanh hiệu quả hơn được cung cấp cho thị trường, chính phủ và xã hội Một sự đổi mới là một cái gì đó nguyên bản và hiệu quả hơn, do đó, mới xâm nhập vào thị trường hoặc
xã hội Đổi mới có liên quan đến, nhưng không giống như phát minh, vì đổi mới có nhiều khả năng liên quan đến việc triển khai thực tế một phát minh để tạo ra tác động
có ý nghĩa trong thị trường hoặc xã hội và không phải tất cả các đổi mới đòi hỏi một phát minh Đổi mới thường xuyên thể hiện qua quy trình kỹ thuật, khi vấn đề đang được giải quyết có bản chất kỹ thuật hoặc khoa học
Trong bài “Đổi mới căn bản, toàn diện để hoàn thiện một nền giáo dục Việt Nam nhân bản”, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ nhấn mạnh “Ngày nay, khi tri thức trở thành yếu tố hàng đầu để phát triển kinh tế tri thức thì các nước trên thế giới đều ý thức được rằng giáo dục là đòn bẩy quan trọng để đổi mới mô hình tăng trưởng
và phát triển xã hội bền vững”
Nhận thức sâu sắc về điều đó, việc đổi mới giáo dục trước hết là đổi mới tư duy giáo dục trong thời đại tri thức nhằm đáp ứng sự thay đổi sự thay đổi của cuộc sống là một tất yếu, bởi vì “khi hệ thống tri thức không sớm thì muộn, nhanh hay chậm, năng lực tư duy và hoạt động của con người cũng phải thay đổi Đời sống hiện thực biến đổi thì luôn đặt ra cho chúng ta những vấn đề mới, buộc con người chúng ta phải suy nghĩ, tìm kiếm những lời giải đáp và những phương tiện để giải quyết vấn đề Những tri thức mới ra đời bổ sung và bồi đắp cho hệ thống tri thức đã có, làm thay đổi cách nhìn nhận, thay đổi từng phần của thế thế giới quan, dẫn đến thay đổi cả phương thức hoạt
Trang 28động của con người và cộng đồng Điều đó cũng có nghĩa rằng, những tri thức mới đã làm thay đổi tư duy của con người” Lương Đình Hải – Triết học trong toàn cầu….) Theo đó, việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm đáp ứng bối cảnh thời đại, nhu cầu phát triển của đất nước, nhu cầu phát triển nguồn nhân lực, mục tiêu giáo dục phổ thông, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực, phù hợp với nội dung giáo dục từng cấp, lớp được xem như một điều kiện tiên quyết, nhằm quán triệt Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Trong đó đổi mới giáo dục quy định “chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”
Để phát triển nền giáo dục theo định hướng năng lực, Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết – Tổng chủ biên Chương trình GDPT cho biết: Dự thảo Chương trình GDPT tổng thể đã thể hiện quan điểm trong Nghị quyết 29 về xây dựng nền giáo dục thực học, thực nghiệp và dân chủ trên các bình diện mục tiêu: hình thành, phát triển năng lực thực tiễn cho người học, quán triệt yêu cầu của hướng nghiệp để thực hiện phân luồng mạnh sau THCS và đảm bảo tiếp cận nghề nghiệp ở bậc THPT; trao quyền và trách nhiệm tổ chức kế hoạch dạy học cho các cơ sở giáo dục phù hợp với địa phương, tạo điều kiện cho người học được lựa chọn môn học và hoạt động giáo dục phù hợp sở trường và nguyện vọng; phát huy tính năng lực, tư duy độc lập và sáng tạo của người học
Thiết nghĩ đổi mới giáo dục bằng các giải pháp quan trọng trên là để thực hiện các mục tiêu và đồng bộ trong vận hành các thành tố trong các phương pháp dạy học tích cực, khắc phục nhược điểm của phương pháp truyền thụ áp đặt một chiều; đồng thời kết hợp hài hòa giữa dạy kiến thức công cụ với kiến thức phương pháp, đặc biệt chú trọng trong cách học, phương pháp tự học để người học có thể học tập suốt đời
1.3.2 Tầm quan trọng về phát triển đội ngũ giáo viên THPT
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học – công nghệ đạt đến bước thần kỳ, hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đều nhận thức giáo dục và đào tạo trở thành nhân tố vừa là nền tảng, vừa là động lực góp phần quyết định tương lai của m i dân tộc
Việt Nam Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của m i gia đình
Như đã trình bày ở trên, đội ngũ giáo viên THPT là lực lượng trực tiếp quyết định chất lượng dạy học, giáo dục của các trường THPT Muốn có trò giỏi, chăm ngoan thì trước hết phải có những người thầy giỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:
