Đây cũng chính là một trong những nội dung tư tưởng quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA: MARKETING
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ĐỀ BÀI: Phân tích câu nói của Hồ Chí Minh: “Giành được độc lập đã khó, nhưng
để giữ được độc lập còn khó hơn nhiều” Ý nghĩa của câu nói trên đối với việc bảo vệ nền độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ nước ta hiện nay.
HÀ NỘI – 2021
Trang 2MỤC LỤC
Lời mở đầu……… … ….tr.3 Phần 1: Phân tích câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vấn đề độc lập dân
tộc……… tr.4
1 Sơ lược về Hồ Chí Minh tr.4
2 Hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam – bối cảnh và chủ đề của câu nói tr.5
3 Ý nghĩa của câu nói tr.9
Phần 2: Ý nghĩa thực tiễn của câu nói trên trong vấn bảo vệ nền độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ nước ta hiện nay tr.11
1 Vấn đề bảo vệ nền độc lập dân tộc hiện nay tr.11
2 Hành động của sinh viên tr.12
Kết luận ……… ……… ……….tr.13 Tài liệu tham khảo tr.14
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một dân tộc có truyền thống yêu nước nồng nàn, có truyền thống đấu tranh kiên cường chống giặc ngoại xâm Trải qua mấy nghìn năm, đất nước ta sinh tồn cùng lịch sử vĩ đại của quá trình dựng nước và giữ nước Để làm nên độc lập, tự do cho dân tộc, máu của bao nhiêu người chiến sĩ đã đổ xuống Hoàng Sa, Trường Sa và mảnh đất hình chữ S này Chính vì vậy, chủ quyền của quốc gia, dân tộc là những gì thiêng liêng và cao quý nhất Đây là nhiệm vụ thiêng liêng mà cha ông ta đã không tiếc máu xương của mình để giữ gìn từ bao đời nay Và chúng ta có quyền tự hào về truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Bác Hồ đã có câu nói đúc kết bài học về kinh nghiệm chống giặc ngoại xâm và giữ nước từ lịch sử dân tộc: “Giành lại độc lập đã khó, giữ vững độc lập còn khó hơn” Xây dựng chính quyền đi đôi với bảo vệ chính quyền cách mạng là vấn đề cơ bản trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đây cũng chính là một trong những nội dung tư tưởng quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng Việt Nam Xuất phát từ tinh thần học hỏi tư tưởng Hồ Chí Minh, bài luận này sẽ đi sâu phân tích ý nghĩa câu nói thông qua bối cảnh và vấn đề xuất hiện để chứng minh tính đúng đắn, sau đó ứng dụng vào thực tiễn hiện tại về tình hình bảo vệ nền độc lập và chủ quyền đất nước, từ đó củng cố và rút ra bài học cho thế hệ thanh niên, sinh viên hiện nay về bổn phận với nền độc lập dân tộc
Trang 4PHẦN 1: PHÂN TÍCH CÂU NÓI: “GIÀNH ĐƯỢC ĐỘC LẬP ĐÃ KHÓ, NHƯNG
ĐỂ GIỮ ĐƯỢC ĐỘC LẬP CÒN KHÓ HƠN NHIỀU” CỦA HỒ CHÍ MINH.
