Bản chất của thuyết nhân văn – hiện sinh - Quan điểm Nhân văn – hiện sinh không làm việc dựa trên sự “dán nhãn”hoặc “cho một mã số” lên một Thân chủ mà tập trung xem xét Thân chủ hiện hữ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÀI TIỂU LUẬN GIỮA KỲ BỘ MÔN:
LÝ THUYẾT CÔNG TÁC XÃ HỘI CHỦ ĐỀ: CÁC QUAN ĐIỂM NHÂN VĂN VÀ HIỆN SINH
Giảng viên: Ths Nguyễn Thị Thái Lan
Thực hiện: Nhóm 3 Lớp: K65 - Công tác xã hội Khóa: QH – 2020 –CTXH
Hà Nội, 10/2021
Trang 2Thành viên nhóm 3:
1 Đặng Thị Huệ - 20030465
2 Hoàng Thị Quỳnh Linh - 20030482
3 Nguyễn Quỳnh Anh - 20030435
4 Nguyễn Thị Dung - 20030445
5 Nguyễn Thị Kim Anh - 20030436
6 Hoàng Tiến Cường - 20030031
7 Mai Quỳnh Anh – 20030433
Trang 3A MỞ ĐẦU
Công tác xã hội là một ngành khoa học tương đối non trẻ trên thế giới, tính chấtchuyên nghiệp mới được hình thành hơn 100 năm nay mặc dù có nguồn gốc hìnhthành từ xa xưa Công tác xã hội là sự vận dụng các lý thuyết khoa học về hành vicon người và hệ thống xã hội nhằm xây dựng và thúc đẩy sự thay đổi liên quan đến
vị trí, địa vị, vai trò của các các nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế tiến tới bìnhđẳng và tiến bộ xã hội
Lý thuyết là thành tố cơ bản trong hành nghề nó dẫn dắt NVXH (Nhân viên xã hội)tới cái nhìn nhận và tiếp cận cá nhân, nhóm, gia đình, cộng đồng và xã hội Lýthuyết giúp dự đoán, giải thích và đánh giá hoàn cảnh, hành vi và cung cấp mộtnhân tố cơ bản trong việc làm thế nào NVXH phản ứng và can thiệp với thân chủngười có tiêu sử vấn đề và mục tiêu đặc thù Các lý thuyết thường thông tin choNVXH về các dạng phương pháp được đánh giá cao nhất để làm việc với thân chủ.NVXH có nhiệm vụ tiếp cận, đánh giá và cung cấp sự ngăn chặn hoặc phương pháplàm việc với thân chủ dựa trên các lý thuyết tâm lý, xã hội học và CTXH Vì vậyNVXH có trách nhiệm đạo đức và tính chuyên nghiệp để có kiến thức về xây dựng
và nghiên trách nhiệm đạo đức và tính chuyên nghiệp để có kiến thức về xây dựng
và nghiên cứu các lý thuyết xung quanh giá trị CTXH để tiếp tục thảo ra dựa trêncác lý thuyết đó trong thực hành CTXH
Một trong những hệ thống lý thuyết được vận dụng trong CTXH không thể khôngnhắc tới hệ thống quan điểm nhân văn – hiện sinh Thuyết nhân văn hiện sinh làcách thức nhìn nhận cuộc sống, dựa trên những nền tảng triết lý vững chắc về conngười và khả năng tiềm tàng của họ trong việc làm chủ thế giới Những người theothuyết nhân văn hiện sinh luôn tập trung khích lệ khả năng của con người Họ cóniềm tin vững chắc về sức mạnh của con người trong việc kiểm soát cuộc sống Vậndụng trong mối quan hệ giữa Thân chủ và Nhân viên xã hội, Các quan điểm và môhình lý thuyết thuộc trường phái nhân văn hiện sinh đóng vai trò là kim chỉ
Trang 4nam của Công tác xã hội Quan điểm nhân văn hiện sinh không chỉ là một lý thuyết
mà còn là triết lý nghề Công tác xã hội Quan điểm này ảnh hưởng đến việc hìnhthành các phương pháp và mô hình trong thực hành Công tác xã hội Đối tượngphục vụ của Công tác xã hội là con người vì vậy muốn thực sự giúp đỡ con người,đáp ứng những quyền cơ bản của con người, thực hiện công bằng xã hội thì cần phảitrang bị một nền tảng triết lý lấy con người làm trung tâm Quan điểm nhân văn hiệnsinh coi con người là mối quan tâm hàng đầu của xã hội, đây cũng là nền tảng triết
lý cơ bản của nghề Công tác xã hội
B NỘI DUNG
I Tổng quan về quan điểm nhân văn - hiện sinh
1 Nguồn gốc
Trào lưu triết học nhân văn – hiện sinh (existential-humanistic approach) có
cơ sở từ trong tất cả những tư tưởng của con người về sự nhiệm màu của ý thức vàcủa cuộc sống Chúng ta có thể phát hiện những cội nguồn của trào lưu này ngay từthời có những quan điểm muốn “khách thể hóa” (objectify) những trải nghiệm củacon người như những lý thuyết và mô hình chính trị của Aristotle (Chính trị luận,10), triết học duy lý của Descartes, cho đến những khuynh hướng hiện đại hơnmuốn nhấn mạnh “tính chủ quan” của con người (human subjectivity) của các họcgiả trong thế kỷ 20 như hiện tượng luận của E Husserl và sự tự sáng tạo của chủ thể
tư duy, quan niệm về hữu thể của tư tưởng Heidegger, quan điểm về con người vàđạo đức con người của Sartre,và triết học về con người – chủ thế sống của Merleau-Ponty (Viện triết học, Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)
1.1 Chủ nghĩa nhân văn phương pháp tiếp cận nhân văn
Cách tiếp cận nhân văn xuất hiện, một phần, như một phản ứng đối với cảcách tiếp cận phân tâm học/tâm động học và cách tiếp cận hành vi Các nhà nhânvăn học coi các mô hình hành vi là máy móc và quá tập trung vào quan điểm kháchquan, thiếu hiểu biết và quan tâm đến chiều sâu của kinh nghiệm, ý thức và sự phát
Trang 5triển nhân cách của con người Họ cũng xem các phương pháp tiếp cận phân tích vàtâm lý học là lạnh lùng, xa cách và quá xác định liên quan đến sự phát triển của conngười, đặc biệt là quan niệm cho rằng những trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu tạo ra
"sự cố định" hoặc một người không có khả năng tiến bộ trong cuộc sống của họ Họcũng tin rằng những cách tiếp cận này chủ yếu tập trung vào bệnh lý, điều gì xảy ravới ai đó, hơn là thừa nhận sự sáng tạo, tăng trưởng và thích ứng của con người.Abraham Maslow, một trong những nhân vật chính trong phong trào nhân văn nói,
“Cứ như thể Freud đã cung cấp cho chúng ta một nửa tâm lý bệnh tật và bây giờchúng ta phải lấp đầy nó bằng một nửa khỏe mạnh” Chủ nghĩa nhân văn đề cử việcđảm trách đi tìm chân lý và đạo đức bằng những phương tiện của con người để phục
vụ lợi ích của con người Quan điểm nhân văn trong tâm lý học nhấn mạnh tiềmnăng tốt đẹp bẩm sinh của tất cả con người
1.2 Chủ nghĩa hiện sinh và phương pháp tiếp cận
Một yếu tố đóng góp khác cho chủ nghĩa nhân văn là chủ nghĩa hiện sinh,một cách tiếp cận triết học nhấn mạnh cái nhìn toàn diện về con người, xác nhậnbản chất của cảm xúc, suy nghĩ, hành vi và lựa chọn của con người Thuyết hiệnsinh tập trung vào khả năng và nhu cầu của con người trong việc xác định và tìm ra
ý nghĩa hoặc mục đích của chính họ trong một thế giới “phi lý” không có bất kỳ ýnghĩa bẩm sinh nào đối với nó Theo nhiều cách, nó lặp lại những nguyên tắc cốt lõicủa chủ nghĩa nhân văn và sự bác bỏ thuyết xác định tâm động học và tính kháchquan của chủ nghĩa hành vi Các phương pháp tiếp cận hiện sinh khác với chủ nghĩanhân văn ở điểm nhấn mạnh hơn nữa vào ý chí tự do, sự lựa chọn, quyền tự quyết
và việc tìm kiếm ý nghĩa và mục đích
Một khái niệm quan trọng trong chủ nghĩa hiện sinh là tức giận hoặc lo lắng,được tạo ra chủ yếu bởi trách nhiệm đi kèm với tự do; ý chí tự do truyền đạt ý thứctrách nhiệm về những lựa chọn mà chúng ta đưa ra và những hậu quả trong tươnglai của chúng cũng liên quan đến nhu cầu chấp nhận sự không thể tránh khỏi của
Trang 6cái chết của chính mình và cái chết trong tương lai để có một cuộc sống trọn vẹn.Các khái niệm quan trọng khác bao gồm tính xác thực, đó là một người sống cuộcsống mà họ đã cố tình chọn đến mức tối đa có thể, và sự tuyệt vọng, hơi khác so vớicách sử dụng thông thường của thuật ngữ đó để chỉ trải nghiệm cảm xúc khi thấtvọng hoặc không thể sống cuộc sống mà một người dự định tạo ra Ví dụ, một sinhviên đã mơ ước cả đời mình trở thành một bác sĩ có thể cảm thấy tuyệt vọng nếu cô
ấy không được nhận vào bất kỳ trường y khoa nào Chủ nghĩa hiện sinh thường gắnliền với các tác phẩm và ý tưởng triết học của Jean-Paul Sartre, mặc dù nó đã đượcđịnh hình bởi nhiều người khác, bao gồm Søren Kierkegaard, Simone de Beauvoir,Maurice Marleau-Ponty và Albert Camus Mặc dù mô tả như vậy về một số kháiniệm cốt lõi của chủ nghĩa hiện sinh, không có trường phái hay kỷ luật thống nhấthoặc duy nhất của chủ nghĩa hiện sinh, mà có nhiều biến thể và hình thức khác nhaucủa cách tiếp cận triết học và tâm lý này
2 Lịch sử hình thành trường phái nhân văn – hiện sinh
Những người theo chủ nghĩa hiện sinh và các nhà Tâm lý học như: Freud,Gordon Allport, Buber, William James, các triết gia Ortega y Gasset & Pascal…quan tâm đến ý nghĩa cốt yếu của các trải nghiệm trong nội tâm con người Trongkhi đó, quan điểm nhân văn (humanistic perspective) trong tâm lý học củaAnderson, Bugental, Arthur Deikman, Erich Fromm, George Kelly, Sidney Jourard,Abraham Maslow, Carl Rogers phát triển mạnh trong khoảng 4 thập niên cuối thế
kỷ 20, trở nên đồng điệu với trào lưu tư tưởng hiện sinh Sự kết hợp 2 dòng tư tưởnghiện sinh & nhân văn tạo nên sự chú tâm sâu sắc đến bản chất con người: tình yêu,
sự ganh ghét, tính trung thực, sự phản bội, lòng can đảm, sự giận dữ, đức hy sinh, sựtoàn mỹ, tính sáng tạo, sự độc ác, và những chiều kích khác rất phong phú nhưngcũng đầy mâu thuẫn trong cuộc sống nội tâm của con người Đến thập niên 1960, sựsụp đổ các mô hình trị liệu kém hiệu lực của phân tâm cổ điển và tầm nhìn hạn chếcủa các nhà trị liệu tâm lý không phải phân tâm dẫn đến cần nhấn mạnh vai trò trungtâm của đời sống chủ quan con người: nhận thức, chú ý,
Trang 7xúc cảm… Các tác giả theo khuynh hướng nhân văn – hiện sinh đều có quan điểmchung - lòng tin vào sự thánh thiện & tiềm năng của con người.
