Nhận thấy được tầm quan trọng của các trường phái, lý thuyết trong việcquản lý, nhóm 4 đã quyết định nghiên cứu chủ đề “ Taylor và tác động củaquản lý khoa học; Trường phái quản lý quan
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-*** -BÀI TẬP NGHIÊN CỨUMÔN XÃ HỘI HỌC LAO ĐỘNG
ĐỀ TÀI:
Taylor và tác động của quản lý khoa học;
Trường phía quản lý quan hệ con người, Hawthorne Effect
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 4Lớp tín chỉ: Xã hội học lao động (121)_03GVHD: ThS: ĐẶNG HỒNG SƠN
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN 1: LỜI MỞ ĐẦU 4
PHẦN 2: NỘI DUNG 5
1 Taylor và tác động của quản lý khoa học (Trường phái Taylor) 5
1.1 Tổng quan về Taylor và sự ra đời của Trường phái Taylor 5
1.1.1 Tổng quan về Taylor 5
1.1.2 Sự ra đời của trường phái Taylor 5
1.2 Nội dung của trường phái Taylor 6
1.3 Tác động của quản lý khoa học 9
1.3.1 Tích cực: 9
1.3.2 Hạn chế: 10
1.4 Tác động của quản lý khoa học đến hoạt động quản lý xã hội ở Việt Nam 11
1.4.1 Xây dựng mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý 11
1.4.2 Xây dựng nguyên tắc quản lý xã hội 12
1.4.3 Xây dựng phương pháp quản lý xã hội 12
1.4.4 Xây dựng môi trường lao động 13
2 Trường phái quản lý quan hệ con người; Hiệu ứng Hawthorn 13
2.1 Tổng quan về Trường phái Durkheim 13
2.1.1 Giới thiệu về ông Durkheim 14
2.1.2 Nội dung của trường phái Durkheim 14
2.2 Hiệu ứng Hawthorne 15
2.2.1 Lịch sử ra đời của hiệu ứng Hawthorne 15
2.2.2 Thí nghiệm 15
2.2.3 Ứng dụng hiệu ứng Hawthorne 16
2.2.4 Hạn chế của hiệu ứng Hawthorne 17
2.2.5 Ý nghĩa của hiệu ứng Hawthorne 17
2.3 Hiệu quả Pareto 17
2.3.1 Lịch sử ra đời hiệu quả Pareto 17
2.3.2 Tổng quan về hiệu quả Pareto 18
2.3.3 Quan điểm Pareto đối với Xã hội học lao động 18
2.3.4 Ứng dụng vào thực tiễn của hiệu quả Pareto 19
PHẦN 3: KẾT 21
Trang 3Danh sách thành viên tham gia bài nghiên cứu
1 Nguyễn Đăng Văn 11208445 1.1 Tổng quan về Taylor và sự ra
đời của Trường phái Taylor
2 Trịnh Thùy Trang 11208175 1.2 Nội dung của trường phái
Taylor
3 Ngô Thị Xuân Phương 11206580
1.3 Tác động của quản lý khoa học1.4 Tác động của quản lý khoa họcđến hoạt động quản lý xã hội ở ViệtNam
4 Trần Bảo Ngọc 11202879 2.1 Tổng quan về Trường phái
Durkheim
5 Trần Khánh Chi 11200627 2.2 Hiệu ứng Hawthorne
6 Nguyễn Thu Hoài 11201564
1.4 Tác động của quản lý khoa họcđến hoạt động quản lý xã hội ở ViệtNam
2.3 Hiệu quả Pareto
Trang 4PHẦN 1: LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, khi mà thời đại công nghệ hóa, hiện đại hóa phát triển thì cáchoạt động quản lý vẫn không thể thiếu trong hoạt động sản xuất Dù thời đại4.0 phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu, việc quản lý trở nên dễ dàng hơn nhờ sựgiúp đỡ của công nghệ nhưng chúng ta không thể phủ định tầm quan trọng củanó
Quản lý là một thuật ngữ đã xuất hiện từ xa xưa, từ khi con người biếtlao động theo nhóm đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp ăn ý bởihành động của các thành viên trong nhóm Karl Marx đã khẳng định rằng:
“Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung khi thực hiện trên một quy
mô tương đối lớn, ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý” Điều này chứng
tỏ, quản lý ra đời rất sớm và cho thấy được tính cấp thiết của nó trong lao động
