MỤC LỤC MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 Phần 1 Lý luận chung về năng lực hành vi dân sự của cá nhân 1 1 Năng lực chủ thể 1 2 Các mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân 1 Phần 2 Thủ tục xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân 4 1 Thủ tục tuyên bố mất NLHVDS; có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; hạn chế NLHVDS 4 1 1 Một số quy định chung 4 1 2 Thủ tục tiến hành 6 1 2 1 Hồ sơ yêu cầu 6 1 2 2 Thủ tục nhận và xử lý đơn yêu cầu 7 1 2 3 Chuẩn bị xét đơn yêu cầu 7.
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
Phần 1 Lý luận chung về năng lực hành vi dân sự của cá nhân 1
1 Năng lực chủ thể 1
2 Các mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân 1
Phần 2 Thủ tục xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân 4
1 Thủ tục tuyên bố mất NLHVDS; có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; hạn chế NLHVDS 4
1.1 Một số quy định chung 4
1.2 Thủ tục tiến hành 6
1.2.1 Hồ sơ yêu cầu 6
1.2.2 Thủ tục nhận và xử lý đơn yêu cầu 7
1.2.3 Chuẩn bị xét đơn yêu cầu 7
1.2.4 Phiên họp xét đơn yêu cầu và ra quyết định 8
2 Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất NLHVDS, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, hạn chế NLHVDS 8
Phần 3 Thực tiễn việc xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân 9
1.Thuận lợi 9
2 Hạn chế 10
3 Một số giải pháp khắc phục những bất cập từ thực tiễn 11
KẾT LUẬN 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
PHỤ LỤC 14
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 3MỞ ĐẦU
Năng lực hành vi dân sự là vấn đề được khá nhiều người quan tâm Việc giải quyết yêu cầu liên quan đến vấn đề năng lực hành vi dân sự của cá nhân là thiết yếu Hiểu được tầm quan trọng của vấn đề nhóm chúng em xin được chọn đề số 01:
“Thủ tục xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân và thực tiễn áp dụng”
NỘI DUNG Phần 1 Lý luận chung về năng lực hành vi dân sự của cá nhân
1 Năng lực chủ thể
Năng lực chủ thể của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi có ý chí của mình nhằm xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự khi được pháp luật trao quyền hoặc phải gánh vác nghĩa vụ Năng lực chủ thể của cá nhân bao gồm: năng lực pháp luật dân sự (NLPHDS) và năng lực hành vi dân sự (NLHVDS), trong đó NLPLDS là tiền đề của NLHVDS, không có NLPLDS thì không thể có NLHVDS NLPLDS và NLHVDS là thuộc tính của cá nhân, tạo thành
tư cách chủ thể độc lập của cá nhân trong các quan hệ dân sự
Căn cứ khoản 1, điều 16, BLDS 2015: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.” NLPLDS của cá
nhân là khả năng, là tiền đề, điều kiện cần thiết để công dân có quyền, có nghĩa vụ;
là thành phần không thể thiếu được của cá nhân với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, là một mặt của năng lực chủ thể NLPLDS của cá nhân do Nhà nước quy định cho tất cả cá nhân, Nhà nước không cho phép công dân tự hạn chế NLPLDS của chính họ cũng như người khác, trừ trường hợp do pháp luật quy định NLPLDS của cá nhân có từ khi người đó ra đời và sẽ chấm dứt khi người đó chết
Căn cứ điều 19, BLDS 2015: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả
năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” NLHVDS của mỗi cá nhân không giống nhau Những cá nhân khác nhau về
hành vi và hậu quả của hành vi mà họ thực hiện NLHVDS còn bao hàm cả năng lực tự chịu trách nhiệm dân sự khi vi phạm nghĩa vụ
2 Các mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Việc nhận thức và làm chủ hành vi của cá nhân phụ thuộc vào ý chí và lý trí của
cá nhân đó Căn cứ vào khả năng của cá nhân về nhận thức và điều khiển được hành vi và hậu quả của hành vi, pháp luật phân biệt mức độ NLHVDS của cá nhân
Do đó, NLHVDS của một cá nhân được xác định theo độ tuổi; sự phát triển bình
Trang 4thường về thể chất, tinh thần và không thể thiếu khả năng nhận thức và điều khiển hành vi Các mức độ NLHVDS bao gồm:
* Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ:
Căn cứ khoản 2, điều 20 BLDS 2015: “Người thành niên có năng lực hành vi
dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này.”.