Do vậy có một “dòng sông” được tạo nên bởi ba nhánh phụ bao gồm: (1)Tâm lý học hiện sinh và triết học hiện sinh; (2) Tâm lý học nhân văn và (3) Phươngpháp nghiên cứu và quan điểm hiện tượng học Cả 3 cùng tương tác và có ảnhhưởng lên các quan điểm của trường phái nhân văn – hiện sinh
3 Các khái niệm có trong trường phái nhân văn – hiện sinh
3.1 Sự nhận biết (awareness)
Khả năng cơ bản nhất trong cuộc sống của con người đó là khả năng chú ýđến cả những gì bên ngoài bản thân và bên trong bản thân chúng ta Từ chỗ nhậnbiết này mà phát sinh nên ý thức của chúng ta, khả năng nhận biết được ta đangnhận biết (awareness of being aware), mà điều này khiến cho cuộc sống con người
có sự khác biệt về chất lượng (trong chừng mực những gì chúng ta biết được) so vớicác chủng loại khác trên hành tinh này Bởi ta nhận biết được ta đang tồn tại, nhìnthấy được những tác động của ta lên những gì ở xung quanh ta, ta có thể phản ánhđược những gì ta đã trải nghiệm, cho nên cuộc sống của con người được tách biệt rakhỏi những trạng thái hiện hữu “phi ý thức” của những đồ vật, cây cỏ và muôn thú.Chúng ta thật sự không thể sống một cách vô tư vì chúng ta luôn luôn phải để lạinhững dấu ấn trong đời (Nguyên văn: “We can never be truly innocent; we leavespoor wherever we pass” nghĩa là “Chúng ta không bao giờ thực sự là vô can; chúng
ta để lại mùi bất cứ nơi nào mình đi qua”)
3.2 Sự hiện thân (embodiedness)
Thân thể hữu hình của chúng ta luôn chú tâm cả ngày lẫn đêm, tạo điều kiện
và thiết lập giới hạn, nhắc nhở và điều khiển chúng ta Những lập luận từ các họcthuyết Nhị nguyên, Nhất nguyên hoặc Thuyết Tương tác… đều rất lý thú, nhưng tất
cả đều không phản bác được sự hiện thân sống động liên tục của sự tồn tại
Trang 8Thân thể của chúng ta dạy cho chúng ta rằng chúng ta là những “tiến trình”(processes) chứ không phải là những “cấu trúc” kiên định (fixed structures) Sự thayđổi liên tục của thân thể chúng ta là một ẩn dụ, một ví dụ và là một sự thật mà chúng
ta có lẽ đã cố làm ngơ hoặc chối bỏ, nhưng sau cùng đó vẫn là thực tại của chúng ta.Sung sướng hay đau khổ cũng đều là những “giọng nói” của thân xác chúng ta;chúng là những giới hạn ở hai cực của một chuỗi vô số những trạng thái cảm xúccủa chúng ta
3.3 Tính hữu hạn (Finitude)
Trong bất cứ lĩnh vực nào chúng ta cũng chỉ có thể có một hiểu biết giới hạn,mặc dù con người hiếm khi thực sự cảm nhận rõ điều này trong trải nghiệm chủquan của họ Sự thật rõ ràng là tất cả chúng ta đều phải chết, không thể làm được bất
cứ điều gì mà mình đã lựa chọn, rằng có cả một đại dương mênh mông của nhữngkiến thức vây quanh cái hòn đảo hiểu biết nhỏ bé của chúng ta… nhưng những xunglực bên trong vẫn thúc đẩy chúng ta đạt đến sự toàn hảo, để có được tất cả, biếtđược tất cả… và đó cũng là một thuộc tính cố hữu của chúng ta khi chúng ta đápứng lại với khả năng giới hạn của chúng ta Vì bởi khả năng chúng ta hữu hạn, nên
ta lại chuyển điều đó trở thành một tác nhân kích thích chúng ta tăng trưởng, triển
nở, phát minh và sáng tạo
3.4 Tính chủ quan (subjectivity)
Quan điểm về tính chủ quan là nền tảng của nhãn quan nhân văn – hiện sinh(còn gọi là nhãn quan “hiện tượng học” – phenomenological) Khái niệm này có ýnói về những trải nghiệm bên trong của cả nhà trị liệu lẫn thân chủ như những “cảnhquan” chính trong quá trình chúng ta cố gắng chú tâm và làm việc Lập trường nàyrất khác biệt với phần đông những trường phái khác trong tâm lý học cũng như tâm
lý trị liệu hiện nay đang cố “tranh đua” với các ngành khoa học tự nhiên về tính
“khách quan”, chính xác Tập trung vào tính chủ quan tức là chú tâm vào những gì
Trang 9định và toàn bộ những trải nghiệm ẩn sâu trong mỗi con người (thân chủ) Điều này
có lúc bị hiểu sai là sự chú tâm vào những tình cảm (emotions), và tuy đôi khi đúng
là như thế nhưng quả là một sự bóp méo nếu người ta xem việc nhấn mạnh vào tínhchủ quan như là cách thức xem cảm xúc (feelings) có ý nghĩa quan trọng hơn cáclĩnh vực tư duy và các suy nghĩ có chủ ý (cognitive and intentional spheres)
3.5 Tính tự chủ (Autonomy)
Để đương đầu với sự trống trải của cuộc sống, chúng ta hay đòi hỏi nhữngdấu hiệu, những chỉ báo, hoặc những manh mối để biết cách thức đảm nhận nhữngviệc mình có thể thực hiện sao cho đạt khả năng thành công cao nhất, hoặc chí ítcũng có thể hạn chế đến mức thấp nhất những thất bại và phiền nhiễu Có nhiều yếu
tố được liệt kê ở đây như những thứ mà con người có thể lựa chọn để đáp ứng chonhu cầu này: những con người, đức tin, các hóa chất, những nghi thức, những triết
lý, những thương nhân, người diễn trò, những tổ chức thương mại… tất cả đều cuốnhút sự chú tâm của chúng ta
Nhưng chẳng có thứ nào trên đây thỏa nhu cầu trong mọi trường hợp; và vì thếchúng ta vẫn tiếp tục phải “đánh cược” mà chẳng bao giờ có thể chắc chắn được kếtquả sau cùng của những nỗi khao khát
Tất cả nằm ở chỗ sự tự do của chúng ta Trong hoàn cảnh bấp bênh, chắc chắn sẽ cónhững nỗi lo âu, nhưng cũng chính từ đó mà hình thành nên tính tự lập, tính sángtạo, bản sắc cá nhân và đời sống cảm xúc của tất cả chúng ta Đó chính là nguồn lựctrong mỗi đời người để giúp người ấy sau cùng làm nên sự hiện hữu
3.6 Sự hiện hữu (presence)
Để có thể thực sự hiện hữu người ta phải nhận biết và tham gia đầy đủ vàothực tế sống ngay trong hiện tại, không sống tách biệt, đảm nhận các vai trò vàkhách thể hóa bản ngã của mình (self-objectification) Mức độ hiện hữu của chúng
Trang 10ta trong từng hoàn cảnh sống cụ thể luôn luôn thay đổi, bởi vì những trạng thái tìnhcảm, các dự định, các mối quan hệ với người xung quanh và nhiều chiều kích kháctrong cuộc sống của chúng ta cũng liên tục thay đổi Khi xem xét sự hiện hữu bêntrong tình huống tâm lý trị liệu, chúng ta có thể thấy rằng cả hai con người, nhà trịliệu và thân chủ, đều cần phải hiện hữu một cách đầy đủ; nhưng đồng thời chúng tacũng nhận thấy rằng đây không phải là một trạng thái mà một khi đã hình thành thìđương nhiên sẽ được duy trì sau đó Sự hiện hữu ấy rất quan trọng trong tâm lý trịliệu; đó là một mục đích luôn phải được tìm kiếm liên tục nhưng thường lại hay bị
bỏ quên
Những nhà trị liệu thông thái sẽ học cách quán sát sự hiện hữu của chính bản thânmình cũng như sự hiện hữu của thân chủ và nhận biết được những cách thức đặctrưng mà con người sử dụng để né tránh hiện hữu Những cách thức né tránh này (sẽ
mô tả trong phần sau) góp phần hình thành nên sự phản kháng (resistance) và luôn
là một chủ đề quan trọng trong tâm lý trị liệu