Theo từng giai đoạn lịch sử, các lý thuyết trường phái ra đời nhằm phục
vụ mục đích quản lý Từ đó giúp cải thiện được lực lượng lao động, năng suấtlao động và giải quyết được các vấn đề trong sản xuất Nhờ sự phát triển khôngngừng, các trường phái đã được nghiên cứu thành công và áp dụng vào thực tế.Chính vì vậy, mới có hệ thống quản lý phát triển như hiện nay trên khắp cácquốc gia
Mặc dù, việc quản lý ngày nay dễ dàng hơn nhờ áp dụng công nghệnhưng chúng ta không thể quên đi những lý thuyết trường phái đã đặt nềnmóng cho sự phát triển và tồn tại của lĩnh vực quản lý trong sản xuất Trước hết,chúng ta có thể nhắc đến “thuyết quản lý khoa học” của ông F.W.Taylor đã mở
ra “kỷ nguyên vàng” trong quản lý Hơn nữa, một trường phái mang tên
“trường phái quản lý quan hệ con người” cũng có đóng góp không nhỏ cho sựhưng thịnh trong quản lý ngày nay
Nhận thấy được tầm quan trọng của các trường phái, lý thuyết trong việcquản lý, nhóm 4 đã quyết định nghiên cứu chủ đề “ Taylor và tác động củaquản lý khoa học; Trường phái quản lý quan hệ con người, Hiệu ứngHawthorne Effect” Từ đó, có thể hiểu rõ hơn và áp dụng các trường phái vàoquản lý giúp hiệu quả hơn trong công việc
Trang 5PHẦN 2: NỘI DUNG
1 Taylor và tác động của quản lý khoa học (Trường phái Taylor)
1.1 Tổng quan về Taylor và sự ra đời của Trường phái Taylor
1.1.1 Tổng quan về Taylor
Giới thiệu về ông Taylor
Frederick Winslow Taylor (1856-1915), là một kỹ sư và tư vấn quản lýngười Mỹ, người đưa ra những lý thuyết đầu tiên về quản lý theo phương phápkhoa học Ông phân tích quá trình vận động của công nhân, nghiên cứu quytrình lao động hợp lý để đạt được năng suất cao
Về gia đình
Taylor sinh ra trong gia đình quý tộc – một gia đình coi trọng các chuẩnmực và yêu cầu thành viên phải biết kìm nén cảm xúc cá nhân để ứng xử theocác chuẩn mực gia đình Thời trai trẻ, ông đã cố gắng ép sinh hoạt và công việccủa mình vào khuôn mẫu được tính toán một cách tỉ mỉ, chính xác
Về học vấn
Ông đã từng thi đỗ khoa luật của Đại học Harvard nhưng phải bỏ học vìthị lực kém Năm 1874, ông xin học nghề chế tạo mẫu và làm việc tại xí nghiệpHydraulic Works Tại đây, ông đã tìm kiếm phương pháp để tăng năng suất laođộng và cải thiện điều kiện sống của người lao động
Về sự nghiệp
Năm 1878, ông chuyển đến công tác tại công ty thép Midvale Do cónhững phát minh quan trọng (mâm cặp, máy nghiền tự động, máy tiếp dụng cụ,máy rèn, máy khoan và máy tiện) nên ông được chỉ định làm trưởng kíp, quảnđốc và cuối cùng là kỹ sư trưởng Trong thời gian này, ông học hàm thụ toán lýtại Đại học Harvard
Năm 1883, ông bảo vệ luận án tiến sĩ kỹ thuật chế tạo máy tại viện Kỹthuật Steven Hai năm sau, ông trở thành thành viên Hiệp hội kỹ sư cơ khí Mỹ
và sau đó là Chủ tịch hội
Năm 1898, ông chuyển sang công ty thép Bethlehem và thôi việc vàonăm 1901 để có thời gian truyền bá quản lý theo khoa học
1.1.2 Sự ra đời của trường phái Taylor