Pháp luật quy định độ tuổi tối thiểu mà không quy định độ tuổi tối đa Người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ tư cách chủ thể, toàn quyền tham gia vào quan hệ dân sự với tư cách chủ thể độc lập và tự chịu trách nhiệm về những hành vi do họ thực hiện và được suy đoán là có NLHVDS đầy đủ Họ chỉ bị mất hoặc hạn chế NLHVDS theo quyết định của Tòa án
* Người có năng lực hành vi dân sự một phần
Người có NLHVDS một phần (không đầy đủ) là người chỉ có thể xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm trong một giới hạn nhất định do pháp luật dân
sự quy định Căn cứ điều 21 BLDS 2015 quy định về người chưa thành niên:
“1 Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.
2 Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
3 Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục
vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
4 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.”
Như vậy, cá nhân từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi là những người có NLHVDS một phần Họ có thể bằng hành vi của mình tạo ra quyền và phải chịu những nghĩa vụ khi tham gia các giao dịch để thoả mãn những nhu cầu thiết yếu hàng ngày phù hợp với lứa tuổi Tuy pháp luật không quy định những giao dịch nào là giao dịch “phục
vụ nhu cầu thiết yếu hàng ngày” và “phù hợp với lứa tuổi” nhưng có thể hiểu đó là những giao dịch có giá trị nhỏ, phục vụ những nhu cầu học tập, vui chơi trong cuộc sống được người đại diện của họ cho phép thực hiện mà không cần sự đồng ý trực tiếp của người đại diện (mua dụng cụ học tập, ăn quà, vui chơi giải trí…)
Người đại diện có thể yêu cầu tuyên bố những giao dịch do người chưa thành niên thực hiện mà không có sự đồng ý của họ là vô hiệu và toà án xem xét để chấp nhận yêu cầu theo quy định tại Điều 130 BLDS Nếu những người đại diện không
Trang 5yêu cầu toà án xem xét tính hiệu lực của những giao dịch này thì những giao dịch
đó mặc nhiên được coi là có hiệu lực
Những người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch trong phạm vi tài sản riêng mà họ có và không cần sự đồng ý của người đại diện Trong trường hợp pháp luật có quy định về sự đồng ý của người đại diện thì áp dụng tương tự như trường hợp vị thành niên nói chung (như di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, việc định đoạt tài sản là nhà ở và đất đai…)
* Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Căn cứ theo điều 23 BLDS 2015 quy định:
“1 Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
2.Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.”
Một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi khi họ rơi và các trường hợp đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: người thành niên trong tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất NLHVDS; Có yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan; Có kết luận giám định pháp y tâm thần;
Có quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi của Tòa án có hiệu lực pháp luật
Mặc dù không phải là đối tượng mất NLHVDS, tuy nhiên cũng không giống với người có đầy đủ NLHVDS, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cũng gặp nhiều “hạn chế” trong việc thực hiện quyền của mình Vì vậy, trong BLDS 2015, đã ghi nhận thêm người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thuộc diện được giám hộ Thể hiện được tính bao quát các trường hợp người được giám hộ, góp phần bảo vệ tốt hơn các chủ thể là người yếu thế trong các giao dịch dân sự
* Người mất năng lực hành vi dân sự
Trang 6Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền yêu cầu, Tòa án tuyên bố người này là người mất NLHVDS trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần
Như vậy, mất NLHVDS là trường hợp một cá nhân đã từng có khả năng để xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, tuy nhiên, do những lý do khác nhau
mà NLHVDS không còn nữa Các lý do theo luật đưa ra cụ thể đó là “bị bệnh tâm thần” hoặc “mắc bệnh khác” Vì nguồn gốc của việc mất NLHVDS là do bị bệnh,
mà bệnh thì có thể chữa khỏi, cho nên có một số trường hợp người mất NLHVDS trở lại thành người có NLHVDS và ngược lại
*Người có năng lực hành vi dân sự bị hạn chế
Ngoài trường hợp cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự thì pháp luật còn quy định thêm về các trường hợp cá nhân bị hạn chế NLHVDS Căn cứ quy định tại
Điều 24 BLDS 2015:“Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn
đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.”