1 Sơ lược về Hồ Chí Minh:
Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 và mất ngày 2/9/1969, là một nhà hoạt động cách mạng dân tộc, một chính khách nổi tiếng và vị lãnh tụ khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Người sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, lớn lên ở một nơi có truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thời niên thiếu và thanh niên của mình, Hồ Chí Minh đã chứng kiến nỗi khổ cực của đồng bào và những phong trào đấu tranh chống thực dân, người sớm có chí đuổi thực dân, giành độc lập cho đất nước, đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào.Với ý chí và quyết tâm đó, tháng 6/1911, Hồ Chí Minh đã rời Tổ quốc đi sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc
Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Hồ Chí Minh đã gửi tới Hội nghị Vécxây (Versailles) bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa Dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Luận cương của Lênin về vấn
đề dân tộc và thuộc địa, tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản), trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp Từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản, Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”
Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trực tiếp
mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cách mạng, ra tuần báo “Thanh niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, chuẩn
bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện được tập hợp in thành sách “Đường Kách mệnh” - một văn kiện lý luận quan trọng đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam Từ năm 1934 đến năm 1938, Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc thuộc địa tại Mátxcơva (Liên Xô) Kiên trì con đường đã xác định cho cách mạng Việt Nam, Người
Trang 5tiếp tục theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước Tháng 10/1938, Người rời Liên Xô sang Trung Quốc, bắt liên lạc với tổ chức Đảng chuẩn bị về nước
Ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc về nước sau hơn 30 năm xa Tổ quốc và từ đây bắt đầu trực tiếp tham gia mạnh mẽ vào quá trình cách mạng cùng dân tộc Người còn nắm các vị trí nguyên thủ quốc gia quan trọng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay từ những ngày đầu thành lập và cùng đất nước vượt qua những giai đoạn khó khăn nhất của việc giữ chính quyền độc lập non trẻ
Chủ tịch Hồ Chí Minh mất ngày 02/9/1969, tại Hà Nội Trước khi qua đời, Chủ tịch
Hồ Chí Minh để lại cho nhân dân Việt Nam bản Di chúc lịch sử, căn dặn những việc Đảng
và nhân dân Việt Nam phải làm để xây dựng đất nước sau chiến tranh Người viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”
2 Hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam – bối cảnh và chủ đề của câu nói:
Quá trình giành độc lập của Việt Nam là quá trình trường kì, gian khổ và đầy khó khăn, là công sức và sương máu của thế hệ cha anh đi trước
Xuyên suốt chiều dài lịch sử, nước ta đã trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, tiêu biểu nhất là các cuộc đô hộ từ phương Bắc từ rất sớm, những năm 207 trước Công nguyên, liên tiếp lặp lại trong hầu hết mọi thời đại phong kiến của nước Việt nhưng lần nào kẻ thù cũng thất bại Ý chí tự lực, tự cường được biểu hiện trong cuộc đấu tranh bền
bỉ và quyết liệt nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trước âm mưu đồng hoá của các triều đại phong kiến Trung Quốc đã cũng cố thêm tinh thần dân tộc và ý thức độc lập dân tộc của nhân dân ta Cho đến cuối thế kỷ 18, tại triều đại cuối cùng của nền quân chủ chuyên chế ở nước ta, khi đó bùng nổ cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh và nhanh chóng lan ra các nước phương Tây đã cải biến mọi mặt đời sống và vị thế của những nước này, đánh dấu sự ra đời của hình thái tư bản chủ nghĩa Các quốc gia này đã nhanh chóng trở thành những cường quốc hùng mạnh, và để thỏa mãn những tham vọng của mình, họ mở rộng thị trường bằng các cuộc chiến tranh khai phá thuộc địa Do sự nhu nhược và thiếu hiểu biết về thế giới bên ngoài mà triều đình nhà Nguyễn dần dần nhân