“thầy tốt thì ảnh hưởng tốt, thầy xấu thì ảnh hưởng xấu” [11] Quan điểm xuyên suốt
Trang 29của Đảng và Nhà nước ta là khẳng định vai trò quyết định của nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và tầm quan trọng của đội ngũ cán
bộ quản lý trong việc điều hành một hệ thống giáo dục đang ngày càng mở rộng và phát triển Vì vậy, xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên, đảm bảo để có đội ngũ giáo viên THPT có chất lượng cao, đủ sức mạnh để đảm nhận những trọng trách lớn
mà nhà nước và nhân dân giao phó là nhiệm vụ tất yếu, thường xuyên và liên tục của ngành Giáo dục và Đào tạo
Ngày nay, giáo dục và đào tạo đang diễn ra trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, thời đại công nghệ 4.0, nhân loại đang chạy đua về trí tuệ, về kinh tề tri thức…Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi cấp bách cần phải có những người mẫu mực trung thành với lý tưởng cách mạng, có ước mơ hoài bão lớn, giàu lòng yêu nước, có trình độ, phẩm chất tốt, năng lực sáng tạo, kiến thức vững vàng, năng động, thích nghi với đổi mới, có sức đề kháng với cái mới và chấp nhận sự đổi mới Khâu then chốt trong giáo dục và đào tạo là phải nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, tập trung xây dựng
và phát triển đội ngũ giáo viên, nhất là giáo viên THPT có chất lượng cao cả về số lượng, chất lượng, đảm bảo về cơ cấu, vị trí việc làm, có đầy đủ tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực theo yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục hiện nay
Những năm qua, chúng ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo ngày càng đông đảo, phần lớn có phẩm chất và năng lực, có ý thức chính trị tốt, trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu cơ bản về đổi mới giáo dục hiện nay Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục nhằm đáp ứng nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, thị đội ngũ giáo viên THPT vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập Số lượng giáo viên còn thiếu nhiều, mất cân đối cơ cấu giáo viên giữa các môn học, chất lượng chuyên môn của một số giáo viên còn hạn chế, nhất là năng lực Riêng đối với đội ngũ giáo viên THPT “hạn chế lớn nhất của giáo viên phổ thông hiện nay vẫn là phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá học sinh và việc dạy chưa đảm bảo học đi đôi với hành Phương pháp dạy còn nặng về truyền thụ kiến thức, chưa phát huy tính chủ động và khuyến khích sự vận dụng sáng tạo của học sinh” [Nguyễn Thiện Nhân, Báo cáo về tình hình giáo dục Hà Nội, tháng 11 năm 2006], “Một bộ phận nhỏ nhà giáo nhận thức còn hạn chế, thiếu gương mẫu, vi phạm đạo đức, lối sống và chuẩn mực của người thầy, gây bức xúc và lo lắng trong nhân dân”
Vì lẽ đó, việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên nói chung, đội ngũ giáo viên THPT nói riêng một cách toàn diện, đủ về số lương, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo
về chất lượng, có bản lĩnh chính trị, lối sống, lương tâm nghề nghiệp tốt để thực hiện
Trang 30trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ những người lao động có trình độ cao, có năng lực và phẩm chất tốt để có thể thực hiện việc “đón đầu”, “đi tắt” trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm rút ngắn thời gian và khoảng cách để đưa đất nước phát triển và hội nhập sâu rộng chung với các nước trên thế giới
Chỉ thị số 40/CT-TW, ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã khẳng định, xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện
là nhiệm vụ “vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính lâu dài” Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý “phải được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức lối sống, lương tâm nghề nghiệp”
Nghị quyết số 37/2004/QH11, ngày 03/12/2004 của Quốc hội về giáo dục cũng nhấn mạnh việc cần thiết phải “tiếp tục xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ đào tạo,… hoàn thiện cơ chế, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và tạo điều kiện cho nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục thường xuyên tự học tập để cập nhật kiến thức, nâng cao trình