Khái niệm cơ bản của lý thuyết được xây dựng bởi Taylor trong nhữngthập niên 1880 và 1890, xuất bản lần đầu trong công trình “Shop Management”vào năm 1903 và “The Principles of Scientific Management” (1911) Khi đanglàm đốc công và thợ máy tiện ở Midvale Steel, Taylor nhận ra sự khác biệt bẩmsinh, hình thành bởi nhiều yếu tố như tài năng, trí thông minh, hay động lực,của các nhân công khác nhau thì khác nhau Ông là một trong những người tiênphong áp dụng khoa học vào tình huống này, thật vậy, hiểu lý do và phươngthức để có dung hòa những khác biệt giữa khả năng của nhân công, qua đó sắpxếp họ vào vị trí phù hợp, rồi nhân rộng sang những nhân công khác, bằng cáchtạo ra các tiêu chuẩn Ông cho rằng, kinh nghiệm truyền thống và quy tắc theokinh nghiệm nên được thay thế bằng cách khai thác chuỗi thao tác chính xác,với mục đích tăng năng suất lao động và giảm bớt những cố gắng của nhâncông
Trang 6Lý thuyết Quản lý theo khoa học dựa trên sự điều hành chặt chẽ đối vớinhân công của người quản lý Chính vì thế, phương pháp này yêu cầu nhiềuquản lý viên hơn so với các phương pháp cũ Sự khác biệt này phân biệt nhómnhững người quản lý dựa trên sự chi tiết trong công việc, khả năng xoay xở, vànhững người quản lý chỉ đơn thuần và gây ra sự xích mích giữa lao công vàquản lý, cũng như sự căng thẳng giữa các giai cấp xã hội, giữa giới lao độngchân tay và giới lao động trí óc.
1.2 Nội dung của trường phái Taylor
Ở trường phái Taylor (quản lý khoa học), F.W.Taylor chủ yếu quan tâmđến cải tạo quan hệ quản lý
Cải tạo quản lý là thay đổi quan hệ giữa người chủ và người thợ, chuyểnquan hệ giữa những người ra mệnh lệnh – những người nhận mệnh lệnh thànhquan hệ gần gũi hơn, hay thành quan hệ hợp tác Vì ông cổ xúy rằng tất cảchúng ta đều có chung mục tiêu là lợi ích
Trong quá trình Taylor tìm hiểu và phân tích quan hệ giữa giới chủ vàngười làm thuê, ông thấy rằng mâu thuẫn, xung đột giữa giới chủ và người làmthuê ngày càng trở nên trầm trọng Xung đột đó có nguồn gốc từ chính giới chủ
và những người làm thuê Người làm thuê xuất thân từ nông dân với tâm lý tùytiện khá nặng nề, ý thức kỷ luật lao động thấp Hơn nữa, do đời sống thấp kémnên thường trốn việc, đập phá máy móc Những hành động đó được ông minhhọa bằng cách tham chiếu đến khái niệm “soldiering” “Soldiering” theo cáchhiểu của Taylor là "bản năng tự nhiên và xu hướng dễ dãi của đàn ông" phảnánh cách những người lính nghĩa vụ thi hành các mệnh lệnh của cấp trên.Trong khi đó, giới chủ vốn quen với nề nếp quản lý theo kiểu gia đình trị, dựngnhiều bạo lực để thúc ép người lao động Quan hệ thù hận này tất yếu dẫn tớingười lao động thờ ơ với công việc và ông nhận thấy rằng, khi được trả cùngmột số tiền, người lao động sẽ có xu hướng làm số lượng công việc chậm nhấttrong khả năng có thể; năng suất lao động sụt giảm; lợi nhuận của chủ thể quản
lý giảm và làm cho tiền công của người lao động sụt giảm
Khi điều này kết hợp với lợi ích kinh tế và sự thất bại của các nhà quản
lý trong việc thiết kế, phân bổ và khen thưởng công việc trên cơ sở khoa học,
nó sẽ khiến nhân viên xích lại gần nhau và âm mưu giảm quy trình sản xuất
Họ làm điều này để tối đa hóa lợi ích của mình mà không muốn ban lãnh đạokhông đủ năng lực quay lại và thắt chặt tỷ lệ Đây là "sự bán đứng có hệ thống"
và là một tệ nạn không hiệu quả Tuy nhiên, nó không phải là một hiện tượngkhông thể tránh khỏi Nếu nhà quản lý quan tâm đến từng cá nhân và thỏa mãnlợi ích cá nhân của họ thì họ sẽ có được sự hợp tác đầy đủ
F.W.Taylor cho rằng nhiệm vụ của các nhà quản lý là xóa bỏ quan hệhận thù để ổn định sản xuất và qua đó nâng cao đời sống người lao động và lợinhuận của giới chủ Ông nói, quản lý theo khoa học trước hết là cuộc cáchmạng tinh thần vĩ đại nhằm cải thiện quan hệ hợp lý Hợp tác mật thiết và thânthiện giữa nhà quản lý và người lao động, được ông coi là một trong 4 nguyên