Trang 6nhượng quân xâm lược bằng việc cắt chia lãnh thổ và cuối cùng là trao quyền cai trị cho Pháp, trở thành bù nhìn tay sai cho thực dân Trong khoảng thời gian này, ngay từ những ngày đầu mặc dù bị kẻ thù đàn áp đẫm máu, nhưng nhiều phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân vẫn liên tiếp nổ ra
Nước đã mất, tên nước không còn trên bản đồ thế giới, lẫn vào địa danh “xứ Đông Dương thuộc Pháp” Tổ quốc bị chia thành ba miền với ba chế độ chính trị khác nhau để thực dân dễ bề cai trị Các cuộc khởi nghĩa, đấu tranh đòi độc lập, quyền tự chủ cho đất nước đều bị dìm trong bể máu Người dân một cổ hai tròng, sống đời nô lệ, đói rách lầm than, oằn lưng, tối mặt với sưu cao, thuế nặng, lao dịch, phu phen Đó là cuộc kháng Pháp của Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương , những cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học các phong trào Cần Vương, Đông Du Nhiều tướng lĩnh, lãnh tụ khởi nghĩa đã chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, hy sinh lẫm liệt trên chiến trường hay ngã xuống trong ngục tù, trên máy chém Đó là những phong trào đấu tranh, những cuộc khởi nghĩa xuất phát từ tinh thần yêu nước bất khuất, khát vọng cứu nước, cứu dân cháy bỏng Cho đến khi có sự thành lập của Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối cứu nước đúng đắn đi theo chủ nghĩa Mác – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong xác định lực lượng cách mạng và phương thức đấu tranh phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nước ta thời bấy giờ thì chúng ta mới có thành công, từng bước làm chủ chính quyền Chính hoàn cảnh lịch sử ấy đã khẳng định tầm vóc
vĩ đại, giá trị vô cùng to lớn của cuộc hồi sinh nền độc lập, tự do của dân tộc mà Cách mạng Tháng Tám đã mang lại Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đã trả lại cho nước Việt Nam nền tự do, độc lập mà dân tộc ta có quyền được hưởng, mở ra một thời kỳ mới - thời
kỳ “Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải
để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”, lập nên những chiến công vĩ đại, lừng lẫy năm châu Không chỉ đối với Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám còn mở ra thời cơ, điều kiện cho các nước láng giềng Lào, Cam-pu-chia đấu tranh giành lấy độc lập, tự do và khẳng định con đường phát triển tự chủ, tự cường cho dân tộc mình
Giành được đất nước từ tay Nhật, Pháp thì lại đến Mỹ có dã tâm muốn xâm chiếm nước ta Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đế quốc Mỹ đưa bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm, thay chân thực dân Pháp về miền Nam lập ra chính phủ tay sai, rồi chính thức xâm lược
Trang 7nước ta Dưới ngọn cờ của Đảng, nhân dân ta đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước bất khuất, đứng lên đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ và bè lũ tay sai Để duy trì chế độ Sài Gòn, Mỹ đã tăng cường viện trợ quân sự Đặc biệt kể từ giữa thập kỷ
1960 Mỹ đã gửi nửa triệu quân Mỹ và đồng minh đến miền Nam Việt Nam trực tiếp tham chiến, và từ 5/8/1964 bắt đầu ném bom miền Bắc Việt Nam Nhưng nhân dân Việt Nam, theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Không có gì quý hơn độc lập tự do", đã đứng vững và giành nhiều thắng lợi ở cả hai miền Nam và Bắc Năm 1973, Washington buộc phải ký Hiệp định Paris về lập lại hoà bình ở Việt Nam và rút toàn bộ quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam Mùa xuân năm 1975, trên tinh thần đại đoàn kết dân tộc và được sự đồng tình của nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý và tiến bộ trên thế giới, các lực lượng vũ trang yêu nước Việt Nam đã thực hiện cuộc tổng tiến công giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Đây là hai cuộc chiến tranh dài nhất nước ta phải trải qua kể từ thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc
Quá trình giữ được độc lập của nhà nước non trẻ đã gặp rất nhiều khó khăn chồng chất khó khăn