độ, kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục”
Trong những năm qua toàn ngành giáo dục cả nước đã thực hiện tích cực Chỉ thị 40-CT/TW và Nghị quyết số 37/2004/QH11 Thực hiện tốt cuộc vận động “Hai không” với 4 nội dung trọng tâm: “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích, nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo và việc cho học sinh không đạt chuẩn lên lớp”, tiếp tục cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh”, “M i thầy cô giáo là một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo”, phong trào xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực” Tất cả những việc làm
đó thể hiện sự quyết tâm của ngành giáo dục và đào tạo trong việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
1.3.3 Những nội dung, yêu cầu đổi mới giáo dục
Quan điểm chỉ đạo của Đảng ta đã nêu rất rõ trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013, Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”
Trang 31Nghị quyết số 88/2014/QH13, ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông Nội dụng đổi mới Nghị quyết xác định rõ:
“Mục tiêu giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống văn hóa, lịch sử, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”
Ngày 27/3/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg, Phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông “Chương trình mới, sách giáo khoa mới lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, khả năng tự học của học sinh; tăng cường tính tương tác trong dạy học giữa thầy với trò, trò với trò và giữa các thầy, cô giáo”
Hình 1.1 5 phẩm chất và 10 năng lực cần phát triển cho học sinh ở mục tiêu chương
trình GDPT mới
Căn cứ vào Luật Giáo dục hiện hành và Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc Hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ
Trang 32thông Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 về Ban hành chương trình giáo dục phổ thông bao gồm chương trình tổng thể và các chương trình môn học và hoạt động giáo dục của cấp tiểu học, THCS và THPT Các nội dung cần chỉ đạo phát triển là hoạt động tổ chuyên môn để triển khai hoạt động dạy học trong trường trung học cơ sở: Chỉ đạo xây dựng kế hoạch môn học, thực hiện hình thức, phương pháp dạy học, giáo dục; kiểm tra đánh giá kết quả và kế hoạch tự học, h trợ đồng nghiệp
Như vậy, để hoàn thành các nội dung giáo dục, góp phần thực hiện thành công cuộc đổi mới giáo dục, rất cần sự thay đổi nhận thức và hành động của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục Đội ngũ giáo viên phải tích cực phối hợp chặt chẽ với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục toàn diện cho học sinh Mọi tổ chức hoạt động giáo dục toàn diện cho học sinh thật sự thành công hay không là phụ thuộc vào cái tâm, cái tài và cái tầm của người giáo viên Với những kinh nghiệm đã được đúc kết trong quá trình giảng dạy và quản lý giáo dục nhiều năm qua, giáo viên nói chung và đội ngũ GV THPT nói riêng phải phấn đấu, trau dồi hơn nữa, đủ tự tin, đủ kiến thức và kỹ năng hoàn thành tốt nhiệm vụ vừa “dạy chữ” vừa “dạy người” trong chương trình giáo dục phổ thông mới
1.3.4 Những nội dung, yêu cầu phát triển đội ngũ giáo viên THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
Hiện nay, hầu hết đội ngũ giáo viên THPT có lòng yêu nghề, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, có ý chí vươn lên, tích cực học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Năng lực sư phạm của phần lớn đội ngũ giáo viên THPT được nâng lên, đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đã tham mưu tích cực và hiệu quả cho cấp ủy đảng và chính quyền địa phương các cấp trong việc xây dựng các chính sách cán bộ, giáo viên học sinh phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của bộ, ngành, địa phương Đội ngũ giáo viên THPT đã tăng mạnh về số lượng, chất lượng và ngày càng đồng bộ về cơ cấu trong 5 năm qua, từng bước đáp ứng được yêu cầu phát triển giáo dục của đất nước