lý cơ bản của quản lý
Trang 7Để cải tạo quan hệ quản lý, trước hết phải tìm hiểu rõ nguyên nhân củamâu thuẫn, xung đột giữa giới chủ và người làm thuê Sở dĩ người lao động thờ
ơ với công việc, có hành động kiểu lính tráng là do họ bị buộc phải làm việcquá giờ, lương thấp Suy cho cùng, các cuộc bãi công biểu tình của họ chỉnhằm để đòi tăng lương, giảm giờ làm Mặt khác, giới chủ vì lợi nhuận củamình mà luôn đưa ra định mức lao động quá cao, buộc người lao động làm việcquá giờ
Từ những phân tích đó, Trường phái Taylor cho rằng con người là một
“động vật kinh tế” và do đó con người bị thúc đẩy trong việc tự tìm kiếm côngviệc nhằm có thu nhập và vì thế thụ động trong việc tuân thủ các phương pháp
mà nhà quản lý áp đặt lên họ Nhà quản lý áp dụng các tiêu chí kỹ thuật vốnchỉ dùng cho máy móc đối với người lao động, áp dụng nguyên tắc trả lươngdựa trên sản lượng đầu ra kết quả làm tăng năng suất và sản lượng, tạo lợi íchcho người sử dụng lao động và người lao động, loại bỏ các xung đột có thể cócũng như vai trò của công đoàn Vì vậy, muốn cải tạo quan hệ quản lý đó, cần
có sự hợp tác của hai bên
Quản lý theo phương pháp khoa học bao gồm những ý cơ bản sau:
1. Phân tích một cách khoa học tất cả các thao tác và thời gian cần thiết chomột vị trí công việc, trên cơ sở đó xây dựng định mức và chia nhỏ cácnhiệm vụ công việc nếu có thể
2. Tách biệt giữa việc lập kế hoạch công việc và quá trình thực hiện công việc
3. Giảm yêu cầu kỹ năng và thời gian học việc đến mức tối đa
4. Giảm thiểu thời gian chuẩn bị nguyên vật liệu hoặc công việc gián tiếp cóliên quan đến quá trình sản xuất trực tiếp
5. Thực hiện chế độ trả lương (tiền công) theo số lượng sản phẩm (hợp lệ vềchất lượng) và chế độ thưởng vượt định mức nhằm khuyến khích nỗ lựccủa người lao động
6. Phân chia công việc quản lý, phân biệt từng cấp quản lý Cấp cao tập trungvào chức năng hoạch định, tổ chức và phát triển kinh doanh, còn cấp dướilàm chức năng điều hành cụ thể Thực hiện sơ đồ tổ chức theo chức năng
và theo trực tuyến; tổ chức sản xuất theo dây chuyền liên tục
7. Thiết kế công việc: Lựa chọn công nhân thành thạo từng việc, thay chocông nhân “vạn năng” (biết nhiều việc song không thành thục) Các thaotác được tiêu chuẩn hóa cùng với các thiết bị, công cụ, vật liệu cũng đượctiêu chuẩn hóa và môi trường làm việc thuận lợi Mỗi công nhân được gắnchặt với một vị trí làm việc theo nguyên tắc chuyên môn hóa cao độ
Cụ thể:
Tiêu chuẩn hóa công việc
Đó là quá trình chia công việc ra từng bộ phận, vị trí khác nhau và giaomỗi bộ phận, mỗi vị trí đó cho một cá nhân phụ trách Phân chia công việc rathành những nhiệm vụ nhỏ và phân công cho những con người cụ thể là tưtưởng then chốt của quản lý theo khoa học
Trên cơ sở phân công lao động, F.W.Taylor đưa ra những tiêu chuẩn,định mức rõ ràng, cụ thể cho từng công việc của mỗi cá nhân
Công việc được chia nhỏ thành những công đoạn cụ thể, mang tính độclập giúp chúng ta dễ dàng xác định và đưa ra những định mức cũng như tiêu
Trang 8chuẩn cụ thể cho từng công đoạn Và đó cũng là một trong những điều kiệnkhách quan, thuận lợi để tránh được việc đưa ra định mức và tiêu chuẩn côngviệc tùy tiện, cảm tính.