3.7 Tách biệt nhưng vẫn liên hệ (separate but related)
Mỗi người trong chúng ta đều ngụ cư trong cái thế giới riêng tư chủ quan củachính mình Khi cố gắng làm những điều mình muốn, con người có thể không biếtđược điều gì xảy ra bên trong nội tâm của một người khác Nhưng mặt khác, chúng
ta cũng có khả năng thiết lập các mối quan hệ với những người khác, gắn bó và nốikết với họ Những trải nghiệm phong phú nhất trong cuộc đời của hầu hết mọi ngườichính là khi ta chia sẻ những trải nghiệm của mình với những người khác Ngườiyêu, vợ chồng, gia đình, bè bạn, người đồng hành, các đối tác, đồng chí… là vô sốnhững con người mà ta có thể thực hiện được những kết nối Có thể nói rằng mộtcon người chỉ có thể hiểu biết được về bản thân mình khi đang cố gắng làm tròn mộtviệc gì đó, thông qua sự gắn kết sâu đậm với ít nhất là một người khác
Trang 11Con người có hai chương trình thiết yếu cho cuộc sống đã được “cài đặt sẵn”như sau: Đó là Tìm kiếm (searching) và Học tập (learning) Nói một cách đơn giảnthì học tập là khả năng mà chúng ta huy động đến khi phải đối đầu với những tìnhhuống mà chúng ta phải thực hành những phương thức đáp ứng Tìm kiếm là mộttiến trình có tính bổ trợ; đó chính là điều chúng ta làm khi không có sẵn những conđường đã định để đương đầu với những tình huống quan trọng đối với chúng ta.Việc tìm kiếm liên quan đến sự mở lòng chấp nhận những rủi ro đối với những gìchưa được hiểu rõ, khám phá những khả năng, thử nghiệm những gì xem ra là cóthể, sử dụng những cách thức thay thế khi hoàn cảnh bị bế tắc và sau cùng là giảiquyết được tình huống.
Khả năng tìm kiếm không phải là một sự phát minh hoặc khám phá trong địnhhướng trị liệu hiện tại Nó đã được áp dụng qua suốt tiến trình lịch sử loài người,nhưng chính là khi xuất hiện tâm lý trị liệu, nó trở thành lĩnh vực tự nhận biết bảnthân, được gọi tên và được chú ý đến nhiều hơn
Tìm kiếm (searching) là một thuật ngữ được sử dụng trong tâm lý học Mỹ vàcũng có phần tương tự với những phương thức khác có tác dụng dẫn đường vàonguồn sức mạnh tương tự ở con người như liên tưởng tự do (free association) trongphân tâm học, sự “bộc lộ” (unfolding) của Buber (được công nhận bởi Welwood,1982) và “tập trung tiêu điểm” (focusing) của Gendlin (1978)
3.9 Hệ thống kiến tạo Ngã-và-Thế giới (Self-and-World Construct System)
Ngay từ những giờ phút đầu tiên trong đời, chúng ta đã thực sự dấn thân vàomột quá trình vừa khám phá, vừa tạo tác nên một thế giới trong đó chúng ta sống vàlập nên một bản sắc để bản thân mình có được một “chỗ đứng” trong thế gian này.Tất nhiên, phần nhiều những công việc sống động này là có tính tiềm ẩn, không diễnđạt được bằng lời và xảy ra bên ngoài tầm nhận biết Tuy nhiên, cuộc sống sinhđộng của chúng ta tùy thuộc vào cách thức mà ta thực hiện quá trình này
Trang 12Để sống trong thế gian, chúng ta phải hiểu rõ những gì là “tốt” và những gì là “nguyhiểm”; những gì có thể cho chúng ta sức mạnh, sự nâng đỡ và bảo vệ; những gìchúng ta phải làm để đạt đến sự hài lòng và tránh được những khổ đau Trong khihình thành những quan điểm này, chúng ta vẫn liên tục phát triển, duyệt xét lại vàthể hiện quan niệm sống của chính mình – về những gì là sức mạnh và điểm yếu củachúng ta; về cách thức mà chúng ta xử lý các tình huống sống và về những gì màchúng ta cố gắng tìm kiếm sâu xa nhất Tất nhiên, phần lớn cái hệ thống Ngã-và-Thế-giới này tồn tại một cách tiềm ẩn và không thể diễn đạt thành lời.
Khi xem xét từ bên ngoài, Hệ thống kiến tạo Ngã-và-Thế giới tạo nên điều màchúng ta vẫn thường hình dung như là “nhân cách” hoặc “cá tính” của một conngười Khi xem xét từ bên trong, hệ thống này dường như “chỉ là cách thức mà qua
đó các sự vật và bản thân ta đang tồn tại” (just the way things are and the way I am)
Hệ thống ấy tự nó rất trong suốt và có chức năng như một lăng kính sàng lọc một sốđiều này và tập trung vào một số điều khác Chính lăng kính ấy cũng có thể bópméo nhận thức của chúng ta
3.10 Những thực tại hiện hữu (existential “givens”)
Sẽ hữu ích khi chúng ta nhận thấy rằng cuộc sống mang đến cho tất cả chúng
ta những điều kiện nhất định để tồn tại và để đáp ứng, mặc dù chúng ta có thể “rộngđường” thay đổi những cách thức đáp ứng này Hệ thống kiến tạo Ngã-và-Thế giới
là một mô hình vận hành thường xuyên những đáp ứng này Hoặc, khi nhìn từ mộtgóc độ khác, đó là cách thức chính yếu để chúng ta đương đầu với những lo âu, theođuổi những lợi ích và thiết lập những giới hạn cho chính sự tồn tại của mình
Các tác giả theo xu hướng hiện sinh đã trình bày nhiều khía cạnh cơ bản trong cuộcsống của chúng ta, ở đây chúng ta chỉ xem xét đến 6 “yếu tố thực tại” của việc “làmngười” (six “givens” of being human)
Trang 13“đánh cược” (we must place our bets) Và những gì chúng ta đang đặt cược vàochính là cuộc sống của chúng ta.
3.12 Phản kháng và phòng vệ (Resistance and Defenses)
Hệ thống kiến tạo Ngã-và-Thế giới của một con người chính là cuộc sống củangười ấy – hoặc ít nhất là kế hoạch hoặc khuôn mẫu cho cuộc sống của người ấy.Nếu theo thời gian, hệ thống đó mang lại cho người ấy sự hài lòng và ít có điềuphiền muộn, thì chắc chắn nó sẽ có khuynh hướng được duy trì và được bảo vệchống lại bất cứ cố gắng nào làm thay đổi nó
Có một điều ít được thấy rõ đó là ngay cả khi hệ thống ấy không còn hoạtđộng hiệu quả, thì đương sự vẫn có thể cứ duy trì và bảo vệ nó Vì thế nhiệm vụ củatâm lý trị liệu chiều sâu (depth psychotherapy) là phải tìm cách giúp cho thân chủtạo nên những thay đổi lâu dài cho cuộc sống Điều quan trọng cũng nằm ở chỗnhững nhà tâm lý trị liệu có thiện chí cũng có thể không hoàn toàn hiểu thấu đượckhiến cho, bằng cách không chủ ý, họ tự làm cho công việc của họ thêm phần khókhăn hơn
Để có thể thay đổi cách thức sống và quan điểm sống của chính mình, conngười phải xem xét và duyệt lại cái mảnh đất đặc thù nơi mình đang đứng Không
hề có một không gian trung dung (neutral space) nào để chúng ta có thể lùi về rồi vô
tư xem xét những gì là tốt và những gì là xấu trong cuộc đời mình, tìm xem
Trang 14những gì đang tác động lên cuộc sống chúng ta, hoặc để xem xét lại cách thức màchúng ta đã đánh giá về những ưu, khuyết điểm của mình Tất cả những cố gắng ấyđòi hỏi một điều rằng chủ thể đang được khảo sát ấy phải đồng thời vừa là khungtham chiếu vừa là nội dung của cuộc khảo sát; nó cũng tương tự như (tuy khôngđơn giản như thế) việc một người dùng bàn tay phải điều chỉnh chiếc máy chụp Xquang để ghi hình cho bàn tay trái của mình.