Hiện nay sự bất hợp lý trong cơ cấu đội ngũ nhà giáo nói chung và đội ngũ giáo viên THPT nói riêng ở những năm đầu thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 đã dần được khắc phục
Công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên theo yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp được các địa phương quan tâm triển khai thông qua các chương trình khác nhau Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về định
Trang 33hướng phát triển GDĐT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực GDĐT nước ta bên cạnh đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc; chất lượng, hiệu quả GDĐT vẫn còn thấp so với yêu cầu
xã hội; nặng về lý thuyết, nh về thực hành; đào tạo thiếu với gắn kết nghiên cứu khoa học; phương pháp giáo dục, việc kiểm tra đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất Đội ngũ giáo viên bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí còn vi phạm đạo đức nhà giáo Đặc biệt, chương trình giáo dục phổ thông hiện hành bộc lộ những hạn chế, bất cập như: Chương trình còn nặng về trang bị kiến thức lý thuyết, chưa thật
sự thiết thực, chưa coi trọng kỹ năng thực hành, kỹ năng vận dụng kiến thức; chưa đáp ứng các yêu cầu về mục tiêu giáo dục, lối sống; Mới chú trọng việc truyền đạt kiến thức, chưa đáp ứng tốt về yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh; nặng về dạy chữ, nh về dạy người, chưa coi trọng về hướng nghiệp Hình thức tổ chức giáo dục chủ yếu là dạy trên lớp, chưa tăng cường các hoạt động xã hội, hoạt động trải nghiệm Quan điểm tích hợp và phân hóa chưa quán triệt đầy đủ; các môn học được thiết kế chủ yếu theo các lĩnh vực khoa học, chưa thật sự coi trọng yêu cầu về sư phạm; một số nội dung của một số môn học chưa đảm bảo tính hiện đại, cơ bản, còn nhiều hàn lâm, nặng với học sinh Phương pháp giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục nhìn chung còn lạc hậu, chưa chú trọng cách học và phát huy tính chủ động, khả năng sáng tạo của học sinh
Từ thực tế trên cho thấy, để chương trình giáo duc phổ thông mới được triển khai thực hiện thành công thì người giáo viên có vai trò hết sức quan trọng, là gốc rễ của đổi mới, góp phần quyết định chất lượng GDĐT Khi đó nhiệm vụ của người giáo viên quy định tại Điều 27 của Điều lệ trường phổ thông được ban hành theo Thông tư số 32/2020/TT-BGDĐT ngày 15/9/2020 của Bộ GDĐT:
Nhiệm vụ và quyền của giáo viên
Giáo viên làm nhiệm vụ dạy học, giáo dục học sinh trong trường trung học
1 Thực hiện nhiệm vụ tổ chức các hoạt động dạy học, giáo dục theo kế hoạch giáo dục của nhà trường và kế hoạch giáo dục của tổ chuyên môn; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giáo dục
2 Trau đồi đạo đức, nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, danh dự,
uy tín của nhà giáo; gương mẫu trước học sinh; thương yêu, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của học sinh; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp
3 Học tập, rèn luyện để nâng cao sức khỏe, trình độ chính trị, chuyên môn,
Trang 34nghiệp vụ, đổi mới phương pháp dạy học, giáo dục
4 Tham gia tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
5 Tham gia công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở địa phương
6 Thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của ngành Giáo dục, các quyết định của hiệu trưởng; thực hiện nhiệm vụ do hiệu trưởng phân công, chịu sự kiểm tra, đánh giá của hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục
7 Phối hợp với Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, gia đình học sinh và các
tổ chức xã hội liên quan để tổ chức hoạt động giáo dục
8 Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
Quyền của giáo viên
1 Giáo viên, nhân viên có những quyền sau đây:
a) Được tự chủ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn với sự phân công, h trợ của tổ chuyên môn và nhà trường
b) Được huởng lương, chế độ phụ cấp, chính sách ưu đãi nếu có) theo quy định; được thay đổi chức danh nghề nghiệp; được hưởng các quyền lợi về vật chất, tinh thần theo quy định