Việc đưa ra định mức và tiêu chuẩn cụ thể vừa giúp người lao động biếttrước đích cần đạt được trong quá trình lao động, vừa giúp người quản lý đánhgiá được hiệu quả làm việc của người lao động Trên cơ sở đó có thông tinphản hồi để người lao động cố gắng và làm căn cứ trả công lao động cũng nhưthưởng, phạt đối với người lao động
Chuyên môn hóa lao động
Taylor ưa chuộng kiểu tổ chức sản xuất theo dây chuyền trong đó mỗicông nhân làm một số thao tác nhất định, vì theo ông chuyên môn hóa lao động
tỉ mỉ như vậy sẽ dẫn đến năng suất lao động cao
Chuyên môn hóa không phải là tư tưởng mới của F.W.Taylor Trước đó,chuyên môn hóa đã được Pie Đại đế ứng dụng vào trong việc tổ chức quân độiPhổ và Adam Smith ứng dụng trong phân xưởng dập kim Vào 1801, EliWhitney cũng đã mô tả và ứng dụng tư tưởng chuyên môn hoá vào trong dâychuyền lắp ráp súng.Tất cả những tư tưởng và thử nghiệm trên đó đượcF.W.Taylor tiếp thu thu để xây dựng học thuyết quản lý của mình
Về phía công nhân, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho họ cóchuyên môn để trở thành lao động chuyên nghiệp Trong cuốn quản lý phânxưởng, khi đánh giá thành công của hang Symond Rolling Machine nơi ápdụng phương pháp quản lý khoa học nên 35 cô gái đã làm công việc của 120 côgái Taylor nhận xét: Yếu tố có thể có ý nghĩa hơn tất cả các yếu tố khác là sựlựa chọn kỹ lưỡng các cô gái có khả năng nắm bắt nhanh để thay cho các cô gái
có nhận thức chậm Nhưng khả năng nắm bắt công việc của công nhân phải donhà quản lý có trách nhiệm hướng dẫn đào tạo họ
Trong việc quản lý công nhân Taylor nhấn mạnh đến phải tìm ra “ngườigiỏi nhất” Người thợ giỏi nhất chẳng những giúp cho nhà quản lý đề ra địnhmức hợp lý mà còn là tấm gương thúc đẩy những người thợ khác phấn đấu,nâng cao năng suất và thu nhập của họ”
Công cụ lao động thích hợp và môi trường lao động phù hợp
Theo ông, ngay cả những người lao động giỏi nhất cũng cần có công cụlao động thích hợp để nâng cao năng suất lao động, và đó là nghiệp vụ lao động
mà nhà quản lý phải tìm ra
F.W.Taylor cũng yêu cầu các nhà quản lý phải nghiên cứu để đưa racông cụ lao động tối ưu Tính tối ưu của công cụ được xác định bởi đối tượnglao động của từng công việc Năm 1881, F.W.Taylor đã nghiên cứu và thiết kếcác loại xẻng phù hợp để xúc các chất liệu khác nhau và điều đó cho phépngười công nhân có thể lao động suốt cả ngày Điều này cũng đã giúp xưởngthép Bethlehem giảm 360 công nhân xúc than mà công việc vẫn đảm bảo kếhoạch
Trên thực tế, F.W.Taylor là người có nhiều cải tiến, sáng kiến về công
cụ, phương tiện và máy móc trợ giúp lao động: mâm cặp, máy nghiền tự động,máy tiếp công cụ,.máy rèn, máy khoan,
F.W.Taylor tiến hành quan sát quá trình lao động của Schmidt – mộtcông nhân khuân vác Sau khi tối ưu hóa các thao tác và hướng dẫn để Schmidt
Trang 9thực hiện theo thao tác tối ưu, năng suất lao động của Schmidt tăng từ 12,5tấn/ngày lên 47,5/ngày Và tiền lương tăng từ 1,15 USD/ ngày lên 1,85USD/ngày.