Hai thuật ngữ rất thông dụng trong tâm lý trị liệu, “phản kháng” và “phòngvệ”, vì thế được xem như hai mặt của một tiến trình: sự duy trì hệ thống Ngã-và-Thếgiới, một cơ cấu độc đáo trong cuộc sống mà thân chủ cảm thấy là rất thiết yếu cho
sự hiện hữu của bản thân mình Trước tiên, không có cách nào để cho thân chủ cóthể có được một nhãn quan mới dựa trên hệ thống Ngã-và-Thế giới của chính anhta
Bản chất của thuyết nhân văn – hiện sinh
- Quan điểm Nhân văn – hiện sinh không làm việc dựa trên sự “dán nhãn”hoặc “cho một mã số” lên một Thân chủ mà tập trung xem xét Thân chủ hiện hữu nhưthế nào, thái độ của Thân chủ đối với thực tế cuộc sống, hướng đi cuộc đời họ, nhữngmối quan hệ và các hoạt động, khả năng rộng mở chấp nhận và trân trọng những gìđang tiềm ẩn chưa được nhận biết bên trong bản thân con người của mình Như vậy,quan điểm Nhân văn – hiện sinh là lý thuyết tập trung đến niềm tin vào khả năng conngười, phê phán các lý thuyết khác quá hướng đến cá nhân-trị liệu (kỹ thuật và y học,đặc biệt là những tổ chức công tác xã hội mang tính vĩ mô)
- Mỗi Thân chủ được xem như một trường hợp độc đáo; mỗi người phải đượctiếp cận bằng một thái độ rộng mở để được khám phá
- Marcel Proust đã viết: “Cuộc hành trình khám phá thực sự không chỉ bao gồm việc nhìn thấy những lãnh địa mới mà còn phải có những tầm nhìn mới”
Trang 15- Sự thay đổi cơ bản nhất trong tất cả các trải nghiệm của con người - đó là sự thay đổi về mặt nhận thức.
II Ảnh hưởng của các quan điểm nhân văn hiện sinh đến Công tác xã hội
60, 70 của thế kỷ XX như Carkhuff, Berenson và các cộng sự
Trang 16của ông đã có công bổ sung và nâng cao tính ứng dụng những lý thuyết của Rogers.
Lý thuyết thân chủ trọng tâm do Carl Rogers phát triển được ra đời và pháttriển vào những năm cuối của thập kỷ 40 Là người mang tính gián tiếp, có nhiềumối quan hệ với lĩnh vực tham vấn, Carl Rogers nhìn nhận được vấn đề trị liệuthông qua sự tham gia của nhân viên xã hội vào các hoạt động tham vấn Thuyếtthân chủ trọng tâm dựa trên quan điểm tích cực về con người, cho rằng mỗi cá nhânluôn có sự vận động để hoàn thiện bản thân, vì thế bản thân họ cần được trao quyền
để chủ động trong giải quyết vấn đề Theo Rogers mọi cá nhân đều có những tiềmnăng riêng để họ có thể phát triển một cách tích cực Nếu như một cá nhân gặp phảikhó khăn về tâm lý, có những hành vi không phù hợp là do họ sống trong môitrường không lành mạnh, không có điều kiện để họ phát huy tiềm năng của họ,không có những mối quan hệ bổ trợ Theo Carkhuff và Berenson, chúng ta chỉ cóthể hiểu được bản thân trong mối quan hệ với cá nhân khác Sự lo lắng nhất trongcuộc sống là đánh mất quan hệ và trở nên cô đơn Con người luôn cảm giác tội lỗi,
do chúng ta không thể đạt được cuộc sống tốt đẹp, con người có trách nhiệm đối vớihành động của bản thân Vì vậy, con người cần được giúp đỡ để phát triển tiềmnăng tâm lý một cách phù hợp Trị liệu hướng đến trợ giúp chúng ta hành động vàchấp nhận sự tự do và có trách nhiệm trong hành động Từ đó cho thấy nhiệm vụcủa nhân viên xã hội là giúp cá nhân tháo bỏ những rào cản trong môi trường xã hội,giúp họ hiểu được chính mình, chấp nhận hoàn cảnh và tự điều chỉnh bản thân đểđạt được trạng thái cân bằng Như vậy, mục đích của người nhân viên xã hội khithực hành theo thuyết thân chủ trọng tâm không phải là chữa trị cho thân chủ hoặctìm kiếm những nguyên nhân từ quá khứ Thay vào đó họ cần khuyến khích thânchủ tự hiện thực hóa những tiềm năng của bản thân mình Thân chủ được xem như
là một chủ thể có hiểu biết, họ phải được hiểu, được chấp nhận để nhân viên xã hội
có thể cung cấp những loại hình giúp đỡ được tốt hơn Nhân viên xã hội cần phảikhuyến khích thân chủ khẳng định năng lực cá nhân của họ
Trang 17trong tiến trình giải quyết vấn đề của chính mình và trong quá trình tham vấn, Nhânviên xã hội quan tâm nhiều hơn đến quan điểm về cuộc sống của thân chủ Ngượclại, Một quá trình trị liệu thành công cần có sự đồng thuận và hậu thuẫn từ hai bên,Nhân viên tư vấn, tham vấn đạt được sự thấu hiểu của thân chủ, có được sự quantâm tích cực đối với thân chủ, Nhân viên xã hội cần nhất quán và phù hợp trong cácmối quan hệ trị liệu Carkhuff – học trò của Rogers và cộng sự có một quan niệmtổng quát hơn với nội hàm: Ông cho rằng, trong mối quan hệ giữa thân chủ và nhânviên xã hội cần có sự trung thực, chính xác; Tôn trọng, ấm cúng; chấp nhận và Thấucảm.
2.1.2 Ứng dụng trong Công tác xã hội
- Nhân viên xã hội cần giúp cá nhân tháo bỏ rào cản trong môi trường xã hội,giúp Thân chủ hiểu được chính mình, chấp nhận hoàn cảnh và tự điều chỉnh bản thân
để đạt được trạng thái cân bằng
- Nhân viên xã hội không mang tính áp đặt, không phán xét Thân chủ mà cần lắng nghe một cách tích cực, thấu cảm và chấp nhận Thân chủ
- Thuyết này giúp Nhân viên xã hội luôn có niềm tin vào thân chủ, vào sựthay đổi của thân chủ do đó sau khi xác định được vấn đề của thân chủ nhân viên xãhội luôn khích lệ, động viên thân chủ để họ tự tin tham gia tích cực vào quá trình giảiquyết vấn đề của mình
Lưu ý:
- Nhân viên xã hội phải thể hiện mình sao cho thân chủ cảm thấy an tâm,đáng tin cậy: tình cảm hay thái độ của nhân viên xã hội phù hợp với hoàn cảnh cũngnhư đối tượng
- NVXH (Nhân viên xã hội) cần phải diễn tả đầy đủ giúp Thân chủ hiểu rõ ràng, thông suốt vấn đề
Trang 18- NVXH phải linh hoạt trong việc xử lý tình huống, không được để tình cảm
cá nhân chi phối, phải có nhân cách đủ mạnh để biệt lập với TC (Thân chủ)
- NVXH cần luôn đặt mình vào tâm trạng của TC, lắng nghe, quan sát để hiểu thân chủ sâu sắc, hiểu cảm xúc, suy nghĩ của đối tượng
- NVXH chấp nhận mọi hoàn cảnh của TC, không phán xét mà để TC cảm nhận được sự thấu cảm để họ tự tin chia sẻ