NLHVDS bị hạn chế chỉ những người đã từng có NLHVDS đầy đủ nhưng lại trong tình trạng “nghiện ma túy” hoặc “ nghiện các chất kích thích khác” dẫn đến phá tán tài sản của gia đình Trên thực tế ta nhận thấy việc họ phá tán tài sản của gia đình và xã hội là điều tất yếu Bởi vì một phần nhận thức của họ bị ảnh hưởng,
có những lúc không còn tỉnh táo để làm chủ hành vi của bản thân Cho nên quy định của pháp luật về việc hạn chế NLHVDS của những cá nhân này có ý nghĩa cũng như có tác dụng trong việc ngăn ngừa các tệ nạn xã hội
Phần 2 Thủ tục xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân
1 Thủ tục tuyên bố mất NLHVDS; có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; hạn chế NLHVDS
1.1 Một số quy định chung
* Đối tượng có quyền yêu cầu
Khoản 1 Điều 376 BLTTDS 2015 quy định đối tượng có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất NLHVDS hoặc bị hạn chế NLHVDS hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi bao gồm: người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan; Người thành niên không đủ khả năng nhận thức, làm chủ
Trang 7hành vi do tình trạng thể chất, tinh thần nhưng chưa đến mức mất NLHVDS có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố họ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Bởi lẽ, khi không thể nhận thức và điều khiển hành vi thì không thể tham gia các quan hệ pháp luật dân sự, không phải chịu trách nhiệm về những hành vi trái pháp luật gây ra Nếu tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự sẽ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình và các đối tượng liên quan
* Điều kiện yêu cầu
Đối với yêu cầu tuyên bố một người mất NLHVDS: Khi một người do bệnh tâm
thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi thì theo yêu cầu của chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất NLHVDS trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần
Đối với yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ
hành vi: Người thành niên do điều kiện thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả
năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất NLHVDS thì theo yêu cầu của người này, chủ thể có quyền yêu cầu khác, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ
Đối với yêu cầu tuyên bố một người hạn chế NLHVDS: Người nghiện ma túy,
nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này
là người bị hạn chế NLHVDS
* Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết yêu cầu
Thứ nhất, thẩm quyền theo loại việc thuộc về Tòa án Khoản 1 điều 27 BLTTDS
2015 quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết: “ Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ
quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.”
Thứ hai, thẩm quyền theo cấp thuộc về Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc Tòa án
nhân dân cấp Tỉnh trong từng trường hợp sau đây: Theo điểm a, khoản 2, điều 35 Tòa án nhân dân cấp huyện sẽ có thẩm quyền giải quyết Tuy nhiên theo khoản 3 điều này thì yêu cầu mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại
Trang 8khoản 4 Điều này Vậy trong trường hợp đó thẩm quyền xử lý sẽ thuộc về Tòa án
nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại điều 37 BLTTDS 2015
Thứ ba, thẩm quyền theo lãnh thổ, Điểm a khoản 2 điều 39: “Tòa án nơi người
bị yêu cầu cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết” Điểm a khoản 2 điều 40 quy định về thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu thì
“Tòa án nơi người yêu cầu cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi có tài sản của người bị yêu cầu giải quyết.”