Bên cạnh việc triển khai phương pháp làm việc khoa học, thiết lập mụctiêu năng suất lao động và hệ thống phần thưởng để đạt mục tiêu F.W.Tayloryêu cầu các nhà quản lý phải thường xuyên coi trọng việc trau dồi, huấn luyệnphương pháp làm việc cho người lao động
Taylor cũng nhấn mạnh tới tầm quan trọng của môi trường lao độngtrong các doanh nghiệp Trước hết là các môi trường xã hội bên trong các tổchức công nghiệp phải duy trì không khí hợp tác Người quản lý nên nóichuyện với người lao động, khuyến khích họ có thể nói ra tất cả, kể cả nhữngchuyện riêng
Mô hình thiết kế công việc về cơ bản tập trung vào việc giảm thời giansản xuất nhằm cắt giảm chi phí Tiêu chí thiết kế công việc bao gồm: chuyênmôn hoá kỹ năng, yêu cầu các kỹ năng tối thiểu, thời gian đào tạo tối thiểu, sốlần lặp lại thao tác tối đa, giới hạn số lượng nhiệm vụ trong một công việc và
sự thay đổi công việc
Từ những tư tưởng đó, đã mở ra cuộc cải cách về quản lý doanh nghiệp,tạo được bước tiến dài theo hướng quản lý một cách khoa học trong thế kỷ XXcùng với những thành tựu lớn trong ngành chế tạo máy
1.3 Tác động của quản lý khoa học
Như vậy thông qua nội dung của thuyết Taylor ta có thể thấy được ưuđiểm nổi bật của thuyết học này là ở sự phân công theo chức năng quản lý:
Ưu điểm lớn nhất đó là, trong một thời gian ngắn có thể tạo ra được mộtloạt nhân viên quản lý Họ có thể thực hiện nghiêm túc đầy đủ nhiệm vụ đượcgiao trong hình thức tổ chức kiểu cũ là theo kiểu quân đội Mỗi nhân viên quản
lý tại nơi làm việc đều phải đảm nhiệm toàn bộ công việc quản lý phức tạp, do
đó phải có sự hiểu biết nhiều về mặt kỹ thuật chuyên môn và có đủ các điều kiện
về trí lực phẩm chất Nhưng trên thực tế rất khó có thể kiếm được những ngườinhư vậy Nếu căn cứ vào chủng loại công việc khác nhau về mặt quản lý đểngười phân công cho từng người theo tài năng khác nhau của họ thì mỗi ngườichỉ cần có khả năng về một số mặt là có thể đảm nhiệm được công việc đó
Một ưu điểm khác đó là trong điều kiện toàn bộ phân xưởng đều sử dụngcông cụ, thiết bị và phương pháp sản xuất theo tiêu chuẩn quy định, do thực hiệnchế độ quản lý theo khoa học, người ta có thể quy định kế hoạch trước sản xuấtđưa ra những lệnh sản xuất chi tiết, do tổ trưởng tại nơi làm việc trực tiếp chỉ đạo
và giúp đỡ Vì vậy, cho dù công việc phức tạp, vẫn có thể thuê những công nhân
có mức lương thấp đảm nhiệm, giảm chi phí lao động trong giá thành sản phẩm
1.3.1 Tích cực:
- Với việc bố trí lao động một cách khoa học, hợp lý đã phát huy được sởtrường của người lao động, khiến họ có thể phát huy đầy đủ khả năng ở mức tốtnhất, nhằm đạt được những yêu cầu nâng cao năng suất lao động trên tổng thể,giảm bớt được các chi phí đào tạo và không có động tác thừa
Trang 10- Lựa chọn công nhân một cách khoa học, lựa chọn công nhân đã có taynghề, trình độ cho nên kỹ thuật, cường độ làm việc của họ sẽ cao, đảm bảo khốilượng công việc được hoàn thành.