2.1.3 Ví dụ cụ thể.
“Minh là học sinh lớp 8A trường “Đoàn kết” Trước đây học lực của Minhđược xếp vào loại khá trong lớp nhưng thời gian gần đây mình thường xuyên bỏhọc, đến lớp thì lầm lì, cáu gắt, luôn gây sự với bạn bè, kết quả học tập sa sút Côgiáo chủ nhiệm đã mời gặp cha mẹ em nhưng không có ai đến Cô được biết là bố
mẹ Minh đã ly hôn được một thời gian rồi Bố em đã ra ngoài sống với một ngườiphụ nữ khác còn mẹ em thì cũng mải lo kiếm tiền để trang trải cuộc sống nên cũngkhông có nhiều thời gian quan tâm, chăm sóc em Do hoàn cảnh gia đình như vậynên Minh đã rất chán nản, không quan tâm đến viêc học tập mà đã có một số hành
vi gây nhiễu làm ảnh hưởng tới các bạn trong lớp
Cô giáo Minh không muốn một học trò vốn ngoan ngoãn, học khá lại dần xa
đà vào các tệ nạn xã hội nên cô đã khuyên em tìm đến NVXH để tìm cách giúp TCgiải tỏa tâm lý, thay đổi hành vi tiêu cực, giúp em tự tin vượt qua hoàn cảnh”
- Thuyết thân chủ trọng tâm được thể hiện rõ nhất thông qua việc NVXH sử dụng kỹ năng lắng nghe, thấu cảm, phản hồi
+ KN lắng nghe: NVXH sẽ lắng nghe tất cả những điều mà TC nói, quan sát
cử chỉ, điệu bộ đồng thời đặt ra những câu hỏi nhằm khích lệ sự chia sẻ, thu thậpthông tin giúp TC cảm thấy mình được lắng nghe, được tôn trọng đồng thời sẽ thấuhiểu được điểm mạnh, điểm yếu của TC từ đó phát huy điểm mạnh, hạn chế điểm yếu
Trang 19+ KN thấu cảm: NVXH thấu hiểu cảm xúc, suy nghĩ của TC đang mức độ
nào, hiểu được vấn đề của TC từ đó cùng TC đưa ra giải pháp để TC tự giải quyết vấnđề
+ KN phản hồi: NVXH phải biết tóm lược những gì mà TC chia sẻ sau đó
phản hồi lại để TC có cảm giác là mình được tôn trọng, được quan tâm Ngoài những
kỹ năng trên thuyết thân chủ trọng tâm cũng được thể hiện trong một số kỹ năng khácnhư đặt câu hỏi, quan sát, xử lý khủng hoảng
Thuyết thân chủ trọng tâm không chỉ sử dụng trong quá trình thay đổinhận thức, suy nghĩ, hành vi mà còn được thể hiện xuyên suốt quá trình trợ giúp TC.Thuyết này giúp TC tự nhận thức ra được vấn đề của mình để họ tự lựa chọn cáchgiải quyết vấn đề của mình NVXH chỉ đóng vai trò là người xúc tác, khuyến khích,động viên, định hướng Đặt TC vào vị trí trung tâm, TC sẽ là người làm và tự chịutrách nhiệm về quyết định của mình
2.2 Quan điểm tâm lý học nhân văn
2.2.1 Nội dung
Thực chất, quan điểm tập trung vào cá nhân – thuyết thân chủ trọng tâm củaCarl Rogers được bao hàm bởi những lý thuyết cốt lõi nhất của quan điểm tâm lýhọc nhân văn Quan điểm tâm lý học nhân văn có nguồn gốc từ quan điểm tự thoảmãn, duy trì tiềm năng con người của Maslow Động cơ cho mọi hành động của conngười đó là đáp ứng những nhu cầu cơ bản Abraham Maslow cùng với Carl Rogers
là 2 đại diện tiêu biểu của tâm lý nhân văn Tâm lý học nhân văn là một quan điểmnhấn mạnh xem xét toàn bộ cá nhân và nhấn mạnh các khái niệm như ý chí tự do, tựhiệu quả và tự hiện thực hóa Thay vì tập trung vào rối loạn chức năng, tâm lý nhânvăn phấn đấu để giúp mọi người hoàn thành tiềm năng của họ và tối đa hóa hạnhphúc của họ Triết lý cốt lõi của trường phái nhân văn coi “bản chất con người làtích cực”: con người “tốt lành” và “có tiềm năng”
Trang 20Quan điểm nhân văn trong tâm lý học nhấn mạnh tiềm năng tốt đẹp bẩm sinhcủa tất cả con người Được tóm tắt bởi năm nguyên tắc hoặc định đề cốt lõi của tâm
lý nhân văn, lần đầu tiên được trình bày trong một bài báo do James Bugental viếtvào năm 1964 và được điều chỉnh bởi Tom Greening, nhà tâm lý học và biên tậpviên lâu năm của Tạp chí Tâm lý Nhân văn với năm nguyên tắc cơ bản của tâm lýhọc nhân văn như sau:
- Con người, với tư cách là con người, thay thế tổng số các bộ phận của họ Chúng không thể được giảm thành các thành phần
- Con người tồn tại trong một bối cảnh duy nhất của con người, cũng như trong một hệ sinh thái vũ trụ
- Con người nhận thức và nhận thức về nhận thức - tức là họ có ý thức Ýthức của con người luôn bao gồm nhận thức về bản thân trong hoàn cảnh của ngườikhác
- Con người có khả năng lựa chọn và do đó có trách nhiệm
- Con người có chủ định, hướng tới các mục tiêu, nhận thức được rằng chúnggây ra các sự kiện trong tương lai và tìm kiếm ý nghĩa, giá trị và sự sáng tạo
Độc giả có thể hiểu hơn tính ứng dụng của quan điểm tâm lý học nhân vănthông qua thuyết thân chủ trọng tâm của Carl Rogers và thuyết nhu cầu củaAbraham Maslow
2.2.2 Đánh giá quan điểm tâm lý học nhân văn
Ưu điểm:
Một trong những điểm mạnh chính của tâm lý nhân văn là nó nhấn mạnh vai trò của cá nhân
Trang 21Trường tâm lý học này mang lại cho mọi người nhiều tín dụng hơn trong việckiểm soát và xác định tình trạng sức khỏe tâm thần của họ.
Nó cũng có ảnh hưởng đến môi trường Thay vì chỉ tập trung vào những suynghĩ và ham muốn nội tâm của chúng ta, tâm lý nhân văn cũng ghi nhận ảnh hưởngcủa môi trường đối với kinh nghiệm của chúng ta
Tâm lý học nhân văn đã giúp loại bỏ một số sự kỳ thị gắn liền với điều trị vàlàm cho nó dễ chấp nhận hơn đối với những người khỏe mạnh, bình thường đểkhám phá khả năng và tiềm năng của họ thông qua liệu pháp
Trang 22tiêu chuẩn nhóm tăng cường thuộc vềcác nhóm mở và đóng, thúc đẩy sự đa dạngtrong nhóm, bao gồm thay vì loại trừ những người khác, mở rộng quyền tự do lựachọn và ra quyết định mở, và giúp các thành viên đặt câu hỏi về thẩm quyền củangười lao động cũng như của hệ thống bệnh viện.
2.3.1.1 Các giá trị nhân văn và các chuẩn mực dân chủ
Nhóm I: Quyền bình đẳng
Nhóm I được kiểm chứng dựa trên các giá trị nhân văn 1, 2, 3 và 4 khi đượcthể hiện bởi những người thực hành Mỗi giá trị đều được thể hiện rõ ràng thông quamột tập hợp các quy tắc dân chủ cùng các tiêu chuẩn được đặt ra cho các mối quan
hệ nhân văn giữa các thành viên sẽ được trình bày sau đây Vai trò của người thựchành sẽ được phân định và thể hiện một cách rõ nét nhất
Giá trị 1: Giá trị và khả năng cố hữu của các cá nhân
Những người thực hành trong nhóm đều có quyền bình đẳng về cơ hội cho dù
họ khác nhau về chủng tộc, giai cấp, địa vị, tuổi tác, giới tính và khuynh hướng tìnhdục, cũng như tình trạng thể chất và tâm lý Giá trị này làm nền tảng cho tất cảnhững giá trị khác trong việc hình thành nên nhóm nhân văn đồng thời nhấn mạnhvào việc mội cá nhân sở hữu đều một tinh thần và nghị lực riêng biệt Việc kết hợpgiá trị này trong nhóm sẽ tạo tiền đề cho những cách thức tiếp theo mà các thànhviên có thể nhận thức, giúp đỡ và làm việc với nhau Từ đó, các thành viên pháttriển một chủ nghĩa quân bình, chứ không phải là một chủ nghĩa tinh hoa có thể làmxói mòn những nỗ lực và phấn đấu của một số thành viên khác
Nguyên tắc: Nhóm bảo vệ quyền đóng góp của mỗi thành viên và nhận tài
nguyền từ nhóm
Việc trở thành mỗi mảnh ghép trong nhóm dựa theo chủ nghĩa bình đẳng,không phủ nhận vị trí, đóng góp và tiềm năng mỗi thành viên Các thành viên sởhữu nhiều kiến thức hơn, nhiều kinh nghiệm từ trước, địa vị xã hội hoặc tầng lớp
Trang 23kinh tế cao hơn không thể sử dụng những điều này để làm lý do coi thường hay hạthấp người khác Mỗi người trong số họ đều phải có trách nhiệm nhận thức về cácphương pháp tiếp cận tinh hoa mới mẻ, loại bỏ định kiến của họ đối với người khác