c) Được tạo điều kiện học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, được hưởng nguyên lương, phụ cấp theo lương và các chế độ chính sách khác theo quy định khi được cấp có thẩm quyền cử đi học tập, bồi dưỡng
d) Được hợp đồng thỉnh giảng, nghiên cứu khoa học tại các trường, cơ sở giáo dục khác hoặc cơ sở nghiên cứu khoa học với điều kiện bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ nơi mình công tác và được sự đồng ý của hiệu trưởng bằng văn bản
đ) Được tôn trọng, bảo vệ nhân phẩm, danh dự và thân thể
e) Được nghỉ hè và các ngày nghỉ khác theo quy định của pháp luật
g) Các quyền khác theo quy định của pháp luật
2 Giáo viên làm công tác chủ nhiệm, ngoài các quyền quy định tại khoản 1 Điều này, có những quyền sau đây:
a) Được dự các giờ học, hoạt động giáo dục khác của học sinh lớp do mình làm chủ nhiệm
b) Được dự các cuộc họp của hội đồng khen thưởng và hội đồng kỷ luật khi giải quyết những vấn đề có liên quan đến học sinh của lớp do mình làm chủ nhiệm
c) Được dự các lớp bồi dưỡng, hội nghị chuyên đề về công tác chủ nhiệm
d) Được quyền cho phép cá nhân học sinh có lý do chính đáng nghỉ học không quá 03 ngày liên tục
đ) Được giảm định mức giờ dạy theo quy định
Trang 35Trình độ chuẩn được đào tạo, chuẩn nghề nghiệp của giáo viên
a) Giáo viên trường trung học phải có bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên trở lên (hoặc bằng tốt nghiệp đại học sư phạm) hoặc có bằng cử nhân (bằng tốt nghiệp đại học) chuyên ngành phù hợp và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm theo quy định của pháp luật
b) Giáo viên chưa đạt chuẩn trình độ đào tạo được nhà trường, các cơ quan quản
lý giáo dục tạo điều kiện để được đào tạo, bồi dưỡng theo quy định của pháp luật
2 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên:
Giáo viên trường trung học phải đạt chuẩn nghề nghiệp giáo viên tương ứng với cấp học đang giảng dạy và thực hiện việc đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên
cơ sở giáo dục phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
3 Nhân viên trường trung học phải đạt trình độ được đào tạo theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp với từng vị trí việc làm của nhân viên theo quy định quy định của pháp luật
Ngoài ra còn phải tổ chức, hướng dẫn nhiều hoạt động giáo dục cho học sinh, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề khuyến khích học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát huy năng lực, nguyện vọng bản thân, rèn luyện thói quen và năng lực tự học, phát huy tiềm năng và những kiến thức,
kỹ năng đã tích lũy được để phát triển Quả thật, nhiệm vụ của người giáo viên phổ thông nói chung và giáo viên bậc THPT nói riêng ở các trường rất nặng nề, bởi ngoài việc hoàn thành tốt nhiệm vụ giảng dạy họ còn chịu áp lực từ nhiều phía nhà trường, gia đình và xã hội
Những nội dung, yêu cầu phát triển đội ngũ giáo viên THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
- Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên về phát triển đội ngũ giáo viên THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
- Tích cực xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
- Đổi mới công tác tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ đội ngũ giáo viên THPT nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
- Đẩy mạnh công tác đào tạo bồi dưỡng phát triển đội ngũ GV THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
- Tích cực kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
1.4 Phát triển đội ngũ giáo viên THPT theo yêu cầu đổi mới giáo dục
Trang 361.4.1 Xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
Xây dựng kế hoạch phát triển ĐNGV là việc xác định nhu cầu về số lượng, cơ cấu và chất lượng về CBQL, GV nhằm đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ của nhà trường Công tác xây dựng kế hoạch phát triển ĐNGV trường THPT cần được tiến hành thường xuyên theo quy trình để cá nhân có điều kiện phấn đấu và công tác cán bộ của nhà trường được chủ động và có hiệu quả Bản quy hoạch được xây dựng trước khi bước vào năm học mới để cấp có thẩm quyền xét duyệt và giải quyết