- Thực hiện theo chế độ trả tiền lương theo sản phẩm đã khuyến khíchngười lao động làm việc hoàn thành định mức và vượt định mức Người lao độngsay mê làm việc hơn và đời sống của những người lao động được cải thiện đángkể
- Phân công lao động đều giữa người quản lý và công nhân để có thể xácđịnh được rõ nhiệm vụ của người quản lý và công nhân Đảm bảo mọi người đềuthực hiện công việc của mình một cách nghiêm túc, đầy đủ
- Sự phân công lao động này nếu trong điều kiện toàn bộ phân xưởng đều
sử dụng công cụ, thiết bị và phương pháp sản xuất theo tiêu chuẩn quy định, do
đó người ta có thể quy định trước kế hoạch sản xuất, đưa ra chỉ lệnh sản xuất chitiết đối với tất cả mọi công việc
- Sự phân công lao động theo chức năng quản lý làm tăng kỷ cương laođộng trong doanh nghiệp
- Việc xác định định mức thời gian sản xuất tối ưu, nghiên cứu động tác lànhằm tìm ra phương pháp thao tác tối ưu để đạt được định mức thời gian tối ưu
và thông qua việc nghiên cứu hai vấn đề này để đạt được hiệu quả sản xuất tối ưu.Tất cả những điểm này đã mở ra một cuộc cải cách về quản lý doanh nghiệp tạođược bước tiến dài theo hướng quản lý một cách khoa học trong thế kỷ XX
1.3.2 Hạn chế:
- Nói đến hình thức tổ chức quản lý đó là mâu thuẫn với nguyên tắc thốngnhất chỉ huy Trong điều kiện thực hiện chế độ quản lý theo khoa học này, mỗinhân viên quản lý đều có quyền ra lệnh cho công nhân trong phạm vi chức tráchcủa họ Điều đó có nghĩa là, mỗi công nhân không thông qua một người phụtrách chung để tiếp cận với bộ phận quản lý, mà hàng ngày phải nhận chỉ thị từ 8người quản lý hình thành tình trạng có nhiều chỉ huy, khiến cho công nhân khólòng thích ứng, dẫn đến sự rối loạn trong chỉ huy sản xuất, do đó về sau chế độquản lý này không được thực hiện phổ biến
- Trước hết, với định mức lao động thường rất cao đòi hỏi công nhân phảilàm việc cật lực mới có thể hoàn thành được định mức và vượt định mức
- Hơn nữa, người lao động bị gắn chặt với dây chuyền sản xuất tới mức họtrở thành những “công cụ biết nói”, vai trò của người lao động không được chú ýđến, dẫn tới những công việc trở nên đơn điệu Những động tác khác ngoài lợiích kinh tế đã không được quan tâm như: người lao động mệt mỏi về tâm sinh lý,coi tiền thưởng là hình phạt kỷ luật chứ không phải là động cơ mạnh mẽ thúc đẩyngười lao động làm việc
- Tính dân chủ, sự công bằng về cơ hội trong các xí nghiệp chưa đượcquan tâm Đây là hạn chế làm ảnh hưởng lớn nhất đến tâm lý người lao động vàlàm cho năng suất lao động giảm đi đáng kể vì mỗi cá nhân đều có cơ hội như tất
cả mọi người để phát huy hết năng lực, khả năng của mình ở mức cao nhất
Nhiều người đã chỉ thích Taylor về sự hiểu biết về cái chết của ông, vềbản chất con người Cách nhìn nhận của ông về con người máy móc, ông chorằng: “Con người lười biếng, trốn việc và thích làm việc kiểu người lính.” Ông
Trang 11không nhận thấy con người là một thực thể thống nhất giữa “cái sinh học” và