và nỗ lực hướng tới việc thay đổi thái độ và hành động
Việc tuân thủ nguyên tắc này không dẫn đến việc đồng nhất các thành viên vàphủ nhận những phẩm chất đặc biệt của riêng họ Các thành viên trong nhóm đượcphát huy khả năng trình bày và có quyền tự hào về sự tham gia và đóng góp củamình Bên cạnh đó, họ cũng phải thừa nhận tầm quan trọng và chất lượng đóng gópcủa các thành viên khác mà không so sánh với của họ hoặc của người khác và tựnhận ra lỗ hổng kiến thức của bản thân liên quan đến chuyên môn và nguồn lực đặcbiệt của người khác
Vai trò của người thực hành
Người thực hành nhấn mạnh giá trị của mỗi thành viên đối với cuộc sống vàquá trình hoạt động của nhóm Sự đóng góp của mỗi thành viên đặt ra định hướngcho quy trình và kinh nghiệm của nhóm Vì mỗi thành viên có sự khác biệt về vănhóa và tâm lý nên người thực hành thường xuyên đặt câu hỏi về thái độ, nhận thức
và hành động với tiêu chuẩn này bằng cách can thiệp tích cực vào quy trình củanhóm
Một trong những lỗi cơ bản nhất của những người thực hành nhóm là quantâm quá mức đến cảm xúc cá nhân, thay vì việc thăm dò cảm xúc và ý kiến của từngthành viên khác trong nhóm Để làm được điều đó, trước tiên họ nên khuyến khíchcác thành viên xem xét lại công sức và nỗ lực vào quá trình nhóm bằng cách ghinhận tầm quan trọng của các quan điểm và đóng góp khác nhau Người thực hànhnên khuyến khích thảo luận về kiến thức chuyên môn đặc biệt, điều khiển cảm xúc
và tăng tương tác của nhóm
Giá trị 2: Mọi người đều có trách nhiệm với nhau
Trang 24Vì sự phụ thuộc lẫn nhau trong xã hội được xem như là đặc điểm tự nhiên vàcần thiết của con người Mọi người có thể chịu trách nhiệm chăm sóc và hỗ trợ lẫnnhau trong một môi trường hợp tác Nhưng họ cũng có thể cạnh tranh, lợi dụng và
bỏ qua nhau, do đó phát triển các mối quan hệ thực dụng dựa trên lợi ích cá nhânhoặc nhóm là quan tâm, chia sẻ
Nguyên tắc 1: Các thành viên tương tác thông qua sự quan tâm và hỗ trợ lẫn
nhau thay vì quan hệ lợi dụng
Việc các thành viên cố gắng kiểm soát người khác hoặc quay lưng lại với họvới thái độ ích kỷ, chẳng hạn như “Bạn làm việc của bạn và tôi sẽ làm việc của tôi”cho thấy sự trốn tránh trách nhiệm xã hội Với tư cách là thành viên nhóm, hãy quantâm đến người khác xảy ra khi các thành viên khác chịu đựng nỗi đau, sự khó chịu,
sự hài lòng, mối quan tâm và nỗi sợ hãi của nhau Quan tâm có nghĩa là các thànhviên không sử dụng những gì họ học được về nhau để khai thác lẫn nhau Chuẩnmực này được thể hiện thông qua việc chia sẻ khả năng tình cảm và thực tế với cảnhóm, thay vì giữ lại hoặc tích trữ cho bản thân hoặc một nhóm con
Vai trò người thực hành
Người thực hành có thể giúp nhóm thiết lập các mối quan hệ tích cực nhưtrình bày rõ ràng quan điểm về việc chia sẻ, giúp đỡ và học hỏi lẫn nhau Các thànhviên được khuyến khích phát triển tính tương hỗ để khám phá tầm nhìn của họ vềcách họ muốn tham gia vào nhóm Người thực hành khuyến khích sự quan tâm vàkết nối, đồng thời khẳng định tầm quan trọng của những đóng góp và sự phụ thuộclẫn nhau của mỗi thành viên trong khi nâng cao trách nhiệm tập thể và thúc đẩyquan hệ hòa thuận
Nguyên tắc 2: Chuẩn mực dành cho việc xây dựng mối quan hệ hợp tác thay
vì mối quan hệ cạnh tranh trong nhóm
Trang 25Các nghiên cứu kinh điển về hợp tác cho thấy rằng quan hệ hợp tác giữa cácthành viên thúc đẩy sự sáng tạo của họ trong việc hoàn thành nhiệm vụ và nâng cao
12 ý thức về lòng tự trọng của họ (Deutsch, 1968; Sherif, 1965a) Ngược lại, cácmối quan hệ nhóm có tính cạnh tranh cao gây ra tinh thần một người và thái độ vượttrội, động lực nhóm có tác dụng chống lại lẫn nhau Trong các tình huống cạnhtranh, các thành viên giữ kiến thức và khả năng của nhau vì sợ bị vượt qua Tínhcạnh tranh trong cuộc sống nhóm thể hiện qua các hành vi như thiếu chú ý, bận tâmđến tầm quan trọng và quyền lực của bản thân, làm gián đoạn và phớt lờ ngườikhác Nỗ lực hợp tác được thể hiện khi các thành viên lắng nghe và bao gồm
ý tưởng của người khác để xây dựng kinh nghiệm của riêng họ, cũng như học hỏi những cách hành xử mới và khác biệt
Vai trò người thực hành
Khả năng của việc chỉ ra thời điểm và cách thức các thành viên bất hợp tác sẽ
dễ dàng giải quyết được vấn đề, giúp họ cộng hưởng với nhau hơn là chống lạinhau Các thành viên được giúp đỡ trong việc nhận biết khi nào họ bị gián đoạn,tham gia nhiều hơn vào cuộc trò chuyện, lắng nghe, và giúp xây dựng kỹ năng lắngnghe Từ đó, thành viên sẽ mở lòng, giúp đỡ để chia sẻ tài nguyên và khả năng củabản thân Hiệu quả làm việc nhóm sẽ tốt khi khuyến khích các thành viên học hỏilẫn nhau Khi các thành viên căng thẳng hoặc phòng thủ, họ thường tạo thành cácnhóm con Người thực hành chỉ ra rằng bằng cách hợp tác, nhu cầu của mọi người
Trang 26coi là khác biệt Họ cũng có thể loại trừ những người có hành vi chống đối trongnhóm, thay vì tìm cách thay đổi tình hình.
Nguyên tắc 1: Trong một nhóm nhân văn, hòa nhập chứ không phải loại trừ
Trong khi tất cả các nhóm sẽ thiết lập ranh giới ràng buộc các thành viên vớinhau, phần nào tạm đóng lại quan hệ với nhóm khác Người thực hành ngay từ đầu
đã thiết lập giá trị, tư tưởng và xác định các phương hướng và mong muốn tìm nhiềuđồng đội cùng nhau thực hiện nhiệm vụ Thực tế này phản ánh tinh thần cởi mở vàmong muốn được tham gia với nhiều kiểu người khác nhau
Vai trò người thực hành
Khi các thành viên cảm thấy không an toàn, họ có xu hướng thiết lập các tiêuchí thành viên Những tiêu chí này khiến một số thành viên cảm thấy rằng tư cáchthành viên trong nhóm, họ không đáp ứng được tiêu chí và không xứng đáng, vàmột số khác cảm thấy bị loại khỏi tư cách thành viên Mọi người cảm thấy họ đang
bị dán nhãn là “người ngoài cuộc” Người thành viên đặt ra một giai điệu truyềncảm hứng cho các thành viên tự tin vào khả năng của họ để cộng tác thực hiện cácmục tiêu và mục tiêu của họ Thành viên khơi dậy nỗi sợ hãi của các thành viên vềviệc bao gồm những người mà họ có thể không dễ dàng có được mối quan hệ bằngcách nói rằng cần có những thành viên có tính cách, quan điểm và kinh nghiệm khácnhau Thành viên nhấn mạnh rằng đóng góp của mỗi thành viên sẽ trở thành mộtphần của kinh nghiệm và kết quả của nhóm Người thực hành cung cấp quan điểm
và sự tự tin về tiềm năng của nhóm để bao gồm những người khác trong nhóm
Nguyên tắc 2: Một nhóm nhân văn phát triển các điều kiện để xem xét các
thành viên tiềm năng
Các tiêu chí để thành lập các nhóm mới không được chỉ dựa trên sắc tộc,chủng tộc, giai cấp hoặc khuôn mẫu để loại trừ những người khác Mặt khác, các
Trang 27nhóm đã được phát triển dựa trên sự khác biệt về chủng tộc, dân tộc, tôn giáo vàgiới tính để giải quyết các vấn đề của các nhóm dân cư này Điều quan trọng đối vớicác thành viên với nhóm là giúp các thành viên tự giải quyết các vấn đề của bảnthân để hòa nhập hoặc vượt qua định kiến của những người khác Ngoài ra, có khảnăng tạo ra các cuộc đối thoại ngoài nhóm để thúc đẩy mối quan hệ giữa các nhómđược cải thiện.