Việc xây dựng kế hoạch cần thực hiện:
a Nghiên cứu các văn bản pháp qui của Bộ GD-ĐT; các quy định, hướng dẫn của các cấp quản lý nhà nước về định biên đối với trường học Chuẩn GV theo Điều lệ trường THPT và theo chuẩn đánh giá chức danh GV của các cơ quan quản lý GD-ĐT các cấp
b Dựa trên đề án vị trí việc làm của các trường THPT được cấp trên phê duyệt
c Khảo sát đánh giá thực trạng đội ngũ GV
Khảo sát, đánh giá chất lượng từng GV: Căn cứ chuẩn GV do các cấp quản lý ngành GD-ĐT quy định; Căn cứ các mức độ của tiêu chuẩn Quy chế đánh giá xếp loại
GV theo quy định hiện hành
d Xác định hệ mục tiêu xây dựng ĐNGV căn cứ vào chuẩn đã xác định
Khi xác định mục tiêu cần căn cứ thực trạng ĐNGV, điều kiện cụ thể của trường
về mọi mặt Đặt mục tiêu cho từng năm: từng giai đoạn 3 đến 5 năm hoặc dài hơn
- Mục tiêu về số lượng ĐNGV: Theo quy định số giáo viên/lớp học chưa kể biên chế kiêm nhiệm) Số lượng thành viên Lãnh đạo nhà trường, các GV kiêm nhiệm;
- Mục tiêu về cơ cấu ĐNGV: Cơ cấu của ĐNGV trường THPT là sự tính toán sao cho đảm bảo tỉ lệ GV từng bộ môn, không để thiếu hoặc thừa GV, hợp lý về trình độ chuyên môn, đào tạo, giới tính, tuổi nghề, tuổi đời, dân tộc;
- Mục tiêu về chất lượng ĐNGV: Trình độ đào tạo; trình độ, năng lực chuyên môn – nghiệp vụ; chất lượng các hoạt động chuyên môn giảng dạy, giáo dục; chất lượng hoạt động đào tạo bồi dưỡng
1.4.2 Quy hoạch, sàng lọc, tuyển dụng, phát triển đội ngũ giáo viên THPT
- Qui hoạch ĐNGV các trường THPT là xác định được nhu cầu và yêu cầu đối
với ĐNGV về số lượng, cơ cấu, chuẩn về trình độ đào tạo, năng lực và phẩm chất; đề
ra mục tiêu, xác định biện pháp và các điều kiện để có ĐNGV các trường THPT đáp ứng được các yêu cầu phát triển giáo dục THPT
Trang 37- Công tác quy hoạch ĐNGV các trường THPT được thực hiện thông qua các
chức năng cơ bản quản lí lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra) với các nội dung
cụ thể:
+ Đánh giá thực trạng ĐNGV các trường THPT nhận biết được thuận lợi và khó khăn về số lượng, cơ cấu, trình độ đào tạo, năng lực và phẩm chất của ĐNGV các trường THPT)
+ Dự báo đúng về quy mô phát triển các trường THPT để nhận biết được nhu cầu ĐNGV các trường THPT trong thời gian tới
+ Đề ra được mục tiêu phát triển ĐNGV các trường THPT về số lượng, cơ cấu, trình độ đào tạo, năng lực và phẩm chất
+ Xác định được lộ trình hoạt động, dự kiến được các nguồn lực, đề ra được các biện pháp thực hiện phát triển ĐNGV các trường THPT
+ Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện quy hoạch ĐNGV các trường THPT; điều chỉnh kịp thời về quy hoạch ĐNGV các trường THPT cho ph hợp với các kết quả dự báo và tình hình thực tế của nhà trường
Thực hiện sàng lọc, điều chuyển những giáo viên không đáp ứng các yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ Trong đội ngũ giáo viên các cấp còn tồn tại những giáo viên yếu kém về chuyên môn nghiệp vụ Sự hạn chế của số giáo viên này lại càng bộc lộ rõ trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông Vì thế, cần sớm có hướng giải quyết đối với số giáo viên không đáp ứng các yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ
- Sàng lọc, tuyển dụng GV là việc bổ sung vào ĐNGV những GV đủ tiêu chuẩn
theo Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông Công tác tuyển
dụng GV phải căn cứ vào nhu cầu thực tế về số lượng, chất lượng, cơ cấu ĐNGV của từng trường THPT Việc tuyển dụng GV do từng trường THPT tự rà soát nhu cầu của mình, sau đó lập kế hoạch tuyển dụng GV gửi về phòng Tổ chức cán bộ trực thuộc Sở
GD & ĐT theo từng năm học Phòng Tổ chức cán bộ sẽ thống kê, tổng hợp và xây dựng kế hoạch chung, tham mưu với Ban lãnh đạo Sở GD & ĐT, Giám đốc Sở trình xin UBND Tỉnh tổ chức tuyển dụng GV để bổ sung cho các trường THPT Qui trình thực hiện tuyển dụng phải đảm bảo tính công khai, minh bạch, rõ ràng, xây dựng qui chế và thông báo rộng rãi, công khai về số lượng, điều kiện tuyển dụng, cụ thể về thời gian, hồ sơ nhằm đảm bảo công bằng khi tuyển dụng Phương thức tuyển dụng có thể
là xét tuyển, thi tuyển hoặc kết hợp cả hai hình thức trên Kết quả tuyển dụng sẽ được