* Tư cách đương sự:
Khoản 1 Điều 68 BLTTDS năm 2015 quy định: “Đương sự trong việc dân sự là
cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” Như vậy, đương sự trong việc dân sự là cơ quan,
tổ chức, cá nhân bao gồm: người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Người yêu cầu là người có yêu cầu tòa án công nhận hoặc không công nhận một
sự kiện pháp lý làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người tuy không yêu cầu giải quyết việc dân sự nhưng có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình đề nghị hoặc đương sự trong việc dân sự đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trường hợp giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào
đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự
1.2 Thủ tục tiến hành
1.2.1 Hồ sơ yêu cầu
Điều 362 BLTTDS 2015 quy định hồ sơ yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự bao gồm Đơn yêu cầu ( khoản 2) và Tài liệu, chứng cứ kèm theo ( khoản 3)
Đơn yêu cầu: Đơn yêu cầu phải có đủ nội dung tại khoản 2 Điều 362 BLTTDS
và theo mẫu số 92 Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP ban hành một số biểu mẫu trong
tố tụng dân sự của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ngày 13/01/2017
Tài liệu, chứng cứ kèm theo:
Trang 9Đối với yêu cầu tuyên bố mất NLHVDS hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi bao gồm: Kết luận của cơ quan chuyên môn như tổ chức giả định , cơ quan y tế; Chứng cứ khác: sổ bệnh án, xác nhận của người thân thích, láng giềng , UBND , tổ dân phố, cơ quan nơi làm việc…
Đối với yêu cầu tuyên bố hạn chế NLHVDS bao gồm: Chứng cứ chứng minh người đó nghiện ma túy hoặc chất kích thích khác; Chứng cứ khác: xét nghiệm của bệnh viện, xác nhận của UBND, trung tâm cai nghiện
1.2.2 Thủ tục nhận và xử lý đơn yêu cầu
Thủ tục nhận và xử lý đơn yêu cầu được quy định tại Điều 363 BLTTDS 2015 bao gồm các thủ tục sau:
Tòa án nhận đơn theo quy định tại khoản 1: bộ phận tiếp nhận đơn tiếp nhận và ghi vào sổ nhận đơn sau đó cấp giấy xác nhận hoặc thông báo cho người yêu cầu Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo thì Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn
Thẩm phán yêu cầu người yêu cầu sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu Thủ tục sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 193 của Bộ luật này Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà người yêu cầu không sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho họ theo quy định tại điều 364 Đơn yêu cầu sẽ được thụ lý khi: Nộp đơn đúng thẩm quyền, người yêu cầu có quyền yêu cầu và có NLHVTTDS, sự việc chưa được Tòa án hay cơ quan có thẩm quyền giải quyết, Đơn yêu cầu hợp lệ, Người yêu cầu nộp lệ phí sơ thẩm Theo
điều 365 BLTTDS: “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn yêu
cầu, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu.” Nội dung thông báo được quy định tại khoản 2
điều này
1.2.3 Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
Theo quy định tại điều 366 BLTTDS thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 01 tháng, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn, trừ trường có quy định khác Tòa án sẽ có thể trưng cầu giám định sức khoẻ, bệnh tật của người bị tuyên bố hạn chế NLHVDS hoặc giám định pháp y tâm thần với người bị yêu cầu tuyên bố mất NLHVDS
Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, theo khoản 2 Điều 366 BLTTDS năm
2015 thì Tòa án ra một trong các quyết định sau:
Trang 10- Quyết định mở phiên họp, tòa án phải gửi ngay quyết định mở phiên họp và hồ
sơ việc dân sự cho Viện kiểm sát cùng cấp để nghiên cứu Viện kiểm sát phải nghiên cứu trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ; hết thời hạn này,
sau đó mở phiên họp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp
- Quyết định tạm đình chỉ xét đơn yêu cầu: mặc dù pháp luật không có quy định
về tạm đình chỉ xét đơn yêu cầu tuy nhiên trong quá trình học tập và nghiên cứu thì
có thể thấy trong trường hợp người yêu cầu chết và chưa có người kế thừa để thực hiện quyền và nghĩa vụ của người yêu cầu thì Tòa án sẽ ra quyết định tạm đình chỉ xét đơn yêu cầu Đơn yêu cầu sẽ tiếp tục được xét khi có người kế thừa với vai trò
là người yêu cầu – đương sự để tham gia
1.2.4 Phiên họp xét đơn yêu cầu và ra quyết định
Căn cứ điều 378 BLTTDS, nội dung phiên họp là quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất NLHVDS; có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; hạn chế NLHVDS Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố một người mất NLHVDS, bị hạn chế NLHVDS hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Quyết định sẽ có đầy đủ các nội dung quy định tại khoản 1 điều 370 BLTTDS
2015 Trong quyết định tuyên bố một người bị hạn chế NLHVDS, Tòa án phải xác định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế NLHVDS và phạm vi đại diện Trong quyết định tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, Tòa án phải chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ Còn đối với tuyên bố một người mất NLHVDS thì BLDS quy định:
“Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện
theo pháp luật xác lập, thực hiện.”
Quyết định trên phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày
ra quyết định Việc gửi quyết định cho cơ quan thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân sự.Quyết định giải có hiệu lực pháp luật của Tòa án được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), trừ quyết định có
chứa thông tin quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này