Các tiêu chí quản lý việc đưa các thành viên mới vào một nhóm hiện có phảiđược công bố rõ ràng và dựa trên sở thích, khả năng và tiềm năng để nhóm đạt đượcmục tiêu chung Tiêu chí để hòa nhập không dựa trên dân tộc, chủng tộc, giai cấphoặc các hình thức định kiến và kỳ thị khác để tạo ra rào cản giữa mọi người Tưcách thành viên nên được xem xét trong các cuộc thảo luận thực sự cởi mở vàkhông gây khó khăn
Vai trò người thực hành
Điều quan trọng là giúp các thành viên xem xét các ý kiến và cảm nhận khácnhau liên quan đến việc mở rộng tư cách thành viên cho những người khác Ngườithực hành giúp các thành viên xác định các tiêu chí, xác định các thủ tục và xem xétthái độ và cảm xúc Việc tập trung vào nhu cầu của các thành viên là loại trừ một sốngười vì định kiến hoặc cảm thấy rằng người đó “quá khó tính” hoặc “không phùhợp” Người thực hành, trước hết, phải xem xét những cảm xúc và phản ứng củachính bản thân họ trước khi giúp các thành viên giải quyết những vấn đề này
Nguyên tắc 3: Một nhóm nhân văn phát triển các cách thức cho phép và duy
trì tư cách cho các thành viên có thể vi phạm nhóm
Việc chấp nhận quyền thuộc về của người khác là điều cơ bản tạo nên sứcmạnh và kết cấu của một nhóm nhân văn Trong đó, các thành viên không được vộivàng hoặc phán xét, loại trừ thành viên xúc phạm họ, gây lo lắng hoặc đưa nhóm
Trang 28đến sự chú ý giận dữ của người khác Các thành viên có thể thấy mình bị thách thứcbởi một người luôn khó khăn hoặc một loại khó khăn cụ thể gợi lên sự khó chịu của
họ Trong hoàn cảnh này, các nhóm phát triển vị trí rằng nhóm sẽ tốt hơn nếu ngườikhó khăn không phải là thành viên trong nhóm, đây là một lập trường cần loại trừ
Việc chịu trách nhiệm bao gồm các thành viên khó khăn thừa nhận rằng tất cảcác thành viên có thể thu được lợi ích từ việc giải quyết các vấn đề có ý nghĩa Đấutranh với một thành viên khó khăn sẽ củng cố tất cả khả năng của các thành viên đểđối phó với một loạt các khó khăn giữa các cá nhân trong cuộc sống của họ
Vai trò người thực hành
Người thực hành giúp nhóm tìm ra các khả năng và phương tiện khác nhau đểtương tác với một thành viên đang gặp khó khăn bất thường Trong quá trình này,người thực hành phải cân nhắc mong muốn của mình để loại trừ người đó Từ góc
độ này, người thực hành phải thực hiện một nỗ lực lớn, giúp đỡ cả thành viên khókhăn và những người còn lại trong nhóm Việc giúp đỡ thành viên “có vấn đề” thoátnhanh chóng khỏi thực trạng có thể giúp bạn nhẹ nhõm Nếu cảm giác xung độtkhông được giải quyết, chúng sẽ cản trở công việc trong tương lai của nhóm
Nguyên tắc 4: Nguyên tắc hướng dẫn sử dụng việc loại trừ khỏi nhóm như
một công cụ chữa bệnh
Mối đe dọa loại trừ một người khỏi nhóm vốn là môi trường hữu ích có thểđược sử dụng để thay đổi hành vi chống đối xã hội hoặc rối loạn chức năng của mộtthành viên Một thành viên tiếp tục đi lệch khỏi các chuẩn mực của nhóm có thể bịloại trừ một cách hợp lý trừ khi người đó thay đổi phong cách tương tác của mình.Tuy nhiên, không nên vi phạm nguyên tắc về thủ tục hợp pháp Các thủ tục cảnhbáo cần được thiết lập và thể hiện Hành vi của thành viên cần được đối chiếu
Trang 29trong mối quan hệ với những ảnh hưởng của nó đối với những người khác Hành vicủa người đó nên được so sánh với các giá trị và chuẩn mực của nhóm Nếu người
đó không thể tiếp tục tham gia nhóm, thì các giải pháp thay thế hữu ích khác phảiđược phát triển
Vai trò người thực hành
Một nhóm có thể chuyển sang loại trừ một thành viên khỏi nhóm nếu người
đó không thay đổi các cách tương tác phá hoại Người thực hành có rất nhiều quyềnlực và nghĩa vụ nghề nghiệp cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển của tình huống này.Thành viên nhóm phải thể hiện sự đồng cảm, kỹ năng và thời gian để giúp tất cả cácthành viên sử dụng lời hứa loại trừ và các tương tác dẫn đến kết quả Người thựchành có nghĩa vụ bảo vệ quy trình hợp lệ của thành viên Điều này được thực hiệnbằng cách kéo tất cả các thành viên trong nhóm cùng với thành viên khó tính đàmphán và thăm dò (bằng cách trực tiếp làm trung gian), giải thích nhu cầu và cảm xúc,đồng thời chỉ ra tác động của các loại tương tác hữu ích và không hữu ích Đây làmột chuỗi các sự kiện mang tính cảm xúc với việc người thành viên duy trì một kếtnối tình cảm tích cực và mãnh liệt với tất cả các thành viên trong nhóm
Giá trị 4: Con người có tiếng nói tình cảm và trí tuệ, có quyền tham gia và được lắng nghe
Cơ hội được lắng nghe bởi những người khác đảm bảo tiềm năng sử dụngnhóm như một bảng điều khiển để thử nghiệm và cơ hội đóng góp vào sự phát triểncủa những người khác Nếu không có cơ hội để có một vị trí và chỗ đứng tích cực
để thể hiện, các thành viên không nghĩ rằng ý tưởng và cảm xúc của họ sẽ có ýnghĩa đối với những người khác
Nguyên tắc: Một nhóm nhân văn phát triển các thủ tục cho phép mọi người
tham gia
Trang 30Sự tham gia vào cuộc sống nhóm không thể bình đẳng về mặt định lượng.Các thủ tục của nhóm cần bao gồm các cơ chế hạn chế sự tham gia của các thànhviên quá đáng hoặc hống hách Các chuẩn mực mơ hồ chi phối bản chất và mức độtham gia gây các câu hỏi và lo ngại Sự thiếu rõ ràng này tạo ra nguy cơ tạo ra cácchuẩn mực phi quân bình với những người tham gia nói nhiều tạo cảm giác thổiphồng về vai trò và sự đóng góp của họ Các thành viên cần học cách phản ứng tíchcực với những tín hiệu mà người khác muốn nói Họ cũng cần nhận ra rằng việc tạo
cơ hội tham gia là trách nhiệm của tập thể Điều rất quan trọng trong thời gian đầucủa nhóm là hỗ trợ xây dựng kinh nghiệm tập thể nhằm nhấn mạnh việc đánh giánhững đóng góp của mỗi thành viên Mỗi vấn đề riêng lẻ không nên trở thành tâmđiểm chú ý chi phối và độc quyền Nếu không có những nỗ lực hướng tới việc đápứng tất cả các nhu cầu và lợi ích của các thành viên, sự gắn kết sẽ chỉ là ảo tưởng.Không nên cho rằng các thành viên tự bộc lộ và quyết đoán cao sẽ trở nên hoànhtráng, nổi trội và tự hào về những đóng góp đặc biệt của họ
Vai trò người thực hành
Người thực hành cũng nhạy bén với nhu cầu của nhóm để tạo cơ hội cho từngthành viên tham gia Nhận biết các dấu hiệu mà một thành viên chưa thực hiện hoặckhông được phép, người thực hành khuyến khích thành viên đó bằng cách làm giánđoạn sự tương tác đang diễn ra của người đó Hãy lưu ý rằng người đó muốn nói,
mô hình hóa việc tạo ra không gian, sau đó hỏi thành viên đang nghĩ gì trong tâm trícủa họ Bằng cách này, thành viên giúp nhóm chịu trách nhiệm tập thể trong việctạo cơ hội cho mọi người Tất cả các thành viên thường cho rằng sự im lặng của họ
là do cảm giác rằng ý kiến của họ đã được người khác bày tỏ; họ cần biết rằng nhómmuốn nghe ý kiến của từng thành viên vì mỗi người là khác nhau và có những đónggóp hữu ích
Người thực hành khuyến khích mọi người tham gia tích cực nhất Nếu mộtnhóm gắn kết muốn xuất hiện, tất cả mọi người phải tham gia và không một thành
Trang 31viên nào được cho phép trải nghiệm của một thành viên lấn át quá trình của nhóm.Tại những thời điểm như vậy, người thực hành điều chỉnh sự thể hiện những điều tựtiết lộ của một cá nhân, khái quát chúng thành những mối quan tâm chung cho tất cảmọi người Điều này thúc đẩy sự tham gia và xây dựng nhóm.
Nếu không có nỗ lực chung nhằm đánh giá cao sự đóng góp của tất cả cácthành viên, sự gắn kết của nhóm sẽ trở nên ảo tưởng hơn là thực tế Sự gắn kết giảtạo kích thích nhóm tan rã vì các thành viên trở nên xa rời nhóm và xa nhau
Nhóm II: Quyền tự do
Các nguyên tắc liên quan cụ thể đến giá trị 5 (quyền tự do ngôn luận), giá trị
6 (tầm quan trọng của việc chấp nhận sự khác biệt để làm giàu), giá trị 7 (quyền tự
do lựa chọn) và giá trị 8 (quyền của các thành viên thách thức thẩm quyền củangười thực hành) sẽ được thảo luận ngay sau đây Vai trò của người thực hành trongviệc xây dựng các nguyên tắc này
Giá trị 5: Mọi người có quyền tự do ngôn luận và tự do bày tỏ quan điểm
cá nhân
Để hoạt động trong một môi trường tự do, mọi người phải cảm thấy rằng việcbày tỏ ý tưởng và cảm xúc được tất cả các thành viên hoan nghênh Làm việc nhómmột nơi thử nghiệm cho cảm xúc, ý tưởng và hành động của các thành viên, chứkhông phải là nơi chỉ ủng hộ một hệ tư tưởng hẹp hòi và loại trừ những người cóquan điểm và thái độ khác nhau
Nguyên tắc 1: Nhóm phát triển một hệ thống liên lạc tự do và cởi mở mà
không phụ thuộc vào một hệ tư tưởng hạn hẹp
Nhóm là nơi mà các thành viên nói chuyện một cách tự do và chân thực, nơi
họ đang lắng nghe nhau và có thể nói chuyện và được mọi thành viên khác trongnhóm lắng nghe là điều quan trọng để hỗ trợ và kích thích tinh thần con người Các
Trang 32biện pháp tích cực rất quan trọng, bao gồm sự công nhận và khen ngợi đối với việc thể hiện những ý tưởng và cảm xúc mới.