Sau thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam đã phải vượt qua những thử thách, khó khăn hơn rất nhiều để giữ vững chính quyền cách mạng và bảo vệ nền độc lập Tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” thể hiện rõ từ thực tế: nền độc lập của Việt Nam chưa được quốc tế công nhận giữa lúc có hơn 30 vạn quân của 4 nước đồng minh đang kéo vào, trong đó quân Pháp và quân Tưởng đều có âm mưu thủ tiêu chính quyền cách mạng Lực lượng Việt Minh chỉ có khoảng 8 vạn người với vũ khí thô sơ Một nửa
số bộ trong Chính phủ lâm thời nằm trong tay hai đảng đối lập do nước ngoài chi phối (Việt quốc, Việt cách) Ngân khố quốc gia cạn kiệt, hậu quả của nạn đói làm chết hơn hai triệu người năm 1945 chưa khắc phục xong, 90% dân mù chữ, năng suất nông nghiệp quá thấp (khoảng 12 tạ/ha) Nếu chỉ so sánh tương quan lực lượng vật chất thì chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực sự đứng trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn trong một thời gian ngắn
Mặt khác, trước tình thế hiểm nghèo, Việt Minh buộc phải nhượng bộ mềm dẻo nhưng khôn ngoan là: chấp nhận cho quân Pháp ra miền Bắc thay thế quân Tưởng, nhằm loại bỏ
Trang 8được một kẻ thù, nhưng đồng thời lại nêu khẩu hiệu “Hoa - Việt thân thiện” nhằm phân hóa kẻ thù Trong bối cảnh chính trị lúc đó, việc tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương đã che mắt được kẻ thù nhưng Đảng vẫn lãnh đạo cách mạng dưới danh nghĩa Việt Minh Sự hợp tác với các đảng đối lập trong Chính phủ lâm thời đã làm giảm mâu thuẫn nội bộ dân tộc Đối với thực dân Pháp, việc ký kết Hiệp định Sơ bộ (6-3) và Tạm ước (14-9) là sách lược kéo dài thời gian hòa hoãn để tranh thủ củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng chuẩn bị cho cuộc đấu tranh lâu dài Lòng tin và sự ủng hộ của nhân dân dành cho Việt Minh là yếu tố quyết định mọi thắng lợi: hàng triệu người đã xuống đường ở Hà Nội, Sài Gòn đánh đổ chế độ cũ và chào mừng chính quyền cách mạng Chỉ trong “Tuần lễ vàng”, các tầng lớp nhân dân đã quyên góp 370 kg vàng và 20 triệu đồng cho “Quỹ độc lập” và “Quỹ đảm phụ quốc phòng” Toàn dân đã tích cực hưởng ứng phong trào thi đua sản xuất “diệt giặc đói” và góp lương thực nuôi quân Đặc biệt là tinh thần phấn khởi tham gia phong trào bình dân học vụ - “diệt giặc dốt” và làm thay đổi hẳn nếp lạc hậu của thời thực dân, phong kiến Từ khắp các vùng nông thôn, thành thị, trai tráng hăng hái tham gia du kích, tự vệ và tòng quân vào các đơn vị vệ quốc đoàn, tăng nhanh quân số lực lượng vũ trang, đủ sức bảo vệ chính quyền cách mạng
Trước ngày 19-12-1946, quân Pháp ở Hà Nội đã ba lần gửi “tối hậu thư” cho chính phủ Hồ Chí Minh đòi giải giáp các lực lượng tự vệ của Việt Minh và nắm quyền kiểm soát toàn bộ thành phố Đó là giới hạn cuối cùng của sự nhượng bộ nên phía Việt Minh quyết định phát động cuộc kháng chiến Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông đàn bà không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc Ai có súng dùng súng Ai có gươm dùng gươm Không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước” Lời kêu gọi đó là mệnh lệnh chiến đấu đối với toàn dân Việt Nam, cũng là lời tuyên chiến với thực dân Pháp bằng ý chí quyết chiến của cả một dân tộc Quân và dân Việt Nam đã chấp nhận những hi sinh to lớn, làm suy yếu dần quân Pháp để cuối cùng giáng một đòn tiến công chiến lược quy mô lớn ở Điện
Trang 9Biên Phủ, buộc chúng phải ký kết hiệp định Genève năm 1954, giành lại độc lập cho một nửa đất nước
Sau Hiệp định Genève, quá trình bảo vệ nền độc lập và thống nhất của nhân dân Việt Nam bước sang một giai đoạn mới với những khó khăn, thử thách lớn hơn gấp bội vì phải đối phó với kẻ thù mới là đế quốc Mỹ có tiềm lực kinh tế, quân sự lớn nhất thế giới và có chiến lược thực dân kiểu mới thâm độc hơn rất nhiều
Ngày 2/7/1976, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được đổi tên thành nước Cộng hoà
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam với lãnh thổ bao gồm cả hai miền Nam và Bắc Sau nhiều năm chiến tranh kéo dài, đất nước bị tàn phá nặng nề Từ năm 1975 - 1986, Việt Nam phải đối phó với vô vàn khó khăn Những hậu quả và tệ nạn xã hội do chiến tranh để lại, dòng người tị nạn, chiến tranh ở biên giới Tây Nam chống diệt chủng Khme đỏ, chiến tranh ở biên giới phía Bắc, bao vây, cấm vận của Mỹ và các nước phương Tây, thêm vào đó thiên tai liên tiếp xảy ra đã đặt Việt Nam trước những thử thách khắc nghiệt