Sở GD & ĐT thông báo công khai Giáo viên trúng tuyển sẽ được phân công và nhận nhiệm sở tại các trường THPT có nhu cầu tuyển dụng
Trang 38- Tuyển dụng bổ sung nhân sự nhằm đảm bảo đủ số lượng GV như bản kế hoạch
đề ra nhằm thúc đẩy quá trình phát triển ĐNGV theo hướng đảm bảo cho việc tăng nhanh về số lượng, cơ cấu hợp lý và chất lượng cao [1] Việc tuyển chọn bổ sung nhân
sự cần tuân thủ những nguyên tắc sau:
+ Xuất phát từ nhu cầu thực tế của nhà trường
+ Căn cứ vào tiêu chuẩn GV theo quy định
+ Dựa vào kết quả nghiên cứu thận trọng và toàn diện
- Phân công, bố trí GV, nhân viên là quyền hạn và trách nhiệm của người hiệu trưởng Đó là việc phân công GV giảng dạy và chủ nhiệm các lớp trong trường Nếu phân công hợp lý sẽ phát huy tối đa tiềm năng của GV, ngược lại phân công, bố trí không hợp lý sẽ làm giảm chất lượng dạy học và giáo dục của họ, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục chung của nhà trường
Khi phân công, bố trí hiệu trưởng cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Phù hợp với trình độ đào tạo và năng lực của từng người
+ Đảm bảo tính kế thừa để có sự ổn định trong một thời gian nhất định
Khi phân công, bố trí hiệu trưởng cần tiến hành theo các bước sau:
+ Yêu cầu cá nhân đề đạt nguyện vọng
+ Tổ chuyên môn trao đổi bàn bạc trên cơ sở đánh giá năng lực GV ở năm học trước
+ Hiệu trưởng dựa trên cơ sở phân công của tổ để ra quyết định
Tóm lại, việc quy hoạch sàng lọc, tuyển dụng ĐNGV các trường THPT phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị của nhà trường, trên cơ sở phân tích đánh giá ĐNGV các trường THPT hiện có, dự kiến quy mô phát triển của ĐNGV các trường THPT trong tương lai từ đó xây dựng kế hoạch tổng thể, kế hoạch cụ thể cho từng giai đoạn nhằm mục tiêu: đảm bảo đủ về số lượng, hợp lí về cơ cấu và đạt chuẩn về chất lượng để thực hiện tốt mục tiêu, kế hoạch giáo dục của nhà trường và địa phương
1.4.3 Đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT
- Theo Trần Khánh Đức “Lao động sư phạm của người GV là một loại hình lao
động đặc biệt mang tính chất đặc th của các loại hình lao động trí óc và lao động thể lực Hoạt động sư phạm hằng ngày của GV rất đa dạng và phức tạp từ khâu chuẩn bị giáo án, giảng dạy lí thuyết hoặc thực hành, tổ chức kiểm tra học sinh, chấm bài, sinh hoạt chuyên môn, giáo dục học sinh, học tập nâng cao trình độ, các hoạt động khác theo chức năng nhiệm vụ của người GV, … Do đó, đòi hỏi ĐNGV phải cần phải có các kiến thức và kĩ năng cần thiết về tổ chức khoa học lao động sư phạm nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả các hoạt động lao động sư phạm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường” [13]
Trang 39- Theo tác giả Nguyễn Sỹ Thư – Đinh Thị Kim Thoa: “Trong những năm qua, giáo dục đã không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng Giáo dục nước ta đang bước vào giai đoạn hết sức quan trọng và mang tính quyết định, giai đoạn đổi mới giáo dục đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Vấn
đề đặt ra là: để đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục cần có những nhà giáo như thế nào Nói cách khác, phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực chuyên môn và nghiệp vụ
sư phạm của GV như thế nào để đảm bảo cho đổi mới giáo dục thành công? Với vai trò to lớn như vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển ĐNGV hiện nay là công việc hết sức quan trọng không phải của riêng ngành giáo dục mà đang trở thành công việc của Đảng, của Nhà nước và của toàn xã hội Đối với nhà trường, đơn vị trực tiếp quản lí và sử dụng ĐNGV thì công tác đào tạo, bồi dưỡng phải được nhận thức sâu sắc
và thực hiện tốt” [29]
Trong bối cảnh đất nước hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV càng phải được chú trọng Từ những năm đầu thế kỷ XXI, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 40-CT/TW chỉ rõ: “Tiến hành xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, nâng cao trình độ đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo dục, bảo đảm số lượng, nâng cao chất lượng, cân đối về cơ cấu, đạt chuẩn, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới” [33] Do đó, để tạo điều kiện cho