Vai trò người thực hành
Việc khuyến khích các thành viên nói thẳng suy nghĩ của họ với các thànhviên khác trong nhóm, do đó tạo ra một mạng lưới tham gia và giao tiếp rộng rãi vàlinh hoạt Và tích cực khuyến khích việc bày tỏ các ý kiến khác nhau và giúp cácthành viên thử nghiệm các ý tưởng và cảm xúc chưa được định hình
Nguyên tắc 2: Nhóm phát triển cách thể hiện cảm xúc cởi mở trong khi tự tiết
lộ tính cá nhân sớm
Trong các mối quan hệ mới, những tiết lộ về bản thân mang tính cá nhân caothường làm mất chức năng của thành viên và có thể dẫn đến thành viên và nhữngngười khác rời nhóm Các thành viên cần được thoải mái bày tỏ những cảm xúcquan trọng đồng thời nhận ra rằng những biểu hiện này cần được định hình theo bảnchất của nhóm ở những điểm khác nhau trong quá trình phát triển của nhóm Khi sựgắn kết bền chặt và năng lực giải quyết các vấn đề khó khăn tồn tại, những tiết lộ vềbản thân mang tính cá nhân cao là phù hợp và cần thiết để hoàn thành mục đích củanhóm Vào thời điểm khi các mối quan hệ và công việc của nhóm trở nên sâu sắchơn, các thành viên có thể thử nghiệm với việc chia sẻ ngày càng nhiều thông tin vàcảm xúc cá nhân có liên quan theo những cách không gây khó chịu và tìm kiếmphản ứng của người khác đối với chúng
Vai trò người thực hành
Người tập hỗ trợ trực tiếp cho việc thể hiện cảm xúc Tuy nhiên, khi quá trình
tự tiết lộ mang tính cá nhân cao xảy ra quá sớm, thành viên sẽ dễ chuyển những lờitiết lộ về bản thân thành chủ đề chung liên quan đến mục đích của nhóm Người đókhông thể để các thành viên khác trong nhóm chỉ tập trung chú ý vào những điều tựtiết lộ của mình
Trang 33Giá trị 6: Những người khác nhau tạo sự đa dạng cho nhau
Sự khác biệt mang đến nhiều cơ hội tương tác và học hỏi Sự run sợ mà mọingười trải qua khi đối mặt với sự khác biệt có thể liên quan đến sự lo lắng của họ vềxung đột, sợ lộ thành kiến và động cơ thầm kín của họ để kiểm soát hoặc khuất phụcngười khác
Sự khác biệt về kinh nghiệm, thái độ, văn hóa, khả năng thể chất, niềm tin tôngiáo và ngoại hình là bản chất của tình trạng con người, nhắc nhở mọi người vềnhững biến thể tồn tại và những cách khác nhau mà con người là duy nhất Trongmột nhóm nhân văn, quyền của các thành viên khác nhau được bảo vệ
Nguyên tắc: Chuẩn mực dành cho các thành viên thúc đẩy sự đa dạng của
nhau thay vì thúc đẩy sự phù hợp
Người ta biết rằng một người có thẩm quyền có thể gây áp lực buộc ngườikhác phải tuân theo những mong đợi mặc dù họ có những đánh giá tốt hơn(Milgram, 1963) Áp lực ngang hàng cũng có thể được áp dụng để đảm bảo sự phùhợp Điều này có thể gây ra sự phù hợp trong các tình huống xã hội ngay cả khi sựphù hợp đó mâu thuẫn trực tiếp với nhận thức và cảm xúc của họ (Asch, 1965)
Một nhóm không thể chấp nhận hoặc dung thứ cho một người - hoặc mộtnhóm nhỏ thể hiện sự khác biệt về ý tưởng, cảm xúc, niềm tin và nền tảng văn hóa,chủng tộc hoặc tôn giáo - thường bị chi phối bởi sự cứng nhắc và một bộ tiêu chuẩnhạn hẹp không cho phép những ý tưởng hoặc giải pháp mới xuất hiện hoặc cần đượckiểm tra (Shulman, 2006) Khả năng chịu đựng sự khác biệt, bảo vệ quyền và quytrình giải quyết của các thành viên khác nhau, và cho phép trở thành thành viên củamột người có nhận thức khác biệt, xuất phát từ việc tiếp xúc và trải nghiệm với sự
đa dạng và giá trị của nó đối với mọi người
Vai trò người thực hành
Trang 34Cách người thực hành giúp mang lại sự chấp nhận của nhóm về sự khác biệtmột phần được xác định bởi bởi sự khác biệt Họ có thể hỏi trực tiếp về sự khác biệt
về văn hóa, tín ngưỡng, dân tộc hoặc tôn giáo với không khí tò mò và hào hứng.Điều này cho thấy sự đánh giá cơ bản của họ về sự đa dạng
Một người thực hành có thể chấp nhận sự lệch lạc của một thành viên có thểgiúp nhóm phản ánh các phản ứng chấp nhận và từ chối của chính nhóm đó Bảo vệquyền của người khác là điều cốt yếu Hãy chỉ ra cho thành viên khi nhóm yêu cầuthành viên thay đổi, nhấn mạnh rằng thành viên được tự do suy nghĩ hoặc làm bất
cứ điều gì họ muốn miễn là tất cả đều an toàn Và việc chỉ ra cho nhóm rằng tráchnhiệm của họ là chấp nhận quyền khác biệt của mỗi người, ngay cả khi đa số khôngđồng ý
Học cách chấp nhận tất cả các loại khác biệt được hỗ trợ và mở rộng bởinhững tuyên bố rõ ràng của người thực hành thể hiện sự tôn trọng đối với đồngnghiệp của một người và không trừng phạt thành kiến và phân biệt đối xử Các ranhgiới xác định thành viên được mở rộng khi người thực hành mở rộng phạm vi, chophép bao gồm những người khác biệt nhất về văn hóa, chủng tộc, ý tưởng và phongcách tương tác
Giá trị 7: Quyền tự do lựa chọn của các cá nhân thành viên
Quyền lựa chọn tự do của mọi người phải được bảo vệ trong một môi trườngkhông mang tính ép buộc Nguyên tắc tự quyết đề cao và duy trì quyền của mọingười sử dụng khả năng của họ theo những cách quyết đoán để rèn luyện khi đốimặt với áp bức Các thành viên tham gia một nhóm để đáp ứng các nhu cầu trongmột môi trường hợp tác Trong nhóm nhân văn, quyền ra quyết định nằm trong taycủa cả nhóm - không phải người lãnh đạo hay một cán bộ nhỏ Để sức mạnh nàyđược phân phối, một số định mức phải được thực hiện
Trang 35Nguyên tắc 1: Chuẩn mực dành cho việc thúc đẩy sự phân chia quyền lực
bình đẳng trong nhóm
Vào những thời điểm khác nhau của một nhóm, đặc biệt là ở giai đoạn đầu,quyền lực xuất hiện như một vấn đề thiết yếu Nhu cầu quyền lực của một số cánhân dựa trên mong muốn kiểm soát hoặc thống trị người khác Những người khác
có thể khẳng định quyền lực khi họ có chuyên môn trong một lĩnh vực cụ thể Vẫncòn những người khác có thể cố gắng kiểm soát do niềm tin về quyền lợi của chính
họ Việc kiểm tra các nhu cầu của các thành viên đối với quyền lực đối với hành vicủa người khác thiết lập một cấu trúc nhóm mở (thay vì đóng) Xem xét kỹ lưỡngcác vấn đề quyền lực trong nhóm có thể giúp các thành viên khẳng định ảnh hưởngmột cách phù hợp hơn cũng như chấp nhận ảnh hưởng của người khác Các quytrình ra quyết định ngầm cần được kiểm tra Các thành viên học cách nhận ra rằng
sự lãnh đạo dựa trên chuyên môn cũng như mong muốn đảm nhiệm phải được chia
sẻ, linh hoạt và không cố định
Vai trò người thực hành
Người thực hành khuyến khích nhóm kiểm tra các quá trình ra quyết địnhngầm của mình để làm cho chúng trở nên rõ ràng Người đó yêu cầu nhóm phản ánhxem các thành viên nào có nhiều kiểu ảnh hưởng khác nhau Người thực hành bằngcách khuyến khích thực hiện các vai trò lãnh đạo và người theo dõi, giúp các thànhviên nhận ra rằng vai trò lãnh đạo không nhất thiết phải cố định, nhưng có thể thayđổi tùy theo các nguồn lực cần thiết trong tình huống
Nguyên tắc 2: Nhóm phát triển quy trình đưa ra quyết định minh bạch
Các nhóm làm việc dựa trên việc nắm vững các kỹ năng ra quyết định cầnthiết cho hoạt động dân chủ tối ưu Các thành viên học cách đưa ra quyết định cùngnhau Họ phát triển kỹ năng bao gồm suy nghĩ và cảm giác của các thành viên thuộcnhóm thiểu số (Lowy, 1973), do đó mở rộng khả năng đồng cảm với quan