“cái xã hội” Động lực thúc đẩy họ hành động, phát triển là cả một hệ thống cácnhu cầu, trong đó nhu cầu kinh tế chỉ là một nhu cầu máy móc, chính nhu cầu đó
đã khiến ông không nhìn ra khả năng sáng tạo của người công nhân Ông viết:
“Cái tôi yêu cầu thợ là không được làm theo óc sáng kiến của bản thân mà phảibám sát đến cùng chi tiết nhỏ nhất của mệnh lệnh ban ra” Việc độc quyền sángkiến của nhà quản lý và coi thường mối liên hệ ngược từ công nhân với họ chỉ làmột hạn chế cơ bản của thuyết quản lý theo khoa học Mặt khác việc chia nhỏquá trình sản xuất ra từng công đoạn nhỏ để chuyên môn hóa không cho côngnhân được luân chuyển và tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất đã khiến họcảm thấy bị biến thành nô lệ của máy móc với những công việc quá đơn điệu vànhàm chán làm tổn hại đến sinh lý và thần kinh của họ
Tuy nhiên, không thể phủ nhận ảnh hưởng của Taylor đối với cuộc cáchmạng công nghiệp là rất lớn Trong đó có Việt Nam một đất nước đang phát triển,rất cần tới sự khởi xướng như vậy
1.4 Tác động của quản lý khoa học đến hoạt động quản lý xã hội ở ViệtNam
Tư tưởng quản lý theo khoa học của Taylor ra đời đã gây ra một tiếngvang lớn, nó không chỉ mở ra “kỷ nguyên vàng” của Mỹ lúc bấy giờ mà nó còn
có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nước khác và vẫn còn nguyên giá trị cho đếnngày hôm nay Đặc biệt là đối với Việt Nam hiện nay, khi xã hội ngày càngphức tạp, quản lý xã hội càng khó khăn thì việc thấy được những ảnh hưởngtích cực của tư tưởng quản lý khoa học Taylor và vận dụng một cách đúng đắn,khoa học vào điều kiện đất nước có ý nghĩa vô cùng to lớn
Những ảnh hưởng tích cực tư tưởng quản lý theo khoa học của Taylorđến hoạt động quản lý xã hội ở nước ta trên những phương diện sau:
1.4.1 Xây dựng mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý
Để xã hội vận hành, hoạt động quản lý đối với xã hội là đòi hỏi tất yếukhách quan, do đó: “Quản lý xã hội là sự tác động liên tục, có tổ chức, hướngđích của chủ thể quản lý lên xã hội và các khách thể của nó, nhằm phát triển xãhội theo quy luật khách quan và đặc trưng xã hội”
Chủ thể quản lý xã hội là hệ thống những người quản lý; cộng đồngngười có tổ chức, được giao cho các chức năng nhằm thực hiện các tác độngbằng quản lý Ở Việt Nam, chủ thể quản lý bao gồm: từng thành viên của xãhội, các cộng đồng nhỏ, các đoàn thể quần chúng, Đảng Cộng sản Việt Nam vàNhà nước XHCN Việt Nam Đối tượng quản lý là con người cùng với các hoạtđộng và các quan hệ của cộng đồng các con người trong xã hội
Giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý có mối liên hệ và tác độngqua lại chặt chẽ; đó là những mối liên hệ xuôi và ngược, mối liên hệ đó thểhiện sự thống nhất biện chứng của chủ thể và đối tượng quản lý Chính vì vậy,trong quản lý xã hội, khi tiến hành bất kì hoạt động nào, chúng ta cũng đềuphải chú ý đến việc xây dựng mối quan hệ gần gũi, hợp tác giữa chủ thể quản
lý và đối tượng bị quản lý Ví dụ như trong quản lý giáo dục: Quá trình giáo