Mặc dù bị tác động sâu sắc do việc Liên Xô, Đông Âu tan rã, các thị trường truyền thống bị đảo lộn; tiếp tục bị bao vây cấm vận và phải đối phó với các âm mưu hoạt động gây mất ổn định chính trị và bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, Việt Nam đã từng bước khắc phục khó khăn, trở ngại, tiếp tục giành nhiều thắng lợi to lớn Từ năm
1991-1995 nhịp độ tăng bình quân hàng năm về tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 8,2 Lạm phát giảm từ mức 67,1% (1991) xuống còn 12,7% (1995) và 4,5% (1996) Đời sống vật chất của phần lớn nhân dân được cải thiện Trình độ dân trí, mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân được nâng lên Sự nghiệp giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ, các hoạt động văn hoá nghệ thuật thể dục thể thao, thông tin đại chúng, công tác kế hoạch hoá gia đình
và nhiều hoạt động xã hội khác có những mặt phát triển và tiến bộ Chính trị ổn định, độc lập chủ quyền và môi trường hoà bình của Việt Nam được giữ vững, quốc phòng an ninh được củng cố tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho công cuộc Đổi mới Hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở được củng cố, bộ máy nhà nước pháp quyền được tiếp tục xây dựng
và hoàn thiện Chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hoá và đa dạng hoá quan
hệ của Việt Nam đã đạt được những kết quả tốt đẹp
3 Ý nghĩa của câu nói của Hồ Chủ tịch
Trang 10Đúng như câu nói của Bác, giành lại độc lập quả thực đã rất khó rồi, trải qua muôn vàn giai đoạn lịch sử khi nhân ta phải đứng lên rồi lại đứng lên, cầm lấy vũ khí, bước ra chiến trường, hy sinh xương máu vì sự tự do cho chính họ và thế hệ mai sau Nhưng việc giữ vững độc lập, chủ quyền dân tộc còn khó khăn hơn nhiều, bởi thù trong giặc ngoài, bởi chính quyền, nhà nước non yếu Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề xây dựng chính quyền đi đôi với bảo vệ chính quyền là vấn đề có tính quy luật của cách mạng vô sản nói chung, của cách mạng vô sản ở Việt Nam nói riêng Bởi vì, mặc dù cách mạng đã thành công, chính quyền đã về tay nhân dân, nhưng nếu không chăm lo xây dựng chính quyền vững mạnh thì không thể quản lý, điều hành được đất nước Mặt khác, mặc dù đã giành được chính quyền, nhưng các thế lực thù địch, phản động cả bên trong và bên ngoài sẽ còn cấu kết với nhau để chống phá cách mạng Nếu không chăm lo bảo vệ chính quyền thì không thể giữ được thành quả cách mạng, không giữ được chính quyền vừa mới giành được Sau khi giành được chính quyền thì cách mạng phải biết tự bảo vệ trước những đòn tấn công, phản kích điên cuồng của kẻ thù Tuy nhiên, trong điều kiện chính quyền vừa mới xây dựng, còn non trẻ, muốn bảo vệ được chính quyền thì phải chăm lo xây dựng chính quyền vững mạnh về mọi mặt để đủ sức tự bảo vệ
Trong nhiều nhiệm vụ cần kíp đặt ra sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đặt lên hàng đầu nhiệm vụ củng cố chính quyền nhân dân, tạo cho chính quyền đó có đầy đủ các điều kiện về mặt pháp lý, tổ chức, lực lượng cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực, phương pháp, tác phong công tác để đảm nhiệm tốt việc điều hành đất nước
Bài học từ câu nói không chỉ ứng nghiệm từ Cách mạng tháng Tám đến nay mà còn trong suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam Chúng ta không nên chỉ ca ngợi những thắng lợi hiển hách của các cuộc đấu tranh giành lại độc lập, mà chúng ta phải
ca ngợi nhiều hơn những nỗ lực xây dựng chính quyền và bảo vệ nền độc lập ấy trong dài lâu Bởi lẽ, nếu chỉ ca ngợi các chiến thắng đánh bại các thế lực hùng mạnh của phương Bắc như: Tống, Nguyên, Minh, Thanh… thì sẽ coi nhẹ một thực tế quan trọng hơn là các triều đại phong kiến dù giành được độc lập bằng những chiến công rất hiển hách nhưng sau đó lại tha hóa nên lại để mất nước và lại phải tốn rất nhiều xương máu của các thế hệ sau mới giành lại được