GV hoàn thiện hơn nữa phẩm chất và năng lực người thầy, nhà trường cần chú trọng hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng
Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ,… để tạo điều kiện cho họ có thể hành nghề có năng suất và hiệu quả Nói cách khác, đào tạo được xem là một quá trình giúp người được đào tạo có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định
Bồi dưỡng là một quá trình cập nhật kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu, bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo các chuyên đề nhằm tạo điều kiện cho người học có cơ hội củng cố và mở mang một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng chuyên môn, nghề nghiệp sẵn có để làm việc có hiệu quả hơn
Theo đó, đào tạo và bồi dưỡng giáo viên chính là trang bị cho GV những kiến thức, kỹ năng, hành vi cần thiết để thực hiện tốt nhất nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục của mình Muốn nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, người hiệu trưởng cần đặc biệt quan tâm tới công tác bồi dưỡng ĐNGV
Công tác đào tạo, bồi dưỡng có thể theo các hình thức chính quy hoặc không chính quy (tại chức, chuyên tu,…) dưới dạng tập trung dài hạn, hay ngắn hạn, tự bồi dưỡng,… Mục đích của công tác này là nhằm củng cố, nâng cao năng lực, trình độ
Trang 40chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý, lý luận chính trị của m i GV, góp phần xây dựng ĐNGV trường THPT vững vàng về chuyên môn, nghiệp vụ, có bản lĩnh chính trị và lập trường tư tưởng kiên định
Để công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV trường THPT đạt kết quả, cần thực hiện:
a Các yêu cầu của công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV
- Thực hiện đầy đủ chủ trương của ngành GD-ĐT về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV;
- Phát huy tính tích cực chủ động của ĐNGV trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
và tự đào tạo, tự bồi dưỡng;
- Đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa yêu cầu trước mắt và yêu cầu lâu dài, thực hiện yêu cầu lâu dài là sự đảm bảo vững chắc cho tương lai của từng GV và cả ĐNGV trường THPT nói riêng và cả ngành học phổ thông nói chung;
- Đảm bảo vai trò quản lý và ý thức trách nhiệm của người chủ thể quản lý nhà trường trong công tác đào tạo, bồi dưỡng
b Nội dung công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV
- Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức tư tưởng chính trị;
- Bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ
c Trình tự triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV
- Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV;
- Hiệu trưởng đưa ra mục tiêu, kế hoạch chung cho toàn trường, trên cơ sở đó,
m i tổ, m i cá nhân xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và thường xuyên theo dõi,
tổ chức cho tập thể và cá nhân thực hiện kế hoạch;
- Tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng;
- Kiểm tra đánh giá công tác đào tạo, bồi dưỡng
Tóm lại: Đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV các trường THPT là công việc phải làm thường xuyên, liên tục và lâu dài để xây dựng một ĐNGV đủ về số lượng, ph hợp về
cơ cấu và có chất lượng cao, phục vụ cho chiến lược phát triển lâu dài của nhà trường Mặt khác, công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV còn mang tính cấp bách bởi nhà trường phải thực hiện ngay những yêu cầu của năm học, những chỉ đạo của ngành nhằm nâng cao chất lượng giáo dục như đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học Đào tạo, bồi dưỡng sẽ đẩy mạnh sự phát triển về chuyên môn nghiệp vụ của tất cả
GV, nâng cao chất lượng hoạt động dạy học, giáo dục trong nhà trường Bên cạnh đó, người GV phải có ý thức không ngừng tự hoàn thiện về đạo đức, nhân cách, chuyên môn nghiệp vụ, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo trong hoạt động sư phạm, biết phối hợp nhịp nhàng với tập thể nhà trường trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục của nhà trường, của ngành và của toàn xã hội